Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

Thành Quả Nhân Quyền 20 Năm Bang Giao. Hey, shame, shame, Ted Osius!!!

Thành Quả Nhân Quyền 20 Năm Bang Giao.
Hey, shame, shame, Ted Osius!!!


Kính gửi quý cơ quan truyền thông bài viết về Việc Đại Sứ Ted Osius.
Xin tùy nghi sử dụng.

Lại Chuyện Ông Đại Sứ và Lá Cờ Vàng
 
Đỗ Văn Phúc
 
Sinh hoạt cộng đồng Việt Nam cuối tháng 7 và trong tháng 8 này sôi nổi hẳn lên với chuyện ông Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam và biểu tượng cờ Vàng của người Việt tị nạn Cộng Sản.
Dù quý vị đã biết qua ít nhiều, chúng tôi cũng thấy cần tóm lược các diễn biến như sau:
1.- Ngày 14 tháng 7, 2015, Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam là Ted Osius đến San Jose để tiếp xúc với cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Toà Thị Chính của thành phố. Buổi nói chuyện do văn phòng Dân Biểu Michael Honda phối hợp với Nghị Viên Esh Kalra tổ chức.
2.- Phòng hội theo yêu cầu của Bộ Ngoại Giao, không có trưng bày lá cờ VNCH như từng thấy mỗi lần có cuộc họp hay gặp gỡ của các viên chức Hoa Kỳ mà đối tượng chính là người Mỹ gốc Việt. Khi bước vào phòng hội, bà Đỗ Thị Minh Ngọc đã bị một nhân viên của Ban Tổ Chức yêu cầu tháo gỡ dây đeo cổ có in quốc kỳ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà.
3.- Một vài người tham dự đã phản đối bằng cách bỏ ra về khi mục kích sự việc này trong đó có Bác Sĩ Phạm Đức Vượng. Bà Minh Ngọc đã lên tiếng phản đối và chỉ được trả lại dây đeo cổ sau khi buổi hội kết thức. Sau đó bà đã viết thư cho Nghị viên Ash Kalra để phản đối.
4.- Tiến Sĩ Đỗ Hùng là người viết văn thư phản đối gửi đến bà Dân Biểu Zoe Lofgren. Sau đó, bà Zoe Lofgren cùng Dân biểu Michael Honda gửi văn thư đến Bộ Ngoại Giao để yêu cầu giải thích. Cùng lúc Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ cũng gửi văn thư phản đối đến Ngoại trưởng John Kerry và Đại sứ Ted Osius.
5.- Trong các thư của ông Osius và thư trả lời của Bộ Ngoại Giao đều xác nhận tôn trọng các biểu tượng của người Việt tị nạn, cũng như xác nhận quyền tự do bày tỏ (trong đó có sự trưng bày các biểu tượng) của người Mỹ gốc Việt là các công dân Hoa Kỳ. Nhưng có thòng thêm rằng vì nhiệm vụ ngoại giao, ông Đại sứ Ted Osius không muốn bị chụp hình chung với biểu tượng cờ Vàng của người Việt tị nạn.
6.- Trong lá thư của ông Edwin Tan, là Giám Đốc Văn Phòng của Dân Biểu Michael Honda thì giải thích rằng Ban Tổ chức phải tuân thủ yêu cầu của Bộ Ngoại Giao Mỹ và họ được Bộ Ngoại Giao cho biết ông Đại sứ không thể chụp ảnh với lá cờ vàng. “Thus, we had to abide by the requests of the U.S. State Department.  Our office was told by the State Department that the Ambassador could not be pictured with any symbol of the Vietnamese Freedom Flag.”  Vì sợ rằng có nhiều phóng viên, ký giả có thể bất ngờ chụp được ảnh ông Đại sứ vô tình đứng gần lá cờ vàng nào chưng trong phòng, nên tốt hơn hết, họ không cho trưng bày cờ. “Since there were numerous photographers present at the event, the Ambassador did not want to risk being accidently photographed with any representation of the Vietnamese Freedom Flag and potentially undermining his relationship with the Vietnamese   .  This was not because he did not respect it, but rather because of his role as a diplomat.” Và cũng trong các lời phát biểu cũng như văn thư qua lại, ông Đại sứ Ted Osius đã biểu lộ sự lo ngại sẽ mất việc nếu bị bất ngờ đứng chụp ảnh với lá cờ VNCH.
 
Qua các diễn biến trên, hôm nay, chúng tôi đã tạm có đủ dữ kiện để trình bày với quý vị các luận điểm sau:
 
1.- Quyền tự do ngôn luận (Freedom of Speech) hay còn gọi là Tự Do Diễn Đạt   (Freedom of Expression) được ghi trong các văn kiện của Liên Hiệp Quốc và Hiến Pháp Hoa Kỳ không chỉ giới hạn trong ngôn luận mà còn là sự biểu trưng qua bất cứ phương tiện nào. The term freedom of expression is sometimes used synonymously, but includes any act of seeking, receiving and imparting information or ideas, regardless of the medium used. Ngoài ra Tu Chính Án số 1 của Hiến Pháp Hoa Kỳ còn ngăn cấm bất cứ việc làm nào can thiệp và giới hạn các quyền tự do trên.
Do vậy, sự trưng bày các biểu tượng của người Mỹ gốc Việt là quyền căn bản, không cần phải chờ thư xác nhận của ông Đại Sứ hay Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Nếu là cơ sở của Bộ Ngoại Giao thì việc họ muốn trưng bày lá cờ Vàng hay không là quyền của họ. Nhưng sự việc xảy ra tại một cơ sở của Thành phố, là nơi từng công nhận và vinh danh lá cờ VNCH, thì sự can thiệp của Bộ Ngoại Giao hay của chính ông Đại Sứ để không cho treo cờ là sai trái vừa về mặt luật pháp, vừa về mặt đạo đức xã hội.
Lúc này, phủ đổ cho huyện, huyện đổ cho phủ. Bộ Ngoại Giao cũng như Ted Osius khăng khăng chối rằng họ không yêu cầu việc tháo bỏ cờ vàng. Trích thư của Osius gửi ông Đổ Văn Phúc, Chủ Tịch CĐNVQGHK ngày 31 tháng 7, 2015: “On no occasion, though, did he forbid anyone to display the flag or ask for all flags to be removed from the venues”. Vậy thì ai là thủ phạm chính? Chẳng lẽ bà Minh Ngọc, hay ông Edwin Tan dám vu khống cho một cơ quan đầy quyền uy là Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ?
 
Cũng thế, việc ông Đại sứ muốn đeo trên áo ông ta bất cứ biểu tượng gì vì đó là quyền phát biểu của ông ta. Nhưng khi ông ta đến gặp gỡ một thành phần mà đại đa số là nạn nhân Cộng Sản, thì việc ông mang cái phù hiệu có lá cờ đỏ của VC trên ve áo không khác gì ông đi tiếp xúc với người Do Thái mà đeo phù hiệu chữ Vạn của Đức Quốc Xã. Ông Đại sứ quên rằng ông đang đại diện cho một siêu cường tại một quốc gia từng đối nghịch và hiện cũng chưa là thân hữu. Có thân hữu chăng là thân hữu với kẻ phản chiến John Kerry. Ngoài ra, Việt Nam Cộng Sản đang ở tư thế cầu cạnh và Hoa Kỳ đang ở tư thế ban phát. Vậy thì ông Ted Osius không nên lo sợ bị CSVN phản đối đến mất việc vì đứng cạnh lá cờ một quốc gia VNCH từng là đồng minh chí thiết của Hoa Kỳ.
 
2.- Ông Đại sứ có ít nhất một lần lên tiếng rằng việc ông chụp ảnh với cờ VNCH có thể làm ông mất việc. Chúng tôi không rõ các vị Đại sứ tiền nhiệm có bị bãi chức vì họ từng đứng, ngồi, trong những phòng họp, công viên có cả rừng cờ vàng, và ngay phía sau lưng họ như là tấm phông chính? Chúng tôi không rõ là Bộ Ngoại Giao dưới quyền John Kerry có ác cảm với biểu tượng cờ vàng (tức là ác cảm với cộng đồng người Việt tị nạn như ông từng ác cảm với chính phủ quốc Gia trong thời chiến tranh) nên đã ra lệnh cho nhân viên của mình né tránh cờ vàng?
Chúng ta dư biết ngày nay, hành pháp Obama (là người chịu ảnh hưởng của nhiều nhà hoạt động thân Cộng, thiên tả) đang thi hành những đường lối ngoại giao mà đa số chính khách, dân biểu, nghị sĩ phản đối vì làm uy tín nước Mỹ bị tổn thương trầm trọng trên trường chính trị quốc tế. Mới đây, ông Obama đã coi thường lời cảnh báo của Thủ Tướng Do Thái - một đồng minh lâu đời, chí cốt - để cứ đàm phán và ký kết với Iran thoả hiệp với nhiều nhượng bộ; cũng như ông ta coi thường ý nguyện của hàng triệu dân Mỹ gốc Cuba khi mở lại bang giao với nước Cuba vẫn còn Cộng Sản và còn chửi Mỹ.
Chúng ta biết rằng dù mạnh đến đâu, thì cộng đồng người Mỹ gốc Việt cũng khó làm thay đổi một chính sách đối ngoại mà quyền lợi và quyền lực của Hoa Kỳ nằm ngoài tầm ảnh hưởng của chúng ta. Nhưng nhất định chúng ta phải nói cho hành pháp, lập pháp Hoa Kỳ biết rõ lập trường của chúng ta để ít nhất họ không khoe rằng họ đang làm những điều phục vụ cho cử tri Mỹ gốc Việt.
3.- Ngoài ra, sau khi những phản đối về hnàh vi của Đại sứ Ted Osius được phổ biến, chúng tôi đọc được nhiều emails cổ vũ, đồng thuận, đề nghị tiếp sức. Nhưng lại cũng có nhiều emails của vài vị mang tính chất tiêu cực, thậm chí chê bai, kết án. Có lý luận cho rằng mình là dân ăn nhờ ở đậu, lại dám cả gan đối phó với chính quyền Hoa Kỳ…Thậm chí có anh bạn của tôi là Tiến Sĩ có tiếng tăm cũng tự nhắc mình chỉ là thứ Mỹ giấy (vì được nhập tịch và ban cho tờ giấy quốc tịch!)
Tại sao chúng ta lại tự ti về tư cách của mình? Khi đã là công dân Mỹ, chúng ta có đầy đủ quyền lợi và quyền hạn như bất cứ anh Mỹ trắng, Mỹ đen hay Mỹ gốc Latin nào. Chẳng lẽ vì chúng ta mới có mặt ở Hoa Kỳ trong vòng chưa đầy nửa thế kỷ mà chúng tự cho mình lép vế trong những sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ. Trước khi trở thành những người Mỹ trắng (Caucasian), thì cha ông họ cũng từng là Mỹ giấy, Mỹ di dân, Mỹ tị nạn từ các nước Âu Châu. Họ chỉ hơn chúng ta là đã đến Mỹ lâu đời hơn thôi.
Cứ nhìn vào gia đình Cuomo mới đến Mỹ có 3 thế hệ thôi. Ông Thống Đốc hiện nay của New York, Tiểu Bang lớn và quan trọng nhất của Hoa Kỳ, là Andrew Cuomo, thân phụ của ông Mario Cuomo, cũng là Thống Đốc New York. Ông Mario Cuomo là con của một gia đình di dân từ Italy. Mới thế hệ thứ hai, người ta đã leo lên đến Thống Đốc. Người Việt thế hệ thứ nhất chưa làm nên thành tích gì ở quê hương mới. Nhưng thế hệ hai đã có những cấp tướng, cấp tá nổi danh, đã có Dân biểu Nghị sĩ Liên Bang, Tiểu Bang và rất nhiều Thị trưởng, Nghị viên…
Chúng ta đóng thuế, bầu cử, đóng góp tích cực trong xã hội Mỹ có phần vượt trội hơn vài sắc dân khác. Vậy chúng ta có quyền ngẩng đầu lên tự hào, và có quyền chính trị ngang bằng bất cứ người công dân Mỹ nào khác. Người Mỹ quan niệm rõ ràng là các viên chức chính quyền do họ bầu ra, đặt vào các chức vụ để phục vụ cho họ, nên họ không ngần ngại khi phê phán các nhân viên nhà nước. Người Mỹ Da đen và gốc Latin biết sự dụng các quyền này (có khi đi quá trớn), nhưng rõ ràng họ đã thành công khi làm cho chính quyền phải nhượng bộ trước những đòi hỏi (có khi bất hợp lý) của họ. Ngay cả tập thể dân Mỹ gốc Ả Rập Hồi Giáo - đặc biệt dân Somalia Phi Châu mới di dân đến Hoa Kỳ trong vài năm gần đây, tập trung sống hàng trăm ngàn người ở thành phố Minneapolis và St. Paul thuộc Tiểu bang Minnesota, là cái nôi truyền bá và tuyển mộ Jihadist chống Mỹ cực đoan - mà chính phủ Mỹ vẫn phải nhượng bộ từng bước. Đó là vì họ biết quyền hạn của công dân (ngay cả dân còn ở đậu) và biết hợp quần làm nên sức mạnh.
 
Vì thế, chúng ta, những người Mỹ gốc Việt tị nạn Cộng Sản, nhất định sẽ phải lên tiếng mạnh mẻ hơn, tích cực hơn để bảo vệ những gì mình trân quý, ấp ủ. Đó là lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ mà hơn 50 thành phố, tiểu bang đã thừa nhận và vinh danh. Xin nhắc lại là tại nhiều địa phương, người Việt tị nạn từng biểu tình, kiến nghị thành công trong việc hạ cờ đò, và giương cao cờ Vàng. Cuộc biểu tình ở thành phố Arlington, Texas quy tụ hơn 5000 người từ các thành phố của Tiểu Bang là một biến cố lớn trong sinh hoạt đấu tranh của chúng ta nhằm thực hiện quyền tự do bày tỏ.
Chúng tôi chỉ xin nhắc nhở đến các vị dân cử Mỹ nào thấy không tiện đứng chung vơí lá cờ vàng, thì như chúng tôi từng nói trong thư gửi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, không nên tìm đến với cộng đồng Việt tị nạn.
 
Đỗ Văn Phúc.

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Ngẫm nghĩ Cờ Vàng và Đại sứ Mỹ tại Việt Nam là Ted Osius

Cờ vàng do thế hệ 2 VNCH trong Quân Lực Hoa Kỳ 
 
 
Nguyễn Lộc Yên (Chinhluan) - Trong một tháng qua tôi nhận quá nhiều Email nói về “Cờ Vàng và Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam là Ted Osius”. Ngoài ra, tôi còn xem báo và lắng nghe một số đài truyền thanh, truyền hình đã đưa tin hay bình luận về vấn đề này. Tôi nghĩ vấn đề “Cờ Vàng và Đại Sứ Osius” sẽ đưa đến một trong hai tiền lệ cho “Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia” sau này:

1- Khi có các quan chức Hoa Kỳ tham dự trong các cuộc hội họp hay lễ hội của Cộng đồng Việt Nam tại nước Mỹ, thì “Cờ Vàng ba sọc đỏ” bị hạn chế trưng bày như trường hợp Đại sứ Osius đã hiện diện tại văn phòng Hội đồng Thành Phố ở tòa Thị chính thành phố San Jose ngày 14-7-2015.
2- Cờ Vàng là biểu tượng thiêng liêng của người Việt Quốc gia, dù các quan chức Hoa Kỳ là ai khi tham dự trong các cuộc hội họp với Cộng đồng Việt Nam tại nước Mỹ thì họ là khách tham dự cũng phải trân trọng lá Cờ Vàng mà chủ là “Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia” đã trưng bày. Cờ Vàng đã được chính quyền của nhiều thành phố và tiểu bang Hoa Kỳ công nhận là “Heritage and Freedom Flag” tức là "Lá Cờ Tự Do và Di Sản". Muốn được như vậy “Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia” phải làm gì? Và tưởng cũng nên nói rõ hơn về lá Cờ Vàng.

Cờ Vàng, gọi đầy đủ là “Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ”, lá cờ Cờ Vàng là biểu tượng thiêng liêng của hồn nước Việt, có lẽ hồn thiêng sông núi vấn vương nên Cờ Vàng đã xuất hiện qua dòng thời gian từ cổ chí kim; vì đấy là lá cờ mà tiền nhân ta đã dùng màu cờ vàng để làm biểu tượng cho tinh thần bất khuất của dân tộc. Lịch sử Cờ Vàng có từ thời Hai Bà Trưng chống giặc ngoại xâm, điều này rõ ràng đã minh chứng bằng bốn câu thơ trong “Đại Nam quốc sử diễn ca”:
“Đầu voi phất ngọn cờ vàng,
Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha
Chông gai một cuộc quan hà,
Dù khi chiến tử còn là hiển linh”. 
Lá Cờ Vàng đến thời nhà Nguyễn vào đời vua Thành Thái cho đến đời vua Khải Định, thời gian từ năm 1890 đến 1920, lá Cờ Vàng gọi là “Đại Nam Quốc Kỳ” lại được thiết kế lại một cách cẩn thận hơn, lấy nền vàng làm chủ đạo. Thời gian vào năm 1945 lá Cờ Vàng 3 sọc hình quẻ ly của chính phủ ông Trần Trọng Kim được sử dụng. Và vào thời vua Bảo Đại từ năm 1948 đến năm 1954 cũng dùng “Đại Nam Quốc Kỳ” giống y như lá “Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ” của thời Việt Nam Cộng Hoà đã dùng từ năm 1954 đến năm 1975.
Ý nghĩa cờ nền vàng và ba sọc đỏ: Màu vàng là màu quốc thổ và cũng là màu da của đồng bào Việt Nam. Theo người xưa, màu vàng còn thuộc về hành thổ và có vị trí trung ương, tượng trưng cho chủ quyền lãnh thổ của quốc gia. Màu đỏ thuộc hành hỏa là màu của phương Nam. Đây là biểu tượng của một dân tộc trung kiên hào hùng, gìn giữ cõi trời Nam, tách biệt hẳn với nước Tàu ở phương Bắc. Ba sọc đỏ còn tượng trưng cho ba miền: Bắc, Trung, và Nam, dù gọi là ba miền được biểu tượng bởi ba sọc đỏ, nhưng ba sọc đỏ có chung một giống nòi cùng một bào gọi là “Đồng Bào” chung sống trên một hoàng triều cương thổ “nền vàng” đấy là giang sơn Việt Nam, mà người Việt đời đời phải yêu quí nước Việt, thân thương giống nòi Lạc Hồng.
Hơn nữa, lá Cờ Vàng chính là biểu tượng của dân tộc Việt Nam chứ không phải của bất cứ đảng phái hay chính quyền nào. Lá Cờ Vàng có đầy đủ ý nghĩa thiêng liêng của hồn nước.
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ hiện nay là “Lá Cờ Việt Nam Tự Do”, tại hải ngoại, nhất là tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, “Cờ Vàng” đã được chính quyền của nhiều thành phố và tiểu bang Hoa Kỳ công nhận là "Lá Cờ Tự Do và Di Sản" mà tiếng Anh gọi là: “Heritage and Freedom Flag”, như là một biểu tượng thiêng liêng của Cộng đồng người Mỹ gốc Việt, cho hầu hết tại các thành phố và các tiểu bang tại Hoa kỳ.
Nhà cầm quyền CSVN về việc giữ nước an dân thì không làm được, nhưng mánh mung về “Lobby” (vận động ở hành lang) thì chuyên nghiệp. Ngày 5-8-2015, bản tin của Đài BBC phổ biến: “Hà Nội mua ảnh hưởng ở Washington thế nào?”. Có đoạn nói: “Liệt kê các nhà tài trợ theo hạng mục chung. Họ tiết lộ rằng chính phủ Việt Nam trả cho CSIS (CSIS: Center for Strategic and International Studies: Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược) trong khoảng từ 50.000 USD tới 500.000 USD trong năm 2014. Nhưng trang này không cho biết khoản tiền đó để dùng làm gì.” Một đoạn khác nói: “Hà Nội đã và đang chi khoảng 30.000 USD mỗi tháng cho Podesta Group, một công ty chuyên vận động hành lang có quyền lực với những quan hệ với các chính khách Mỹ có tầm ảnh hưởng lớn.” Như vậy, chúng ta (người Mỹ gốc Việt) tiền bạc yếu kém hơn họ, nếu không quyết tâm và hợp sức đấu tranh thì nhận lấy sự thiệt thòi mà thôi! Như thiệt thòi gần đây là Cờ Vàng bị hạn chế trưng bày trong cuộc hội họp khi có quan chức Mỹ (Đại Sứ Osius).
Chúng tôi đã đọc qua Thư trả lời của Đại Sứ Ted Osius (Reply from The US Ambassador) gởi cho ông Michael Do, chẳng thấy ông Osius dùng một từ sorry (đáng tiếc, xin lỗi) nào?!. Và đọc bản tin của Cali Today News: Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã chính thức trả lời về vụ “Đại sứ Ted Osius và Cờ Vàng” do hai Dân biểu liên bang Hoa Kỳ là ông Mike Honda và bà Zoe Lofgren đã gởi Email ngày: 13-8-2015, phúc đáp cho ông Đỗ Hùng. Tuy nhiên, chúng tôi xét thấy vẫn chưa được thỏa đáng?!.
Muốn cờ vàng được mọi người kính trọng và tự do bay phất phới trên đất nước Hoa Kỳ thì mong mỏi các nhân sĩ nhất là các vị dân cử đã đang làm việc trong chính quyền Hoa Kỳ, có tâm huyết xây dựng “Cộng Đồng Người Việt Quốc gia” hãy viết một “Thỉnh Nguyện Thư” (Petition) để “Người Việt Quốc gia” cùng ký, đồng gởi cho Bộ Ngoại Giao và Lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ, yêu cầu các cơ quan ấy giải quyết thỏa đáng việc Đại sứ Osius thiếu tôn trọng lá Cờ Vàng của “Cộng Đồng Người Việt Quốc gia”. Nếu được trên một trăm nghìn chữ ký thì yêu cầu của chúng ta hy vọng sẽ được các cơ quan liên hệ giải quyết thỏa đáng.
Tôi nghĩ bà con mình sẽ vì quyền lợi chung, sẽ tích cực ký “Thỉnh Nguyện Thư” trên một trăm nghìn chữ ký không phải khó khăn, vì tôi nghĩ rằng riêng tôi cũng có thể vận động trong gia đình, người thân và bạn bè một trăm chữ ký dễ dàng.

Hy vọng rằng “Thỉnh Nguyện Thư” đạt được kết quả sẽ đánh tan luận điệu xuyên tạc của các cơ quan truyền thông CSVN đang xem thường “Cộng Đồng Người Việt Quốc gia” ở Mỹ, và các cộng đồng khác đang sống trên đất Mỹ sẽ không coi thường “Cộng Đồng Người Việt Quốc gia” chúng ta.
Mong lắm thay.

Ngày 18-8-2015

Nguyễn Lộc Yên

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã chính thức trả lời về vụ “đại sứ Ted Osius và cờ vàng”


Như vậy, tiếng nói của cộng đồng Việt chúng ta đã được quốc hội, chính phủ và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lắng nghe. Và như vậy, quyền treo cờ vàng là quyền hiến định của chúng ta, không ai có quyền xâm phạm. Và từ nay về sau, không ai có thể nhân danh “chính sách của chính phủ” hay “chính sách của Bộ Ngoại Giao” để bắt ép chúng ta cất hay không được trưng cờ vàng.
Cali Today News – Sáng nay, thứ hai, chúng tôi vừa nhận được văn thư qua email của hai Dân biểu liên bang Hoa Kỳ là ông Mike Honda và bà Zoe Lofgren, ký ngày 13 tháng 8 năm 2015, phúc đáp cho ông Đỗ Hùng về “vấn đề đại sứ Mỹ tại Việt Nam là ông Ted Osius với cờ vàng”
Cũng trong văn thư này, hai vị dân biểu liên bang nói trên cũng đã kèm theo văn thư của nhị vị dân biểu liên bang này gửi đến cho Ngoại trưởng Hoa Kỳ – ông John Kerry – vào ngày 24 tháng 7, năm 2015 để bày tỏ sự quan tâm của hai vị dân biểu về cách hành xử của đại sứ Mỹ tại Việt Nam đối với lá cờ vàng (xin xem nguyên văn văn thư) qua các cuộc gặp gỡ với công đồng người Việt tại hai miền Nam và Bắc California vào tháng 7 vừa qua.
 
Cũng trong văn thư phúc đáp cho ông Đỗ Hùng, hai vị dân biểu nói trên cũng kèm theo văn thư trả lời của bà Julia Frifield, phụ tá ngoại trưởng John Kerry về các vấn đề Lập Pháp Sự Vụ (đính kèm theo để qúy độc giả tham khảo).
 
 
 
 
 
Trong thư của bà Julia Frifield, phụ tá ngoại trưởng John Kerry về các vấn đề Lập Pháp Sự Vu, có đoạn: “Trưng cờ (vàng) rõ ràng là một quyền hợp luật và hợp lý đối với bất cứ công dân Mỹ nào”.
 
Rõ ràng như vậy, việc Ban tổ chức cuộc họp mặt giữa đại sứ Ted Osius và cộng đồng Việt Nam tại San Jose thu giữ chiếc khăn choàng có cờ vàng và cờ Hoa Kỳ của chị Đỗ Minh Ngọc là một việc làm không hợp luật và cũng không hợp lý. Ai đã ra lệnh này vẫn còn là vấn đề cần làm sáng tỏ.
 
Như vậy, chuyện “dẹp bỏ” cờ vàng không phải là chính sách hay mệnh lệnh từ phía Bộ Ngoại Giao hay từ chính phủ Hoa Kỳ, như đã có một số người, kể cả tiến sĩ Tan - nhân viên văn phòng ông dân biển Mike Honda – đã viện dẫn.
 
Đây là một vấn đề khẳng định, không thể bàn cải nữa qua văn thư chính thức nói trên từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.
 
Điều chúng tôi rất tâm đắc là trong văn thư của bà dân biểu liên bang Zoe Lofgren và ông dân biểu liên bang là Mike Honda có đoạn: “...While this letter is less than satisfactory in many respects, we think we should celebrate that the State Department has reaffirmed the First Amendment right to display the yellow flag...” (Trong lúc lá thư này (LTS: văn thư của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ) không được thỏa mãn trong nhiều khía cạnh, chúng tôi nghĩ rằng chúng ta nên mừng vì Bộ Ngoại Giao đã tái xác nhận quyền Tu Chính Án Đệ Nhất để trưng cờ vàng”...
 
Như vậy, tiếng nói của cộng đồng Việt chúng ta đã được quốc hội, chính phủ và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lắng nghe. Và như vậy, quyền treo cờ vàng là quyền hiến định của chúng ta, không ai có quyền xâm phạm. Và từ nay về sau, không ai có thể nhân danh “chính sách của chính phủ” hay “chính sách của Bộ Ngoại Giao” để bắt ép chúng ta cất hay không được trưng cờ vàng.
 
Tuy còn nhiều vấn đề mà chúng tôi sẽ nhận xét và bình luận trong chương trình tới trên websites baocalitoday.com và truyenhinhcalitoday.com, nhưng như hai dân biểu Zoe Lofgren và Mike Honda nói “chúng ta nên mừng vì Bộ Ngoại Giao đã tái xác nhận quyền Tu Chính Án Đệ Nhất để trưng cờ vàng”…
 
Nguyễn Dương

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2015

VACUSA – Objection to Mr. Ted Osius’ (US Ambassador to Vietnam) Disrectpecful Behavior

VACUSA – Objection to Mr. Ted Osius’ (US Ambassador to Vietnam) Disrectpecful Behavior



The Vietnamese American Community of the USA
16204 Viki Lynn Pl., Pflugerville, TX 78660
Websites: http://tienggoicongdan.com/, https://vacusa.wordpress.com/
Email: md46usa@gmail.com, CDVNHK@gmail.com
TEL: alt(703) 980 9425alt(512) 789 0481
July 27, 2015
The Honorable John Kerry
U.S. Secretary of State
Department of State
Washington, DC 20520
Dear Secretary Kerry,
On behalf of the Vietnamese American citizens, we are writing this letter to express our disappointment in regard to the humiliating behavior of a high official of the Department of State.
When Mr. Ted Osius, the U.S. Ambassador to Vietnam, visited the Vietnamese American community in San Jose, California on July 14, 2015; he requested to remove our he20namViet-Myritage flag (which is yellow background with three red stripes) at the venue that was not a federal facility. Not only asking to remove our flag, Mr. Osius had on his jacket the pin featuring the flags of the US and Communist Vietnam celebrating the 20th anniversary of the diplomatic relation between two countries. We see this as an impolite, unprofessional behavior that challenges our anti-communist community.
The yellow flag with three red stripes has been recognized by about three scores of States, Counties, Cities in the U.S. as the Freedom and Heritage Flag of the Vietnamese Americans. Although we lost to the Communists, we have been embracing the flag as the symbol and strong hope for a brighter day when democracy and freedom will be restored in our fatherland Vietnam.
The Department of State may not want to see our flag at its properties. By displaying the yellow flag, we both confirm our identity and exercise our freedom of expression that was written in the 1st Amendment of the Constitution of the United States. If anyone would feel uncomfortable seeing the flag, then, please, don’t come to us.
Mr. Osius’s disrespectful behavior was disgracing the feeling and pride of all Vietnamese Americans. We need an explanation from the Secretary Kerry and an apology from Mr. Osius.
Thank you for your serious attention to this matter.
Sincerely yours,
Michael Do
CEO, President of the VAC-USA
Cc: Mr. Ted Osius, U.S. Ambassador to Vietnam, The Hon. Zoe Lofgren, US Congresswoman

CĐNVQGHK – Thư Phản Đối Hành Vi của Đại Sứ Mỹ tại VN Ted Osius tại cuộc gặp gỡ đồng hương Việt tị nạn CS tại San Jose

Posted on 29/07/2015 by minhhieu90
Xin kính gửi để tường và xin phổ biến ra các diễn đàn, báo chí, truyền thanh…
 photo 6649edfa-209d-42bb-907e-54a44db89238_zps1154d06f.jpg
CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA HOA KỲ
The Vietnamese American Community of the USA
 16204 Viki Lynn Pl., Pflugerville, TX 78660
 
July 27, 2015
Kính gửi ông John Kerry
Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ
Washington, DC 20520
Kính thưa ông Kerry,
Thay mặt cho các công dân Mỹ gốc Việt, chúng tôi gửi đến ông lá thư này để bày tỏ sự thất vọng về một viên chức cao cấp Bộ Ngoại Giao đã có hành vi xúc phạm đối với chúng tôi.
Khi ông Ted Osius, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam tiếp xúc với người Việt tị nạn CS tại San Jose ngày 14 tháng 7, 2015 vừa qua, ông ta đã yêu cầu tháo bỏ lá Quốc Kỳ VNCH tại phòng hội, là nơi không phải cơ sở của chính quyền Liên Bang.  Ngoài ra, khi tiếp xúc với người Việt tị nạn, ông Đại sứ đã đeo trên ve áo chiếc phù hiệu kỷ niệm 20 năm bang giao Mỹ-Việt Cộng, trong đó có hình lá cờ đỏ sao vàng.20namViet-My Chúng tôi xem đây là hành vi thiếu lễ độ, thiếu phong cách và là sự thách thức đối với người Việt chống Cộng.
Lá cờ Vàng ba sọc đỏ của chúng tôi đã được gần 50 thành phố, quận hạt và tiểu bang tại Mỹ thừa nhận là lá cờ Tự Do và Truyền Thống của người Mỹ gốc Việt. Dù chúng tôi bị lưu vong, nhưng vẫn ôm ấp lá cờ như là biểu tượng và niềm hy vọng về một ngày tươi sáng khi tự do và dân chủ vãn hồi trên quê hương Việt Nam của chúng tôi.
Bộ Ngoại Giao có thể không muốn treo lá cờ chúng tôi tại các cơ sở của Bộ. Nhưng đối với chúng tôi, khi treo lá cờ đó lên, là khẳng định lý lịch của mình cũng như thể hiện quyền tự do phát biểu có ghi trong Tu Chính Án số 1 của Hiến Pháp Hoa Kỳ.
Nếu một vị nào đó không cảm thấy thoải mái với lá cờ Vàng, thì xin đừng tìm đến với chúng tôi.
Việc làm bất kính của ông Đại Sứ Osius đã xúc phạm tình cảm thiêng liêng và niềm tự hào của tập thể người Mỹ gốc Việt. Chúng tôi đang chờ sự giải thích của ông Bộ Trưởng và lời xin lỗi của ông Đại Sứ.
Xin cám ơn ông về sự quan tâm đúng mức trong vấn đề này.
Xin chào ông
Michael Do
Chủ Tịch CĐNVQGHK.
Bản sao: Kính gửi ông Ted Osius, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Dân Biểu Zoe Lofgren, California.

Reply from The US Ambassador (Thư trả lời của Đại Sứ Ted Osius)


Posted on 30/07/2015 by minhhieu90

Ambassador Ted Osius
Ambassador Ted Osius3:10am Jul 30
Dear Mr. Do,
Ambassador Ted Osius
Ambassador Ted Osius3:11am Jul 30

I am disappointed that you chose to write to my boss before checking the facts with me. I have always been straight-forward and respectful, and I expect the same in return.
Ambassador Osius made a point of visiting California during his recent trip back to the United States in order to meet with members of the Vietnamese-American community, hear their thoughts and concerns about U.S.-Vietnam relations, and explain our current policy, recognizing the tremendous contributions the Vietnamese-American community has made to our bilateral relationship.

The Ambassador had very substantive discussions, and listened carefully to the views and suggestions of the Vietnamese-Americans he met. As can be seen in this YouTube video ( https://l.facebook.com/l/UAQGDG7nSAQHSR62TGYtZtad5oX0bG5QjisBYpn8imLLhKg/https%3A%2F%2Fwww.youtube.com%2Fwatch%3Fv%3DbAfmBLbowbs – correct one?), Ambassador Osius was always polite and respectful, including in an exchange with a woman wearing the south Vietnamese flag. The Ambassador told her he respected the symbol and her right to display it, but also noted that, as the U.S. Ambassador to Vietnam, he preferred not to be photographed with it given the potential sensitivities. On no occasion, though, did he forbid anyone to display the flag or ask for all flags to be removed from the venues. Displaying the flag is obviously their lawful and legitimate right as American citizens.
Thank you again for your letter. Please let me know if you have any additional questions. We look forward to continuing to work closely with you.

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Chuyện Một Người Mang Tên Nguyễn Thị Di Tản

 Tên tôi là Nguyễn thị Di Tản. Cái họ Nguyễn của tôi đã chứng tỏ tôi là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng. Song có điều tôi là đứa bé Việt Nam chào đời ở một miền đất lạ xa – đảo Guam – một nơi chốn thật lạ lẫm với quê hương tôi. Theo lời mẹ tôi kể tôi chào đời vào những tháng ngày buồn thảm nhất của miền Nam Việt Nam. Tôi đã nằm trong bụng mẹ, theo mẹ trên con đường di tản của dân tộc tôi.


Tôi đã là một chứng nhân của lịch sử. Tiếng khóc chào đời của tôi ở một quần đảo nơi quê người đã giúp mẹ tôi nhiều can đảm vượt qua những thử thách, gian truân của cuộc đời. Tôi đã là Nguyễn Thị Di Tản từ ngày ấy. Thế mà đã hơn một phần tư thế kỷ kể từ 30 tháng 4 năm ấy. Thế mà đã 35 năm qua…


Đã 35 năm qua. Tôi đã lớn. Đã trưởng thành nơi miền đất tạm dung của một tỉnh lỵ miền Tây Canada. Thành phố Winnipeg buồn hắt hiu như tâm sự “Người di tản buồn” của mẹ. Mẹ rất yêu bản nhạc “Người di tản buồn” của Nam Lộc. Ngày còn bé, bằng bài hát ấy mẹ đã ru tôi ngủ. Riết rồi tôi quen với từng lời ca tiếng nhạc. Mẹ bảo đêm nào không nghe bài hát ấy tôi không ngủ. Đến lúc tôi bập bẹ biết nói mẹ dạy tôi hát. Tôi vừa quấn quít bên mẹ vừa đỏ đẻ hát:


Chiều nay có một người đôi mắt buồn
Nhìn xa xăm về quê hương rất xa
Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha
Và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa
Bạn ơi đó là người di tản buồn
Ngày ra đi lặng câm trong đớn đau.
Rồi đêm đêm hằn lên đôi mắt sâu
Thời gian đâu còn những phút nhiệm mầu
Cho tôi xin lại một ngày, ở nơi nơi thành phố cũ
Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương
Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vươn dài bóng mát
Cho tôi yêu lại từ đầu, bên người yêu dấu ngày xưa

Chiều nay có một người di tản buồn
Nhìn quê hương còn ai, hay mất ai ?
Còn bao nhiêu thằng xông pha chiến khu ?
Và bao nhiêu nằm trong những lao tù ?
Ở đây có những chiều mưa rất nhiều !
Nhiều hơn khi hành quân trong tháng mưa
Buồn hơn khi rừng khuya vang tiếng bom
Ngày vui ơi giờ đâu nước không còn
Cho tôi xin lại một lần, ở nơi tôi dừng quân cũ
Cho tôi xin lại bìa rừng, nơi từng chiến đấu bên nhau
Cho tôi xin một lời chào, chào bao nhiêungười đã khuất
Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi !


Tôi hát như sáo. Mẹ hát sao tôi hát theo vậy. Mẹ bằng lòng lắm. Dần dà tôi có thể hát được cả bài. Bạn bè của mẹ đến nhà chơi mẹ, đem con sáo của mẹ ra khoe. Mẹ bắt tôi hát. Mỗi lần hát xong các bác các cô, bạn của mẹ ai cũng đều rươm rướm nước mắt. Có lần tôi thỏ thẻ hỏi mẹ “Sao con hát hay mà mẹ với các bác lại khóc”.

Mẹ ôm tôi vào lòng và nói “Bao giờ con lớn con sẽ hiểu tại sao”. Cái trí óc non nớt ngày ấy của tôi mơ hồ cảm nhận có một điều gì khác thường ở mẹ, một cái gì mất mát lớn lao trong đời mẹ. Những lúc rảnh rỗi, sau giờ cơm chiều mẹ dạy tôi nói, tôi đọc:
-Con là người gì ?
-Dạ thưa con là người Việt nam
-Con tên gì ?
-Con tên là Di Tản
-Con có yêu nước Việt Nam không ?
-Con yêu Việt Nam lắm !

Tôi đã thuộc nằm lòng những câu mẹ dạy. Tôi đã quen thuộc với cái tên Di Tản. Tôi thấy tên tôi nó ngồ ngộ, dễ thương làm sao. Đến lúc tôi lên năm, mẹ dắt tôi đến một ngôi trường tiểu học ở gần nhà để ghi tên đi học. Từ ngày còn bé tôi chỉ loanh quanh ở cái apartment mẹ ở mà thôi. Chung cư nầy đa số là người Việt nam. Lần đầu tiên đến trường, một khung cảnh mới, người mới. Các học sinh cùng lớp với tôi hoàn toàn là những khuôn mặt lạ xa.

Cô giáo cũng thế. Không giống mẹ. Không giống các bác, các cô đến chơi nhà mẹ. Lúc mẹ chào cô giáo ra về. Tôi ở lại trường với tâm trạng thật lạc lõng, bơ vơ. Tôi muốn khóc. Tôi muốn theo mẹ ra về làm sao. Tôi ngồi cô đơn một góc lớp. Cô giáo rất trẻ, đến bên tôi nhỏ nhẹ hỏi
– “What is your name ?”.
Tôi cúi mặt, bặm môi chừng như rướm máu, lí nhí đáp bằng cái giọng Việt Nam đặc sệt “Dạ .. Di Tản”. Cô giáo chừng như không hiểu, cô xem lại quyển sổ và hỏi lại tôi “your name is Đaithen”. Tôi lắc đầu và lập lại “Di Tản”. Cả lớp rộ lên cười. Tôi bật khóc. Tôi khóc ngon lành như bị ai ức hiếp.


Sau buổi học, mẹ đến đón tôi về. Trên suốt quãng đường từ trường về nhà Tôi lặng thinh, không nói một điều gì cả với mẹ. Mẹ âu yếm hỏi tôi “Con đi học có vui không”. Chừng như tôi chỉ chờ mẹ hỏi, Tôi òa lên khóc và bảo:
– Sao mẹ không đặt cho con một cái tên nào dễ kêu như Helen, như Cindy hay Linda như tụi nó mà mẹ đặt tên con là Di Tản. Cô giáo đọc không được tên con, mấy đứa cùng lớp tụi nó chọc ghẹo con.

Mẹ tôi dịu dàng, từ tốn bảo:
– Con có biết cả nước Canada nầy có biết bao nhiêu là Helen, là Cindy không con. Còn tên Di Tản chỉ có mỗi một mình con. Con không thấy con đặc biệt sao con. Con phải hãnh diện vì cái tên rất là Việt Nam của con mới phải. Tôi nũng nịu pha một chút hờn dỗi:
– Mà cô giáo đọc là Đaithen mẹ thấy có kỳ không ?
Mẹ trìu mến đưa tay vuốt tóc tôi, hiền hòa khẽ bảo:
– Tại cô giáo không biết cách phát âm của ngươì Việt Nam mình đó thôi. Con phải đọc lại cho cô biết rồi từ từ cô sẽ đọc đúng.
Giọng mẹ thiết tha hơn, chùng xuống, sũng đầy nước mắt.
Mẹ đã mất tất cả rồi con ơi. Mẹ chỉ còn cái tên Việtnam mẹ gửi cho con. Con có biết như thế không ?
Đầu óc của một đứa bé lên năm làm sao tôi hiểu đuợc hết những gì mẹ nói, song tôi biết mẹ buồn lắm. Có một cái gì làm cho mẹ khổ tâm lắm. Tôi cảm thấy ân hận. Tôi ôm mẹ, hôn me, và bảo:
– Con xin lỗi mẹ. Con làm mẹ buồn lắm phải không mẹ.
Tôi thấy mắt mẹ long lanh ngấn lệ.
– Không phải đâu con, con của mẹ ngoan lắm.


Đó là câu chuyện ngày lên năm của tôi. Mãi cho đến những năm sau nầy tên tôi vẫn là một đề tài cho lũ bạn chọc ghẹo. Cái chọc ghẹo cho vui chứ không có một ác ý nào cả. Lúc tôi vào Highschool tôi đã lớn lắm rồi. Tôi đã hiểu những u uất của đời me. Tôi thương mẹ hơn bao giờ hết.

Thấm thoát mà tôi đã là cô gái 18. Soi gương tôi cũng biết mình đẹp lắm. Mẹ không cho tôi cắt tóc ngắn. Cả trường con gái mái tóc dài chấm lưng với khuôn mặt Á Đông của tôi vẫn là một đề tài nổi bật nhất.

Lại thêm cái tên Di Tản nữa. Lúc nầy tôi không còn buồn mỗi lần bị giáo sư đọc trật tên. Bạn bè tôi, những đứa quen nhau từ lớp mẫu giáo đến giờ được tôi huấn luyện cách phát âm nên đọc tên tôi đúng lắm. Tụi nó bỏ dấu còn lơ lớ nhưng tạm được. Nhưng mỗi lần bắt đầu một niên học mới, tên tôi lại là một tràng cười cho lũ bạn cùng lớp mỗi khi các giáo sư mới gọi tên tôi. Giáo sư nào cũng thế. Ngập ngừng một hồi lâu rồi mới đọc.


Tôi cũng không nín cười được cái giọng như ngọng nghịu của một giáo sư người Canada đọc một cái tên lạ quơ lạ huắc chưa bao giờ thấy và gặp trong lịch sử dân tộc. Trên tay cầm bài Test của tôi, ngập ngừng rồi vị thầy gọi “Đai then”. Cả lớp ồ lên một loạt  “Oh, my god”. Vị giáo sư lúng túng, đảo mắt nhìn quanh lớp. Cả lớp nhao nhao lên như bầy ong vỡ tổ. Chừng như tụi nó thích những dịp như thế để câu giờ, “nhứt quỉ, nhì ma, thứ ba học trò” mà. Con Linhda ngồi cạnh, hích nhẹ cùi chỏ vào tôi và khẽ bảo:
– Ditan, ổng đọc sai tên mầy rồi kìa, mầy sửa cho ổng đi.
Tôi đỏ mặt. Tôi chưa kịp nói gì cả thì tụi con trai ngồi sau lưng tôi ào ào lên như chợ nhóm “Ditản, Ditản not Đai then”. Vị giáo sư lúc đó mới vỡ lẽ ra, mới biết là mình phát âm sai, ông gục gặt đầu nói lời xin lỗi và lập lại “Ditản Ditản”.


Lúc nầy tôi không còn nhút nhát như ngày xưa nữa. Bạn bè tôi Tây Tàu, Canadian nữa đều “cứu bồ” tôi mỗi lần có tình trạng như trên vừa xảy ra. Dần dà mọi người gọi tên tôi rất ư là dễ thương. Đến bây giờ nhớ lại những lời mẹ nói với tôi ngày nào, tôi hãnh diện vô cùng về cái tên mẹ đã cho tôi. Tôi thương mẹ vô cùng.


Cái đất nước Việt Nam khổ đau muôn chiều đã gắn liền với mẹ tôi như hình với bóng trong cuộc đời lưu lạc xứ người hơn một phần tư thế kỷ. Một điều mà tôi có thể khẳng định rằng “dù hoàn cảnh có thể tách rời mẹ ra khỏi quê hương, nhưng không có một hoàn cảnh nào tách rời quê hương ra khỏi tâm hồn mẹ được”. 

Mẹ sống như chờ đợi, như mong mỏi một điều gì sẽ đến. Có lần tôi bắt gặp mẹ ngồi một mình trong đêm, tay mân mê, vuốt ve bức ảnh bán thân của bố tôi. Mẹ vẫn nuôi hy vọng Bố còn sống và sẽ có lần gia đình tôi laị đoàn tụ như xưa. Nhưng định mệnh đã an bài. Sau khi nhờ một người bạn làm ở Usaid đưa mẹ con tôi di tản. Bố hứa Bố sẽ gặp lại mẹ sau.

Trong lúc dầu sôi lửa bỏng Bố bảo sao, mẹ nghe vậy. Một mình mẹ bụng mang dạ chửa mẹ đã lên phi cơ, theo đoàn người di tản và mong có ngày gặp lại Bố.

Nhưng niềm hy vọng đó đã vơi dần theo năm tháng cho đến một ngày mẹ được tin Bố đã nằm xuống nơi trại cải tạo.

Mẹ như điên loạn.

Rồi mẹ tỉnh lại.

Mẹ biếng cười, biếng nói.

Cuộc sống của Mẹ đã thầm lặng bây giờ càng thầm lặng hơn xưa.


Ngoài giờ ở sở. Về nhà cơm nước xong, trò chuyện với tôi đôi lát rồi Mẹ vào phòng. Cái khoảng đời quá khứ ngày xưa. Những kỷ niệm ngọc ngà ngày nào của Bố và Mẹ như chút dấu yêu còn sót lại. Thời gian không làm nhạt nhòa mà ở Mẹ không một hình ảnh nào mà Mẹ không nhớ. Mỗi lần nhắc tới Bố, Mẹ như trẻ lại. Mắt Mẹ long lanh ngời sáng. Mẹ kể cho tôi nghe chuyện tình của cô sinh viên Văn khoa với chàng thủy thủ Hải Quân.

Tôi thuộc nhiều bài hát Việt Nam lắm nên tôi ghẹo Mẹ “Mẹ và Bố giống em hậu phương còn anh nơi tiền tuyến quá”. Ngoài tình mẹ con ra, tôi như một người bạn nhỏ để Mẹ tâm sự, để Mẹ trang trải nỗi niềm nào là “con biết không Bố hào hoa và đẹp trai lắm .. v.v… và v.v…

Tôi nịnh Mẹ:
– Bố không đẹp trai làm sao cua được Mẹ.
Mẹ cười thật dễ thương.

Một điều mà tôi biết chắc chắn rằng không ai có thể thay thế hình bóng Bố tôi trong tim Mẹ.

Tôi không ích kỷ. Song điều đó làm tôi yên tâm hơn. Tôi muốn cùng Mẹ nâng niu, giữ gìn những kỷ niệm dấu yêu, ngọc ngà của Mẹ và Bố cho đến suốt cuộc đời.


Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ 35 của Bố. Con muốn thưa với Bố một điều. Con cám ơn Bố Mẹ đã tạo cho con nên hình, nên vóc. Dù chưa một lần gặp mặt Bố. Dù bây giờ Bố đã nằm xuống. Bố đã đi thật xa, không có lần trở lại với Mẹ, với con. Song với con Bố vẫn là một hiện hữu bên con từng giờ, từng phút.


Con nghĩ Bố đã che chở Mẹ con con hơn một phần tư thế kỷ nay. Xin Bố hãy giữ gìn, che chở Mẹ, con trong suốt quãng đời còn lại. Con mong làm sao ngày nào đất nước thật sự thanh bình Mẹ sẽ đưa con trở về thăm lại quê hương. Con sông xưa sẽ trở về bờ bến cũ. Ngày ấy ở một phía trời nào đó của quê hương con thấy bố mỉm cười và Bố nói với con .. Bố sung sướng lắm, con biết không ? Con yêu dấu!


    Hoàng thị Tố Lang

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Dạy tiếng Việt cho ngoại giao Mỹ


Bà Trần Thị Thức (thứ 5 từ phải) chụp hình lưu niệm với các học sinh trong ban Việt Ngữ của Học Viện Ngoại Giao tại Hoa Thịnh Đốn, vào dịp Tết Nguyên Đán năm 2014. Các học sinh, trong tinh thần học văn hóa Việt Nam đều xúng xính trong trang phục cổ truyền Việt Nam. 
(Hình: Bà Trần Thị Thức cung cấp)

 VIRGINIA (NV) - Khi có dịp gặp những người Mỹ có khả năng nói tiếng Việt lưu loát, chúng ta thường mỉm cười thích thú, và hay tự kết luận rằng chắc hẳn người này phải có vợ Việt Nam mới nói tiếng Việt sõi như thế.

Thật ra, không hẳn ai nói tiếng Việt giỏi cũng là nhờ có vợ Việt. Tuy nhiên, chúng ta có thể đoán khá chính xác một điều, là những người Mỹ nói được những cụm từ như “rành 6 câu,” và biết xì xụp ăn phở, có lẽ ít nhiều đều dính dáng đến Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.
Theo website của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, nhân viên của bộ, trước khi được cử đi làm việc ở bất cứ nơi nào trên thế giới, đều phải qua khóa huấn luyện tại trung tâm có tên Học Viện Ngoại Giao (the Foreign Service Institute - FSI). Trung tâm này chuẩn bị cho giới ngoại giao Mỹ và nhiều chuyên gia khác túi hành trang về ngôn ngữ và phong tục đầy đủ nhất, để họ có thể, qua nhiệm sở của mình tại nước ngoài, thúc đẩy quyền lợi cho quốc gia.
Website của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho biết, hàng năm, Học Viện Ngoại Giao cung cấp hơn 500 khóa học, bao gồm 70 chương trình ngoại ngữ cho khoảng 50,000 nhân viên mới được tuyển vào bộ, và gần 40 cơ quan khác của chính phủ và quân đội Mỹ.
Trong chuyến đi thăm cộng đồng gốc Việt tại miền Đông Hoa Kỳ, chúng tôi có dịp đến thăm bà Trần Thị Thức, giáo sư văn hóa và ngôn ngữ Việt kỳ cựu tại Học Viện Ngoại Giao Hoa Kỳ, và được nghe bà miêu tả đầy đủ và sống động về cái ngành thật đặc biệt mà ít người biết này.
Cơ duyên với Học Viện Ngoại Giao
Bà Trần Thị Thức là phu nhân của ông Đoàn Viết Hoạt, một tù nhân lương tâm Việt Nam nổi tiếng trong thập niên 80s và 90s. Ông Hoạt bị giam giữ vì những hoạt động của một người yêu nước, nhưng bị nhà cầm quyền Hà Nội cho là gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia. Vào năm 1989, khi được thả tù lần thứ nhất sau 12 năm bị giam cầm, ông quyết định làm giấy tờ để vợ qua Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình, còn mình thì tiếp tục đấu tranh cho quê hương. Quyết định ấy khiến ông trở thành người tù lương tâm lần thứ hai, và có lẽ cũng là cơ duyên đưa bà Thức đến với Học Viện Ngoại Giao Hoa Kỳ sau này.
Theo học Ngành Tâm Lý Giáo Dục, và yêu thích dạy tiếng mẹ đẻ, bà Thức đã có kinh nghiệm dạy tiếng Việt ở Hội Việt-Mỹ, Sài Gòn, từ năm 1965. Nhưng năm 1994, khi mới qua Mỹ, định cư tại tiểu bang Minnesota, bà Thức phải kiếm một việc làm không liên quan gì đến sở trường của mình.
Trong phòng khách ấm cúng của gia đình, bà Thức hồi tưởng lại những ngày đầu vất vả, cho biết bà vừa đi làm, vừa bận rộn liên lạc với khắp các tổ chức quốc tế, nhất là Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, để nhờ họ can thiệp xin trả tự do cho chồng.
“Khi tranh đấu cho ông Hoạt, tôi phải làm việc nhiều với Bộ Ngoại Giao, khi họ cần biết gì thì họ gọi điện thoại đến Minnesota. Khổ lắm, lúc mình đi làm về mới có thể trả lời thì họ đã hết giờ làm việc rồi. Sau đó, để tiện liên lạc với họ, tôi xin vào làm việc ở Đài Á Châu Tự Do, nhưng công việc ở đó cũng không thích hợp lắm, vì không thuộc khả năng chuyên môn của mình.”
Khả năng ngôn ngữ của bà được Bộ Ngoại Giao chú ý, và đến năm 1997, bà Thức được giới thiệu vào làm việc ở Học Viện Ngoại Giao Hoa Kỳ, chuyên giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam. Thế là bà trở lại với cái nghề mình yêu quý, công việc mà bà theo đuổi cho đến bây giờ.
Nhưng việc dạy tiếng Việt của bà Thức bây giờ rất khác xưa.
Ngày xưa bà dạy tiếng Việt cho học trò. Giờ đây “học trò” của bà khi tốt nghiệp toàn là những người được giao phó trách nhiệm quan trọng. Ngày xưa lớp học của bà có hàng chục học sinh, ngày nay, một lớp chỉ dạy chừng hai, ba người. Và trong trường hợp lớp của các đại sứ, thì chỉ có vỏn vẹn một học sinh. Bà cho biết đã từng dạy tiếng Việt cho “Đại Sứ Raymond Burghardt này, Đại Sứ Michael Marine này, và gần nhất là Đại Sứ David Shear.”
Nhắc lại một kỷ niệm đẹp với học sinh, bà mỉm cười, “Ông ấy (Đại sứ David Shear) tốt nghiệp xong vui lắm, đến nhà tôi nói chuyện nhân quyền với anh Hoạt trước khi qua Việt Nam nhậm chức, còn bà Shear thì vào bếp với tôi, nhờ tôi chỉ cho cách nấu phở gà, vì cả hai người rất mê món ăn đó.”
Một giáo trình nặng nề
Không nhẹ nhàng và thú vị như ăn phở, việc dạy và việc học ngôn ngữ, văn hóa Việt tại Học Viện Ngoại Giao, là một quá trình đầy gian nan vất vả mà cả giáo sư lẫn học sinh đều phải thi hành nghiêm chỉnh, mới mong đạt được thành quả chung, là sao cho học sinh tốt nghiệp.
Muốn tốt nghiệp, học sinh phải qua được cuộc thi với những đề thi và tiêu chuẩn chấm thi do Học Viện Ngoại Giao đề ra, dưới sự giám sát của những giáo sư có kinh nghiệm.
Bà Thức nói rằng chương trình huấn luyện rất nặng nề. Các phó đại sứ, tổng lãnh sự, phó tổng lãnh sự, và những người tham vấn thì phải học 44 tuần.
Tuy gọi là đi học, thật ra đây là thời gian họ phải làm việc rất căng thẳng. Trong vòng 44 tuần lễ, giáo sư phải đào luyện sao cho họ từ chỗ không biết tí gì về tiếng Việt, đến chỗ có thể nói tiếng Việt lưu loát và thấu hiểu văn hóa, phong tục Việt Nam, cũng như có đủ từ ngữ chuyên môn để thảo luận những vấn đề liên quan đến lãnh vực chuyên môn của họ.
Đơn cử thí dụ một đề thi, bà Thức nói, “Thí dụ, trong lúc thi, họ có 7 phút để đọc một bài dài từ 600 đến 700 chữ, trong đó có đầy đủ những từ ngữ chuyên môn về chính trị, xã hội hay quân sự, được chọn trước, tùy theo chuyên ngành của họ. Đọc xong, họ phải giải thích ý chính trong bài, và đưa những dẫn chứng cụ thể, toàn bằng tiếng Việt.”
Rồi giải thích, “Khi chấm thi, chúng tôi đánh giá học sinh trên 5 yếu tố. Phải xem họ phát âm có đúng không, câu nói có ý nghĩa (cohesive) không. Cú pháp có đúng không, dùng từ ngữ có thích hợp hay không. Từ ngữ thích hợp không chỉ có nghĩa là phải thích hợp trong câu nói, mà phải thích hợp với “trình độ” văn hóa của họ. Nói năng thì phải lưu loát nữa, tuyệt đối không được ngập ngừng.” Bà Thức giái thích.
Làm sao có thể trong vòng non một năm mà có được kết quả vượt bật như thế?
“Ồ, họ phải chăm chỉ và học cực khổ lắm. Mỗi tuần học 5 ngày, mỗi ngày 8 tiếng, 5 tiếng học với giáo sư, còn 3 tiếng kia phải làm bài tập. Học hết khóa còn phải vượt qua các kỳ thi mới được tốt nghiệp, nếu không thì phải học lại.” Bà Thức nói, có thể so sánh chương trình huấn luyện ngôn ngữ và văn hóa tại Học Viện Ngoại Giao nặng ngang chương trình huấn nhục ở các quân trường.
Không chỉ học trò, mà thầy cũng vất vả. Tuy chương trình giảng dạy là do học viện đưa ra, nhưng mỗi giáo sư phải tự làm giáo án để làm thế nào dạy cho vừa đúng chương trình, vừa thích hợp với trách nhiệm mai sau của học trò. Học trò đi học ngày 8 tiếng, thì giáo sư cũng làm việc ngày 8 tiếng; dạy 5 tiếng, ba tiếng còn lại để soạn bài, ngoài ra còn phải chấm thi, coi thi.
Về giáo trình, bà Thức cho biết, “Bắt đầu học sinh phải học cách phát âm. Những người sẽ đi nhậm chức ở Hà Nội học nhóm riêng, được dạy cách phát âm của người Hà Nội. Người đi nhậm chức Sài Gòn phải được học cách phát âm người Sài Gòn.”
“Phải thế đấy! Thí dụ người miền Nam thì nói là “đi dzô,” người miền Bắc thì nói “đi vào.” Mình không dạy thế, sang đến Việt Nam học sinh lúng túng ngay. Sau thời gian học cách phát âm của từng miền, khi khá rồi, học sinh sẽ được học chung trong các môn khác.” Bà nhận định.
Để đào tạo những người đảm nhận trách nhiệm có tầm mức quan trọng quốc gia, giáo sư của học viên được tuyển chọn kỹ. Bà Thức cho biết các giáo sư đa số có bằng cao học. Cũng có vài người chỉ có bằng cử nhân, nhưng họ là những người tốt nghiệp hoặc về ngữ học hoặc về bang giao quốc tế.

Bà Trần Thị Thức (phải) và chồng (trái) chụp hình lưu niệm với Tổng Thống
Ba Lan Aleksander Kwapniewski đương nhiệm, trong chuyến đi thăm Ba Lan
lần đầu vào năm 1999. (Hình: Bà Trần Thị Thức cung cấp)


“Mỗi giáo sư có một máy vi tính, học viện sắp xếp cho họ sẵn mọi thứ. Thí dụ tôi muốn nghe đài VOA thì chỉ bấm vào một icon. Tôi nghe rồi tôi chọn đề tựa nào đó “share” cho học sinh nghe trong mấy phút, rồi tôi hỏi họ tóm lược ý chính, với càng nhiều dữ kiện hỗ trợ càng tốt. Trong những bài được chọn này, thường có nhiều từ ngữ khó khăn lắm.”
Học sinh được dạy viết tiếng Việt nhưng khi đi thi họ chỉ được đánh giá trên khả năng đọc (reading) và nói (spoken). Trong cuộc thi nói, học viện đánh giá học sinh theo 6 trình độ: S-1 (không thể nói), S-2 (có thể đối thoại những chuyện thông thường hàng ngày), S-3 (nói khá giỏi, có khả năng tham dự các cuộc thảo luận về những đề tài xã hội, và chuyên môn của ngành), S-4 (nói giỏi, có thể dùng tiếng Việt chính xác, lưu loát trong mọi trình độ liên quan đến ngành), và S-5 (nói không thua người bản xứ). Khả năng đọc của học sinh cũng được đánh giá theo 6 trình độ tương tự, từ R-0 đến R-5.
“Thường thì học đến trình độ 3-3 (S-3, R-3) rồi là họ giỏi lắm. Thí dụ một người học về phỏng vấn ở cấp 3-3, có hỏi những câu như, thưa cô ngày xưa Việt Nam có câu 'Công Dung Ngôn Hạnh, thế bây giờ những vấn đề đó được đánh giá như thế nào. Ngược lại, nếu có người hỏi câu đó, thì học sinh phải biết rõ câu trả lời. Nói tóm lại chúng tôi không chỉ dạy tiếng Việt mà còn dạy về văn hóa, khung cảnh xã hội, v.v...”
Dạy từ ngữ đương thời
Khó khăn nhất của học sinh Mỹ khi học tiếng Việt, theo bà Thức, là các dấu (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) và cách phát âm, sau mới đến cú pháp.
“Dạy ở đó vui lắm, buồn cười lắm. Thí dụ “chào cụ” thì họ quên đánh dấu, cứ nói “chào cu,” còn nhiều học sinh thì bây giờ là qua 10 tuần rồi, mà phát âm chữ dờ (d) với chữ đờ (đ) vẫn cứ sai. “Du lịch” thì nói là “đu lịch,” “dễ thương” thì nói là... “đễ thương.”
“Nhưng mà tôi có cái luật, luật này chỉ dành riêng cho lớp của cô Thức thôi, người nào mà đến giờ này (tuần thứ 10) mà còn nói lộn thì người bên cạnh, hay chính mình, phải đánh vào tay mình một cái, thật đau, để nhớ.” Bà Thức kể.
“Ngoài dấu và cách phát âm, cấu trúc câu cũng làm cho học trò nhức đầu. Thí dụ tính từ của mình thì đi sau danh từ, ‘màu đỏ’ thì họ nói ‘đỏ màu.’ Rất buồn cười.”
Được hỏi về bí quyết đào tạo, bà Thức cho biết, để thành công, giáo sư phải biết mục đích học trò mình, hay trách nhiệm của họ sau khi học xong.
“Nghĩa là mình phải dạy họ những từ ngữ liên quan đến công việc sau này của họ. Thí dụ những người lo trách nhiệm tổng hợp, thì có những từ nào sau bao nhiêu tuần họ phải học xong. Những người sau này chuyên đi phỏng vấn thì phải học các từ khác, phỏng vấn về chính trị thì phải học những từ khác, phỏng vấn về kinh tế, phải có những từ khác.
Giáo sư phải soạn bài kỹ lắm. Phải kiếm bài đọc có nội dung thích hợp cho họ. Bài đọc phải là từ những tờ báo mà Hà Nội họ dùng. Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, v.v... Học viện gọi đây là quy định “authentic reading materials.”
Nhưng tại sao không dạy cho họ một thứ tiếng Việt chuẩn?
Với thắc mắc này, bà Thức cười tươi, như đã từng được hỏi những câu tương tự, “Tại bây giờ từ ngữ nó như thế, nếu mình dùng những từ của Việt Nam trước năm 75 thì khi họ qua Việt Nam nói chuyện với mọi người, họ sẽ không hiểu.”
Bà giải thích thêm, “Trong ngữ học nó còn có cái phần gọi là tâm lý sử dụng của người nghe. Nếu người nghe họ nghe mình nói họ hiểu ngay thì tâm lý họ mới tốt, nếu mình dạy học trò nói những từ ngày xưa, thì họ sẽ bị lúng túng khi đối thoại, vì người nghe không hiểu rõ họ, mà họ không hiểu khi người kia đáp lại, thành ra phải dạy những từ ngữ đang được dùng.”
Đào tạo theo vai trò
Trả lời câu hỏi việc nội dung giảng dạy khác nhau cho mỗi học trò, bà Thức dẫn giải, “Mỗi học trò học khác nhau lắm chứ! Đó là lý do tại sao một lớp chỉ dạy 2 hay 3 học trò là cùng. Còn dạy đại sứ, thì như tôi đã nói, lớp chỉ có... một người.”
“Thí dụ, những người đi phỏng vấn về chính trị thì phải dạy họ về nhân quyền, về dân chủ, để khi họ vào nhà tù thăm những chiến sĩ dân chủ, họ phải biết nói từ ngữ dân chủ. Gần hết khóa học, tôi sẽ cho hai người đóng vai hai nhân vật. Một người đóng vai tù nhân lương tâm, còn người kia đóng vai chuyên viên về nhân quyền của đại sứ quán vào nhà tù thăm. Mục đích là để huấn luyện biết cách đặt câu hỏi cho thích hợp. Chẳng hạn, người đến thăm sẽ hỏi sức khỏe, hỏi ông có cần giúp gì không? Có thể người kia sẽ nói về tình trạng ở trong nhà tù thế nào. Có thể họ sẽ yêu cầu nói cho thế giới biết về tình trạng của mình, vậy phải tả tình trạng của mình ra sao, hoặc có thể họ chuyển thư của tôi ra nước ngoài. Nói tóm lại trong trường hợp này, người được huấn luyện phải hiểu những vấn đề liên quan đến nhân quyền ở Việt Nam.”
“Còn đào tạo một người chuyên đi phỏng vấn về kinh tế thì phải cho họ học những từ ngữ khác. Ngoài những từ thông thường như dầu, dầu khí, hợp đồng, thì họ còn phải hiểu biết tình trạng kinh tế. Chẳng hạn như ngay bây giờ thì họ phải học về hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), phải học Mỹ muốn những điều kiện gì.”
“Tôi phải tìm những bài đọc dài khoảng 600, 700 chữ, trong đó có những từ, nói về nợ công, như ông bộ trưởng thương mại nói rằng nợ công mà chính phủ đã đứng ra bảo lãnh cho Vinashin bây giờ bị lỗ, và họ phân tích nói rằng nếu chính phủ không trả, bắt tư nhân trả nợ, thì chỉ có ‘húp cháo đi buôn thôi,’ và phải hỏi cái chữ ‘húp cháo’ trong trường hợp này, họ phải hiểu là gì?”
Cuối khóa, mỗi học viên tốt nghiệp được thêm 10% tiền lương, gọi là tiền sinh ngữ, mà giáo sư giỏi cũng được thưởng nhiều. Nên mỗi khi có học sinh tốt nghiệp, cả thầy lẫn trò đều vui.
Được hỏi về kinh nghiệm giảng dạy, bà Thức nói, “Dạy học là một nghệ thuật, nếu mình tạo được cho học sinh một động lực tốt , thì họ tiến rất nhanh. Tôi được lợi thế là khó tính thành ra bắt học sinh học rất kỹ lưỡng. Các giáo sư trẻ thì thường không quá nghiêm khắc với trò.”
Bà kể có một lần bà rất khó với một học sinh. Người này khi tốt nghiệp xong, viết cho bà một thiệp cám ơn. Thiệp viết rằng, “Em cám ơn cô đã đào tạo em trong suốt một năm. Em rất vinh dự được cô làm tigress trong cuộc đời của em.”
Bà cười sảng khoái, “Tigress! Hihi. Là cọp cái. Ông xã chọc quê tôi, bà khó tính, hèn gì trong trường nó gọi là tigress. Nhưng mà thật ra mình chăm chút, mình kỷ luật, học trò chăm thì họ thi đỗ thôi.”
Hà Giang ( NV)