Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

Ba tôi, người đánh máy mướn

 
Năm 1961, thằng em thứ sáu, vừa lên 5 của tôi, bị viêm màng não rồi chết. Thân phụ tôi đang làm trưởng ty Bưu Ðiện Rạch Giá buồn bã quá, xin đổi về Sài Gòn làm ở Bưu Ðiện Trung Tâm gần Vương Cung Thánh Ðường, dắt cả gia đình chạy trốn một kỷ niệm buồn đau!

Nhà thì chính phủ cho một căn, ở lầu hai cư xá Bưu Ðiện trên đường Hai Bà Trưng, nằm trong con hẻm lớn, đối diện nhà thờ Tân Ðịnh.

 Rồi năm 63, cuộc đảo chánh 1/11 của các tướng lãnh. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu bị giết. Cái chết của Tổng Thống Diệm đã chấm dứt luôn cuộc sống tương đối dễ thở của các công chức bậc trung. Nhà đông con, vật giá càng lúc càng tăng, con cái ngày một lớn, tiền ăn tiền quần áo tiền trường đè nặng lên vai Ba. Nên Ba phải làm thêm 'job' nữa. Ðánh máy mướn!


Vốn xuất thân từ thư ký, sau vừa làm vừa học, thi đậu cải ngạch thành Cán Sự Bưu Ðiện, Ba đánh máy rất nghề, chỉ nhìn vào văn bản mà không cần nhìn vào bàn phím chữ. Ðánh bằng mười ngón, tốc độ nhanh, nghe như tiếng rào rào đổ trên mái tôn. Mưa!

 Cuối đường Phan Ðình Phùng, đi về phía Chợ Lớn rồi quẹo tay phải sang đường Lý Thái Tổ có rất nhiều tiệm Ronéo. Trong tiệm, ngoài giàn máy Ronéo, còn có vài cái máy đánh chữ, bàn ghế ngồi do chủ tiệm cung cấp. Làm ăn chia, tứ lục, 6/4.

 Muốn in Ronéo, phải đánh trên giấy stencil. Ðó là loại giấy có tráng sáp để khi đánh, chữ sẽ khắc dấu trên sáp; rồi khi đưa vào máy, mực sẽ tràn ra phủ đầy trên những dấu lõm. Dán stencil vào máy, rồi quay bằng tay hay bằng điện. Bài viết sẽ lần lượt được in ra.

 Khách hàng đến là các giáo sư mướn đánh máy bài giảng ở trường đại học, bán “cours” cho sinh viên.

 Khách hàng cũng có thể là các nhà văn chuyên viết truyện dài đăng trên báo hằng ngày mà Miền Nam lúc bấy giờ gọi là viết “feuilleton” như Dương Hà, An Khê, Ngọc Linh, Sơn Nam... Họ mang những bản thảo viết tay, thường là khó đọc, đến mướn đánh máy cho rõ ràng để thợ sắp chữ nhà in dễ đọc, dễ sắp chữ trên bản kẽm rồi in ra thành tiểu thuyết.

 Giá cả có khác nhau tùy theo khách hàng thường xuyên như các giáo sư hay các nhà văn. Ngoài ra cũng có nhận đánh đơn từ các loại.

 Mỗi ngày, Ba cỡi chiếc xe đạp đòn dông đi làm theo giờ hành chánh từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Tan sở lại phải chạy xuống tiệm Toàn Thắng ở cuối đường Phan Ðình Phùng để làm cái “job” thứ hai.

 Khoảng 9, 10 giờ đêm, mệt mỏi, rã rời sau 16 tiếng đồng hồ làm việc, Ba mới theo đường Phan Thanh Giản, chỉ cho chạy một chiều để quay trở về Hai Bà Trưng, Tân Ðịnh.

 Má vẫn thường chờ Ba cơm tối; còn 8 anh em tôi thì đã đi ngủ mất rồi. Hôm nào được lãnh lương hoặc đánh máy có tiền nhiều, Ba vẫn thường ghé qua xe bán bánh mì Tám Cẩu ở ngã tư Cao Thắng và Phan Thanh Giản, gần rạp hát Ðại Ðồng, mua vài ổ bánh mì về cho con.

 Về nhà Ba vô giường, bế từng đứa dậy, đặt ngồi ngoài bàn rồi bảo: “Ăn đi con!” Ăn thì khoái thiệt nhưng “buồn ngủ” híp con mắt luôn! Em gái tôi cắn miếng bán mì nhai, chưa kịp nuốt thì gục xuống bàn... ngủ tiếp. Ba lại bế từng đứa, cho vào giường ngủ.

Người ta thường bảo người mẹ như cánh cò. Cánh cò lặn lội bờ sông... Ba tôi không phải là cánh cò, Ba tôi là đại bàng nhưng con đông quá, bám vào đôi cánh của Ba nặng trĩu. Ba không bay cao, bay xa được mà chỉ bay là đà; nhưng vẫn phải rán mà bay để tìm mồi về cho vợ và con trong thời khốn khó!

 Ba chưa từng bao giờ từ bỏ ước vọng là con mình sẽ được ăn học đàng hoàng, tới nơi tới chốn để cuộc đời chúng nó sau không phải vất vả như Ba!

 Bước ra đời, nếu mình có thành công, có giỏi hơn người khác thường là bị gièm pha, xúc xiểm, ganh tị... nhưng mỗi thành công dù rất nhỏ trên trường đời của con thì Ba lại tự hào, hãnh diện coi thành công đó là rất lớn và là chính của Ba luôn!

 Năm 63, tôi thi đậu vào Petrus Ký. Ðỡ cho Ba không phải lo tiền trường. Vì nếu rớt, phải đi học tư, tốn lắm! Việt Nam lúc đó đậu vào một trường công lập nổi tiếng như Petrus Trương Vĩnh Ký cho con trai hay Gia Long cho con gái là rất khó. Trường rất có kỷ luật nên học trò trường công không dám “cúp cua” đi chơi nên thường học giỏi hơn học trò trường tư dù giáo sư trường tư lại nổi tiếng dạy hay hơn: Dạy hay hơn nên mới được chủ trường tư mời dạy!

 Ngày coi kết quả thi vào Petrus Ký, trời đổ trận mưa to. Thầy Trường dạy luyện thi đệ thất, có danh sách học trò thi đậu, báo tin vui. Ba nhường áo mưa cho con, còn mình đội mưa đến. Thầy và Ba bắt tay nhau, hỉ hả cười rạng rỡ, dù nước mưa còn chảy ròng ròng trên má. Tôi thấy thương Ba quá trời. Sao mà khổ dữ vậy! Tôi thấy đậu vô đệ thất, cho dù là của một trường trung học nổi tiếng nhứt miền Nam đi chăng nữa thì có gì là... lớn lao lắm đâu! Mấy thằng bạn học chung với tôi cũng thi đậu đó thôi.

 Rồi khi thi đậu tú tài một, tú tài hai, Ba cũng mừng như chính Ba thi đậu vậy!

 Khi vào đại học, Ba muốn con học Luật Khoa để trở thành luật sư chẳng hạn... Có lẽ đường hoạn lộ công danh của Ba đã từng bị xui xẻ, bị đối xử bất công quá hay chăng mà Ba không muốn con mình phải gánh chịu: Phải biết Luật để cho tụi nó sợ mà không dám áp bức lại mình?

 Tôi thì thấy những chồng “cours” là đã “ớn.” Lại phải tốn rất nhiều tiền để mua nên không muốn đi học Luật; dù trường đó, trên con đường Duy Tân, thơ mộng và có biết bao nhiêu là con gái, tiểu thơ con nhà giàu chưng diện, ẹo tới, ẹo lui...

 Ba nói một, hai lần thì tôi vẫn giả bộ tảng lờ. Nhưng lần thứ ba thì con Ba, cái thằng bất hiếu, cứng đầu cãi lại: “Con là con ếch mà Ba muốn con to bằng con bò! Không được đâu!”

Tôi đã nhẫn tâm làm tan nát niềm ước vọng của Ba tôi rồi; mà tôi cứ “thản nhiên” như không. Trời ạ!

Sau nầy vào Ðại Học Sư Phạm ra trường, đi dạy, một hôm Ba nói: “Thôi không làm luật sư, làm giáo sư cũng được!” Dù tôi chỉ là Giáo Sư Trung Học Ðệ Nhứt Cấp “quèn” mà thôi!

 ***

 Rồi 75 đến, nước mất nhưng nhà tôi nhứt định không tan. Cũng sống lầm than mà cũng không nghe Ba một tiếng thở than: Ði tù cải tạo sáu tháng vì là viên chức ngụy quyền, cấp trưởng ty. Trong tù, Ba tôi vẫn ăn mặc một cách đàng hoàng, tề chỉnh. Ðêm trong trại, Ba xếp quần áo lại, lót dưới gối trên đầu nằm cho thẳng thớm. Sáng ra, mặc áo bỏ vô quần, mang giày như thuở còn đi làm; dù mấy thằng cán bộ nhiều lần mỉa mai, phê bình Ba là còn giữ tác phong”tiểu tư sản”! Ba chỉ nói: “Mình mất nước chớ không mất tư cách!”

Ra tù, Ba lại trở về Sài Gòn, ra Lý Thái Tổ ngồi đánh máy mướn để nuôi đàn con: đứa thì đi tù vì là sĩ quan Ngụy, đứa thì bị đuổi! Ba vẫn ăn mặc rất đàng hoàng, vẫn áo trắng bỏ vô quần, vẫn mang giày, dù cũ, ra đánh máy mướn, làm đơn cho bà con cô bác Sài Gòn đi thăm nuôi chồng, con đang ở tù cải tạo.

 Cuộc sống cực kỳ khốn khó mà Ba vẫn không than van; vẫn không phiền trách ai đã làm cho mình mất nước!

 Bà con ở Hố Nai, có thời đi lính Liên Hiệp Pháp, xuống nhờ Ba đánh đơn gởi Tổng Thống Francois Mitterrand để xin đi định cư. Là người học chương trình Pháp, Ba viết thơ giùm họ cảm động làm sao đến nỗi ông chánh văn phòng của tổng thống hồi đáp ngay, rồi Ba dịch ra tiếng Việt cho bà con nghe là: “Tổng Thống Cộng Hòa Pháp đã nhận được thơ ông và đã chỉ thị chuyển hồ sơ qua Bộ Ngoại Giao để hoàn tất tiếp hồ sơ!”. Sau đó cũng có vài gia đình được đi Pháp định cư.

Có lần ông chủ một cây xăng ở Rạch Giá bị đánh tư sản, bị đuổi đi vùng kinh tế. Khổ quá, ông trốn về Sài Gòn và gặp lại Ba. Ông vẫn còn gọi Ba là ông trưởng ty như ngày cũ! Ông nói vì không có hộ khẩu nên không làm được thông hành và chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ; dù con ông đã gởi đơn về bảo lãnh. Ba lại giúp ông làm đơn gởi cho bọn công an, bộ phận xuất nhập cảnh ở đường Nguyễn Trãi Chợ Lớn và Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bangkok, Thailand. Ðơn thành công và ông được ra đi! Bùi ngùi từ giã, ông nói: “Tôi đi rồi, không biết chừng nào mới có dịp gặp lại ông trưởng ty.” Rồi rưng rưng nước mắt, bắt tay chào vĩnh biệt!

 Ðọc sử thế giới, tôi nhớ rằng Raoul Wallenberg (1912-1947), nhà ngoại giao Thụy Ðiển, đã cứu hàng chục ngàn người Do Thái ở Hungary thoát khỏi Holocaust, lò hơi ngạt của Phát Xít Hitler trong Thế chiến thứ hai. Ông đã cấp những thông hành bảo vệ (Schutz-Pass) và cho những người Do Thái ẩn náu trong những tòa nhà thuộc tòa đại sứ Thụy Ðiển ở hải ngoại. Ngày 17 tháng 1, 1945, Hồng quân Cộng Sản Liên Xô tiến vào Budapest, Hungary bắt ông giam cầm và ông chết ngày 17 tháng 7, 1947 trong nhà tù Lubyanka ở Moskva. Trái tim vĩ đại của một con người nhân hậu đã mãi mãi thôi đập nữa!

 Chủ Nghĩa Phát Xít và Chủ Nghĩa Cộng Sản đều tàn ác như nhau. Chính bọn chúng đã giết đi những người nhân hậu!

 Dĩ nhiên thân phụ tôi không thể cứu được nhiều nạn nhân như ông Raoul Wallenberg đã từng làm; nhưng chí ít Ba tôi cũng đã giúp được một số người, dù con số đó rất nhỏ nhoi, vượt thoát khỏi gông cùm cộng sản. Chỉ có một trái tim nhân đạo mới dám làm được như thế! Ba từng nói: “Giúp được ai, dù là chuyện nhỏ, để làm cho họ bớt thống khổ hơn là điều phải làm con ơi!”


***

Năm 81, thằng em thứ 5 của tôi liều chết vượt biên đến được Pulau Bidong, Mã Lai. Về Adelaide, Nam Úc định cư, nó lần lượt bảo lãnh Ba và các anh em qua. Cuối cùng cả gia đình đoàn tụ!

Ðêm nay, ngồi trước bàn phím computer, viết bài này do anh Hoàng Ðịnh Nam, báo Trẻ Garland Texas đặt bài, nhân Father's Day bên Mỹ, tôi lại nhớ đến cái bàn máy đánh chữ của Ba. Nhớ mười ngón tay xương xẩu, cong vòng của Ba gõ trên bàn đánh máy mà ngày xưa người ta thường cảnh báo về già sẽ bị đau tim mà chết. Nhưng Ba không sợ! Mười ngón tay đó của Ba đã nuôi anh em con ăn học, đủ để sống sót và làm lại cuộc đời nơi đất lạ quê người. Tụi con xin cảm ơn Ba!

 Ba bỏ tụi con đi, năm nay nữa là 15 năm chẵn. Tiếng gõ trên bàn máy chữ vẫn rào rào như tiếng mưa rơi... vẫn còn vang động đâu đây!Nhớ và thương vô cùng cái dáng của Ba còng lưng trên xe đạp trong những ngày ngược gió. Nhớ bánh mì Tám Cẩu Ba mua; mà đút vào miệng chưa kịp nhai tụi con đã gục đầu xuống bàn... mà ngủ tiếp. Nhớ cái bắt tay của Ba với thầy Trường ngày con đậu vào đệ thất.

 Người ta cần tới Father's Day, Chúa Nhựt, tuần lễ thứ ba của Tháng Sáu như ở Hoa Kỳ hay Chúa Nhựt, tuần lễ thứ nhứt của Tháng Chín ở Úc để kỷ niệm ngày từ phụ, để nhớ tới phụ thân!

 Còn con, con nhớ Ba mỗi ngày, khi còn sống... Và cho đến lúc nào đó con sẽ được gặp lại Ba!


Ðoàn Xuân Thu

POMPEII - ĐÔ THỊ LA MÃ CỔ ĐẠI BỊ CHÔN VÙI 15 THẾ KỶ



Hôm nay tôi lại đi về miền nam của nước Ý, băng qua thành phố Naples, một thành phố rất sầm uất, hiện đại, ăn chơi khét tiếng qua những câu chuyện về các băng đảng Mafia chuyên bảo kê sòng bài, buôn lậu, vận chuyển ma túy, bắn giết, mãi dâm...Tuy nhiên, chúng tôi đã bỏ qua nơi này, không ghé vào. Chương trình của chúng tôi là hướng đến thị trấn Pompeii, nơi từng có một xã hội ổn định, một nền văn minh rực rỡ của người La Mã cổ đại phát triển tại đây. Theo các tài liệu của địa phương, núi lửa Vesuvius đã phun trào nham thạch vào năm 0079 sau Công Nguyên, cả thị trấn Pompeii đã bị chôn vùi sâu bên dưới lòng đất sâu từ 4 đến 6 mét (13 đến 20 ft). Nham thạch và tro bụi từ ngọn núi lửa đã phun rất cao lên trời và rơi xuống một khối lượng khổng lồ, chôn vùi tất cả sự sống quanh đó, nâng mặt đất xung quanh chân núi cao lên hơn vài mét. Kể từ ấy, lòng đất nơi này đã lưu giữ một câu chuyện cổ với nhiều bí mật và huyền thoại về một đô thị sầm uất từng hiện hữu bên vùng biển Tyrrhenian, rồi bỗng dưng biến đi không để lại một dấu vết nào...
Pompeii nằm im sâu trong lòng đất thật nguyên vẹn đến 1520 năm sau, tức là năm 1599, thành phố của văn minh La Mã cổ đại này mới được người hậu sinh tìm thấy, nhưng chỉ thật sự được khai quật vào năm 1748 do một kỹ sư người Tây Ban Nha, ông Rocque Joaquin de Alcubierre, chịu trách nhiệm.



NGƯỢC GIÒNG LỊCH SỬ
Theo các nhà sử học và khảo cổ, Pompeii từng là một thành phố vô cùng văn minh và giàu có của người La Mã cổ đại. Họ đến và xây dựng thị trấn này từ khoảng 600 đến 700 năm trước Thiên Chúa giáng sinh. Những dấu tích khi khai quật đã cho thấy một nền văn minh thật rực rỡ từng hiện hữu ở đây. Các nhà khảo cổ cùng kết hợp các thí nghiệm khoa học, đã xác định chính xác ngày giờ núi lửa phun trào là 10 giờ sáng, ngày 24 tháng 8, năm 0079. Miệng núi Vesuvius nức ra, sức nóng từ bên trong lòng đất làm chảy khối đá bên trên của ngọn núi, theo sức nóng, nham thạch đã được phun lên cao 33km (20.5 miles) và kết tụ thành những viên bi đá rơi xuống. Hàng ngàn, hàng triệu, hàng tỷ những viên bi đá ấy đã từ từ rơi xuống thị trấn Pompeii trong trong nhiều ngày đêm liên tiếp. Một số người dân đã bỏ chạy, nhưng cũng rất nhiều người vẫn ở lại vì không lường được sự nguy hiểm khủng khiếp. Họ không ngờ rằng những viên đá nhỏ ấy cứ mãi tiếp tục rơi không ngừng nghỉ. Rồi vào một buổi sáng, tiếp theo những cơn mưa đá là một luồng không khí cực nóng từ miệng núi lửa đã phun ra bao trùm cả thị trấn, những người dân còn bám trụ lại với nhà cửa tại Pompeii đều chết ngay lập tức. Phổi của họ chứa đầy bụi nóng, da thịt và nội tạng khô đi thật nhanh, những thân xác của các nạn nhân liền được phủ kín, chôn vùi bởi bụi và đá. Cả một thành phố đã được “bảo quản” hàng nhiều thế kỷ bên dưới lòng đất. Một xã hội văn minh, một thương cảng từng hình thành và sinh sống ở đây trên dưới bảy, tám thế kỷ, chỉ trong một thời điểm thật ngắn ngủi vài hôm với thiên tai, đã bị chôn vùi hoàn toàn với những nhà cửa, dinh thự, con người và gia súc... Một số người chạy thoát qua một thị trấn khác, đã bàng hoàng kể lại nỗi thiên tai tại đây, nhưng có ai hiểu cho. Sau đó trời đã lại quang mây tạnh, miệng núi Vesuvius khép lại như chưa từng có gì xảy ra, chiều cao của ngọn núi bỗng thấp hơn (vì một khối lượng đá khổng lồ bị chảy ra, phun lên trời), mặt đất khu vực xung quanh bỗng cao hơn trước khác thường... nhưng chẳng có dấu hiệu gì cho thấy nơi đây từng hiện hữu một xã hội con người. Câu chuyện được các nạn nhân sống sót, mất nhà cửa, mất người thương yêu gào khóc kể lại, nhưng người ta nghe cứ như chuyện hoang đường... Và từ những hoài nghi, cái “hoang đường” ấy trở thành truyện cổ tích. Vài thế hệ sau, không còn ai xác định được chính xác đô thị cổ Pompeii từng hiện hữu ở vị trí nào. Tất cả như chìm vào quên lãng cùng dòng đời bể dâu...thương cảng không còn dấu vết, đất bồi đẩy bãi biển ra xa hơn mấy cây số.... Cho đến cuối thế kỷ XVI, chính quyền địa phương mới xác định có một thị trấn bị chôn vùi bên dưới lòng đất. Và rồi, nền văn minh rực rỡ ấy cuối cùng đã trở về với ánh sáng mặt trời và thế giới loài người vào giữa thế kỷ XVIII. Cả thế giới đã thảng thốt ngạc nhiên vì sự phân bố, quy hoạch trong xây cất cách đây trên 2000 năm đã đạt đến mức độ hoàn chỉnh không khác gì những đô thị hiện đại ngày nay, hoặc nói theo cách khác, quy hoạch đô thị của chúng ta đang sống hiện nay cũng chỉ là những thừa kế từ kiến thức của tiền nhân cổ đại mà thôi.



NGƯỜI LA MÃ CỔ ĐẠI VĂN MINH NHƯ THẾ NÀO?
Đã có một thời, nhân loại từng ngộ nhận các lãnh vực văn minh chúng ta đang nhận hưởng từ tiền nhân ngày nay như toán, vật lý, hóa học, thiên văn, âm nhạc, chữ viết, xây dựng, hội hoạ, triết học... là do người La Mã cổ đại tìm tòi và phát hiện ra. Tuy nhiên, với thời gian, các tài liệu lịch sử cho biết người La Mã cổ đại đã học được, hầu như trọn vẹn từ sau khi họ thống trị đất nước Hy Lạp. Người La Mã đã phát triển xã hội của họ thật rực rỡ từ nền tảng của văn minh Hy Lạp. Ngày hôm nay chúng ta vẫn có thể thấy qua các di tích như đền thờ, cung điện, những tác phẩm điêu khắc, những công trình xây dựng vĩ đại, những bộ lịch được tính toán thật chính xác trong thiên văn, những định luật toán học... Thị trấn Pompeii là một trong những đô thị cổ của nền văn minh La Mã cổ đại. Theo tư liệu của bộ du lịch tại đây, đô thị cổ Pompeii cũng chưa được khai quật trọn vẹn mà chỉ mới 40% diện tích được đào xới và phô bày với nhân loại ngày nay. Khoảng 60% diện tích của đô thị cổ đại vẫn còn nằm sâu bên trong lòng đất, đang được các nham thạch đá rắn chắn và khô ráo bảo quản. Có thể rồi vài trăm năm, vài ngàn năm sau, các thế hệ con cháu sẽ có những phương pháp khảo cổ, khai quật tối tân, tinh vi và ít bị hư hại hơn, sẽ lại tiếp tục công việc tìm về quá khứ và lịch sử này.

Pompeii, cũng như các cổ thành ở khắp nơi trên thế giới, có tường thành kiên cố bằng đá tảng bao quanh bảo vệ với sáu cổng vào. Một dấu hiệu mà tôi cho là rõ nhất trong quy hoạch đô thị của nền văn minh Hy Lạp – La Mã là một rạp hát bằng đá gọi là Amphitheatre, một sân vận động có hồ bơi, một quảng trường thoáng rộng để dân chúng họp mặt luôn luôn hiện hữu như một điều kiện bắt buộc. Các rạp hát cổ xưa và rạp hát ngày nay không khác nhau mấy về hình thức và bố cục. Tất cả đều được xây theo hình vòng tròn hoặc vòng cung. Các dãy ghế được cưa, đẽo, khắc bằng đá, xếp từ thấp đến cao. Toàn cảnh những rạp hát này trông như một cái tô, sân khấu biểu diễn là đáy tô, còn ghế ngồi của khán giả được xếp từ thấp đến cao xung quanh như vành tô. Khi đến Madrid ở Tây Ban Nha, tôi còn thấy nhiều rạp hát cổ của người La Mã có đường hầm đi ra giữa khu vực biểu diễn, mục đích cho các nghệ sĩ, các lực sĩ tranh tài hay các con thú trình diễn có thể xuất hiện gây bất ngờ cho khán giả. Cổ nhân cách đây nhiều ngàn năm đã tính toán sao cho âm thanh vang vọng lồng lộng vào vách đá xung quanh để khán giả ngồi ở đâu cũng có thể nghe được những âm thanh rất trung thực. Khán giả có thể nghe được người biểu diễn nói, đàn, hát một cách rõ ràng. Người xưa không có loa và âm thanh điện tử mà vẫn có thể trình diễn cho hàng ngàn khán giả nghe rõ mồn một. Khi ở Hy Lạp, tôi cũng đã từng đến thăm một rạp hát cổ trên 3500 năm thật khổng lồ với hơn 13 000 chỗ ngồi. Khi ca sĩ đứng vào một vị trí nhất định trên sân khấu và cất tiếng hát không có loa điện tử hỗ trợ, âm thanh nghe thật sắc sảo đã vang dội thật bất ngờ lên tất cả các hàng ghế khán giả xung quanh, nhưng nếu ca sĩ bước ra khỏi cái ô đó thì không còn nghe rõ nữa. Tôi đã ôm đầu vì không biết người thời nay tân tiến hơn hay người cổ đại mới thật sự là những con người thông minh (?). Thành phố Pompeii, đã có một Grand Theatre thật quy mô 5000 chỗ ngồi, ước chừng đã được xây từ 200 năm trước Thiên Chúa giáng sinh. Hiện nay những hàng ghế bằng đá trên các nấc thang từ thấp tới cao vẫn còn nguyên, tuy nhiên các chi tiết trang trí mỹ thuật, chạm trổ đã không còn nữa.
Đi sâu hơn chút nữa là những con đường lát đá cẩm thạch vẫn còn nguyên vẹn và hệ thống dẫn nước thật hoàn hảo. Tôi cảm thấy chạnh lòng khi được biết người La Mã cổ đại ở đây đã từng có hai hệ thống nhận và thoát nước riêng biệt. Họ nhận nước sạch từ các mạch nước, dòng suối từ trên núi chảy xuống và họ thải nước bẩn theo một lối dẫn khác ra hồ chứa nhân tạo. Không có sự nhập nhằng giữa nước sạch và nước thải. Lúc ấy, tôi chỉ muốn đưa tay lên miệng, tự cắn mình một cái thật đau, cho khỏi cảm giác chua xót, vì ở quê hương Việt Nam của tôi hiện nay, người dân vẫn còn sử dụng nước dùng và nước thải trên cùng một nguồn nước, cùng một dòng sông; mà nên nhớ, đây là hai thời đại sống cách nhau 2000 năm.... Người hướng dẫn viên lại chỉ cho tôi xem những căn nhà còn sót lại ở một con đường từng là phố thị. Dấu vết của các bệ đá bày hàng, bếp lò của nhà hàng sát ngay cửa ra vào tại mặt tiền cũng giống như cách các nhà hàng thời thượng vừa nấu nướng vừa cho người qua lại đứng xem. Bảng hiệu được ghi bằng tiếng Latin với tên của cửa tiệm và tên của chủ nhân. Đi ngang qua một căn nhà hai tầng, tôi thấy rõ đường ống thoát nước thải cầu tiêu của một toilet xây trên tầng thứ hai của căn nhà, nhìn tựa như máng xối của chúng ta ngày nay và được nắn bằng đất nung. Vào khu vực dân cư, từng căn nhà được phân chia rõ với phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp. Bệ nấu ăn trong nhà bếp cũng cao vừa ngang tầm đứng của người nội trợ, nồi được làm từ đất sét nung, các muỗng, thìa được làm bằng kim loại, vì màu hen gỉ, tôi không biết kim loại đó được nung rèn bằng sắt hay bằng đồng...


CON NGƯỜI CỔ ĐẠI TỪNG BIẾT LÀM DU LỊCH VỚI KHÁCH SẠN VÀ CẢ THANH LÂU
Trong đô thị này có cả một nhà trọ với quầy tiếp tân được xây bằng đá vẫn còn nguyên vẹn giống như các quầy reception hiện nay ở các khách sạn, tiếp sau đó là dấu vết của những căn phòng nhỏ. Một điều thú vị mà tôi và những du khách tham quan đã bật cười khi bước vào một căn nhà được giới thiệu là “thanh lâu”, nằm đối diện “khách sạn”. Có lẽ nơi đây được xây lên và họ “ăn theo” cái “khách sạn” kia để buôn hương, bán phấn. Căn “thanh lâu” này có tám phòng rất nhỏ, mỗi phòng có một cửa sổ và một bệ đá. Trên tường vẫn còn rõ nét các bức họa vẽ cảnh những đôi trai gái đang hành lạc mây mưa. Cuối dãy của “thanh lâu” có một căn phòng dùng làm phòng tắm rửa và toilet, được che chắn bởi một bức tường đá. Đây là dãy nhà ít bị hư hao nhất trong toàn cổ thành Pompeii, cho nên chúng tôi không được phép mở đèn máy chụp hình vì ánh sáng có thể làm phai màu các bức tranh vẽ trên tường. Dấu tích của căn“thanh lâu” cổ này cho thấy mãi dâm là một nghề rất xưa, đã có từ thời cổ đại.



AI LÀ NHỮNG NẠN NHÂN BỊ CHÔN VÙI?
Theo các chứng tích của khảo cổ, nham thạch từ núi lửa được phun cao lên trời, rơi xuống như một cơn mưa, từ từ chôn vùi cả thành phố. Khi những nhà khảo cổ đào sâu vào những căn nhà, họ bắt gặp nhiều xác đàn ông, đàn bà và gia súc đã hóa đá. Vì không ngờ cơn mưa đá cứ rơi mãi, nên nhiều người đã chọn ở lại, một số gia đình giàu có cũng cho các nô lệ ở lại giữ nhà. Dấu vết để biết được một nô lệ là vành đai bằng sắt đeo ngang bụng. Đây là một loại “cùm cố định” để nhận biết một người nô lệ, cái “cùm” đi theo họ suốt đời, nếu họ có trốn cũng sẽ dễ dàng bị nhận ra, sẽ bị bắt trở lại. Tôi thấy có một xác đàn bà đã hóa thạch trong tư thế ngồi, hai bàn tay che mặt và mũi, rồi những xác khác là nô lệ đàn ông té ngửa ra trong tư thế đau đớn, trên bụng vẫn còn nguyên vành đai sắt. Nghe nói khi đào khảo cổ, người ta còn phát hiện những lỗ bộng trong đá mang hình dáng con người và cả gia súc. Lý do vì những thân xác ấy đã bị tiêu hủy. Các nhà khoa học đã bơm thạch cao vào những khoảng rỗng trong đá ấy để cho ra những thân xác con người, thú vật, tất cả đều ở trong tư thế hoảng sợ cho thấy họ chết không bình an. 



TRỞ VỀ VỚI HIỆN TẠI
Vì câu chuyện xảy ra quá lâu, đã mấy ngàn năm trong lịch sử, nên tôi không bị hoảng sợ khi nhìn các xác chết hóa thạch, nhưng cảm giác khâm phục, ngạc nhiên khi chứng kiến cổ nhân đã từng có đời sống vô cùng văn minh hơn chúng ta tưởng. Ở thời kỳ này, nhiều nơi trên thế giới còn sống hoang sơ theo từng bộ lạc, chưa có quần áo mặc, ngủ trong hang hoặc trên cây, chỉ biết săn bắt và nướng thịt trên lửa...thì ở Pompeii đã có những quy hoạch như một khuôn mẫu của đô thị hiện đại ngày nay với tiệm rượu, quán ăn, cửa hàng, khách sạn, những biệt thự nguy nga bằng đá cẩm thạch, có mạch nước ngầm phun lên được sử dụng như vòi nước công cộng trong khu phố, tư gia có cả toilet xây trên lầu, có lò bánh mì trong bếp, có nồi và tô chén bằng đất nung, có muỗng thìa bằng kim loại vô cùng mỹ thuật... Được biết chỉ mới 40% của Pompeii được khai quật và tôi cũng phải mất gần bốn tiếng đồng hồ để đi được chỉ hơn một nửa của khu vực này.

Ngày xưa, khi chưa có dịp tận mắt ngắm nhìn những di tích khảo cổ cổ đại, tôi vẫn tưởng kiến trúc và xây dựng ngày nay là do con người hiện đại nghĩ ra. Tuy nhiên khi được tận mắt xem các di tích, các công trình nguy nga cổ đại, tôi mới biết tất cả những giá trị văn minh chúng ta đang sử dụng ngày hôm nay đều đến từ những ý tưởng và kiến thức của tiền nhân cổ xưa, bắt nguồn từ nền văn hóa khởi thủy Hy Lạp và La Mã. Trở ra khỏi cổ thành, nhìn những lều bạt thô sơ bày bán hàng lưu niệm bên ngoài, nhìn cảnh một bà du khách đang mua rất nhiều quà lưu niệm, bà này và người bán hàng phải cầm máy tính bấm đi bấm lại các bài toán cộng trừ đơn giản... tôi mỉm cười khi chợt nghĩ: cả một thành phố kiên cố, văn minh rực rỡ sau lưng tôi đã được người xưa dùng toán học rất phức tạp tính toán...còn con người chúng ta hôm nay, mấy ai trong chúng ta còn có thể giải được những bài toán cộng, trừ, nhân, chia nhiều số thập phân, hay các phương trình toán phức tạp mà hoàn toàn không dùng đến máy tính như người xưa nữa? 

Tôn Thất Hùng

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015

AMSTERDAM / Tôn Thất Hùng


AMSTERDAM
Tôi đến Amsterdam, thủ đô của Hòa Lan vào cuối tháng mười vừa qua. Trời se lạnh nhưng gió biển ở đây lại không gây cảm giác lạnh buốt xương như ở nhiều nơi khác tại Châu Âu. Khi còn trên máy bay, ngồi gần một bà người Úc, biết tôi sẽ ở lại Amsterdam vài hôm, bà đã nói: “Anh bạn trẻ cứ yên tâm, tôi đã sống và làm việc ở đó 20 năm, bình yên, an toàn, con người tốt bụng, dân chúng nói tiếng Anh như gió, đi bộ, đạp xe, nhảy lên bus, đi tàu, đi metro, kiểu gì rồi cũng tới nơi anh muốn, sẽ không thất vọng đâu”... và quả như vậy, Amsterdam rất xứng đáng là thủ đô văn hóa của Hòa Lan, một quốc gia vừa được Liên Hiệp Quốc xếp hạng 4 trong danh sách các quốc gia lý tưởng nhất để sinh sống trên thế giới. Đối với du khách đến Hòa Lan và Amsterdam, họ không phải đến vì chất lượng cuộc sống mà còn ở nét văn hóa và nghệ thuật ở đây. Đi vòng, đi vo, đi xuôi, đi ngược, chúng ta có thể chỉ cần hai đến ba ngày là hết các hang cùng, ngõ hẻm của thành phố, nhưng để đi thăm hết tất cả những viện bảo tàng nghệ thuật và văn hóa ở đây, đôi khi thời gian một năm vẫn là chưa đủ !!!



VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ
Hòa Lan nằm hoàn toàn trong khu vực Tây Âu, giáp ranh với Đức, Bỉ và biển Bắc Hải. Đây là một quốc gia nằm dưới mực nước biển. Theo các tài liệu lịch sử, Ceasar Đại Đế trong thời La Mã cổ đại rất muốn xâm chiếm Hòa Lan. Theo năm tháng, nơi đây đã là vùng đất của các tranh dành ảnh hưởng, đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh, để lại nhiều dấu vết đa văn hóa của nhiều sắc dân khác nhau. Sau Công Nguyên, các tiểu vương đã cai quản nhiều vùng đất nhỏ và độc lập khác nhau ở vùng đất mà nay gọi là Hòa Lan. Kể từ đầu thế kỷ XV, vào năm 1433, một thể chế chính trị chính thức đã thống nhất, gom các vùng đất tự trị lại, tuy nhiên Hòa Lan vẫn nằm trong vòng kiểm soát của triều đình Tây Ban Nha. Nói một cách khác, Tây Ban Nha chỉ cho Hòa Lan tự trị chứ không cho độc lập. Mãi đến năm 1648, sau nhiều cuộc đấu tranh của người Hòa Lan, Tây Ban Nha đành công nhận Hòa Lan là một vương quốc độc lập hoàn toàn. Thời gian này, hải quân của Hòa Lan rất mạnh, nhất là cuối thế kỷ XVII. Cũng như các vương triều hùng mạnh khác ở Châu Âu, các đoàn quân thiện chiến Hòa Lan trên các chiến thuyền đã rời bến cảng đi khắp nơi trên thế giới để xâm chiếm thuộc địa, tìm đất mới, buôn bán nô lệ và mở rộng tầm ảnh hưởng. Họ đã đến Mỹ Châu, Phi Châu, Á Châu. Tuy nhiên, không lâu sau đó, tầm ảnh hưởng của Hòa Lan đã từ từ thu hẹp lại vì sự xuất hiện của người Anh và Pháp có phần mạnh mẽ, hung bạo hơn. Trong thế kỷ XX, quân đội của Hòa Lan không còn mạnh mẽ nữa, Hòa Lan cũng không còn là một đế quốc hung hăng. Đức Quốc Xã đã vào xâm chiếm Hòa Lan trong Đệ Nhị Thế Chiến, đã giết hại rất nhiều những thành phần quốc gia và những người có nguồn gốc Do Thái tại đây. Ngày nay, trên bản đồ thế giới, lãnh thổ của Hòa Lan vẫn còn có thêm ba hòn đảo nằm ở khu vực biển Caribbean, đó là Bonaire, Sint Eustatius, và Saba. Hệ thống hành chánh giữa ba hòn đảo này với chính quyền Hòa Lan, cũng như với Liên Hiệp Châu Âu có nhiều điều khoảng phức tạp, tuy nhiên chúng ta có thể tạm hiểu một cách nôm na rằng đây những tỉnh xa của vương quốc Hòa Lan. Ba hòn đảo này khá độc lập với mẫu quốc Hòa Lan trong sinh hoạt chính trị. Điều này có lẽ gần giống với tình trạng giữa HongKong và chính quyền Anh Quốc trước đây, hoặc Macao và chính quyền Bồ Đào Nha (khi hai hòn đảo này chưa bị trao về cho Trung Cộng).



THÀNH PHỐ CỦA NHỮNG KÊNH ĐÀO TRỮ TÌNH
Amsterdam là thành phố của những kênh đào rất lãng mạn và trữ tình. Đêm đầu tiên ở đây, tôi đã nhảy lên một con thuyền để được chở đi quanh nhìn thành phố về đêm. Từ trên bờ, thành phố ban ngày nhìn khác, ban đêm nhìn khác và khi chúng ta ngắm các ngôi nhà, các lâu đài lung linh trong ánh đèn đêm ngay từ bên dưới những con thuyền sẽ lại là một bức tranh lung linh khác hẳn. Du khách ở đây không quá đông như Venice hay Florence của Ý, hoặc như Paris hoa lệ của Pháp, mà rất vừa phải, không gây cho tôi một sự mệt mỏi do đám đông ồn ào, náo nhiệt đem đến. Dọc theo các con kênh đào, người dân địa phương bắt ghế ngồi thư thả nhìn trời mây, dòng nước thật bình an.

Có một đặc điểm ở đây là các con kênh đào thì nhiều, nhưng lại rất ít cầu. Cho nên muốn đi qua phía bên kia của con kênh đào, đôi khi phải đi vòng rất xa. Cũng là chuyện ít cầu này ở trên các con sông lớn đã làm tôi một phen hú vía. Đêm đầu tiên tôi đi xe điện metro về lại khách sạn, cách cổ thành khoảng hai mươi phút, mà khi đã ra khỏi cổ thành rồi thì cứ như đến một thế giới khác, rất vắng vẻ. Vì chưa quen đường nên tôi đã đi sai cầu thang khi “exit” khỏi nhà ga. Nếu là ở các thành phố khác, đi sai “exit” thì chỉ cần rẽ vòng từ đường cái trở lại rất đơn giản, tuy nhiên ở đây, hướng ra đã đưa tôi qua phía bên kia của bờ sông. Đứng nhìn giòng sông rộng lớn vào giữa đêm khuya vắng người qua lại, tôi thấy khách sạn của mình lại ở bờ bên kia của giòng sông, nghĩ rằng cứ đi xuống chút nữa, sẽ tìm một cây cầu băng qua...và tôi càng đi càng xa. Hơi chột dạ vì khu vực này đường phố quá vắng, không một bóng người. Các hàng quán hai bên đường đã đóng cửa từ sau 6:00 chiều, taxi cũng không lai vãng đến đây....Từ xa có một bóng người đạp xe đến, tôi đã vẫy anh ta để hỏi đường về khách sạn. Anh chàng tốt bụng đã chỉ tôi hướng đi và chúc tôi về khách sạn sớm. Tuy nhiên anh ta đã chỉ sai, tôi đi hoài mà không thấy cầu vượt. Lúc này thì tôi đã không còn thấy được khách sạn của tôi nữa....Các con đường nhỏ dần, cong veo, giòng sông cũng uốn khúc đã làm tôi mất phương hướng... Gió mùa thu thổi xào xạt, khi thổi mạnh lại tạo ra những tiếng hú, các cành cây chờn vờn trong đêm tối, nhìn quanh không một bóng người lai vãng. Tôi khá lo và cố bước đi thật nhanh, nhưng không biết mình đang đi đâu. Chợt thấy xa xa có ánh đèn của tiệm MacDonald, tôi liền rảo bước đến, hỏi đường các nhân viên bán hàng. Họ đề nghị tôi quay trở lại trạm metro rồi dò đường tiếp chứ họ....chịu thua. Hỏi họ quay về lại trạm metro có xa không, họ nói: "very far". Tôi tái mặt vì nhìn đồng hồ thấy mình đã loanh quanh gần ba tiếng đồng hồ rồi và khi ấy đã hơn 2:00 giờ khuya. Chợt sực nhớ đến WIFI internet miễn phí của tiệm MacDonald như một cứu cánh, tôi liền lôi điện thoại ra nối mạng internet, dùng Google Map và thở phào nhẹ nhõm. Cái smart phone đã cho tôi nguyên một bản đồ chi tiết hướng dẫn bắt đầu từ nơi tôi đang đứng, phải rẽ quẹo qua hàng chục con hẻm mới đến được một cây cầu gần nhất để qua băng qua sông, đi về hướng khách sạn. Cuối cùng thì đêm đó tôi đã trở về khách sạn an toàn, cũng không hiểu vì sao mình đã đi lạc quá xa. Bị lạc đường một lần, tôi khá “tởn”, những hôm sau tôi luôn để ý lối “exit” và còn nhanh nhẩu chỉ đường cho những người có vẻ như là du khách giống tôi, họ cũng vừa ra khỏi xe điện, đang lớ ngớ tìm đường...


GIAO THÔNG CÔNG CỘNG
Tại Amsterdam rất ít taxi, các con đường ở khu trung tâm lại nhỏ, cho nên tôi thấy đa số người dân địa phương và du khách đề xử dụng xe đạp hoặc giao thông công cộng. Hệ thống giao thông công cộng ở Amsterdam rất tiện lợi, bao gồm từ xe điện, xe bus, tàu thủy, vé xe cho một chuyến đi khá rẻ (2.60 Euros). Tất cả đều tự động và không có nhân viên ngồi bán vé hay trả lời các câu hỏi của hành khách. Vé được bán bằng máy, còn tuyến đường thì hành khách tự tìm hiểu qua bản đồ có sẵn trong từng nhà ga hoặc trong các toa xe, mà những nơi này cũng không có nhân viên. Ngày đầu tiên tôi rất bỡ ngỡ, mặc dù tất cả chỉ dẫn đều có tiếng Anh. Nghĩ đến thành phố Toronto (Canada), nơi tôi đang sống, ngoài nhân viên ngồi bán vé ra, còn có các em sinh viên làm thiện nguyện viên đeo bảng hướng dẫn du khách tại những trạm subway và các quảng trường lớn trong thành phố. Tưởng tượng một du khách ở xa đến, họ thèm được nói chuyện và cảm thấy yên tâm với người địa phương đến cỡ nào.... Nghĩ đến đây, tôi bỗng cảm thấy nhớ... nhà Toronto quá !!!





CÁC VIỆN BẢO TÀNG
Tại Amsterdam có hơn 50 viện bảo tàng và nhà triễn lãm lớn nhỏ khác nhau. Trong đó có nhiều viện bảo tàng mang tầm vóc thế giới như Hermitage Museum, Van Gogh Museum, Rijksmuseum, Stedelijk Museum...
Tại các kiosk, các văn phòng du lịch ở đây có bán một loại thẻ gọi là “I am Amsterdam” với giá 47 Euros cho 24 giờ, hoặc 57 Euros cho 48 giờ...., xem như một loại “thẻ thông hành” đi qua hầu hết các cánh cửa ở Amsterdam, từ nhảy xuống tàu thủy, bước lên xe bus, đi vào trạm metro, cũng như đa số các viện bảo tàng và nhà triễn lãm tại đây. So sánh những vé vào cửa các viện bảo tàng từ 10-15 Euros, vé đi du thuyền trên các con kênh đào là 15 Euros thì dường như mua thẻ sẽ lợi hơn. Tuy nhiên sau những ngày ở tại đây, mua cái thẻ ấy rồi, tôi lại thấy không lợi, bởi vì muốn vào xem một viện bảo tàng, du khách phải xếp hàng khoảng 3 tiếng đồng hồ, vào xem khoảng 5 tiếng đồng hồ nữa thì cũng chỉ xem được một hoặc hai cái bảo tàng trong một ngày. Di chuyển bên trong phố cổ lại chủ yếu là xe đạp và đi bộ, ít cần phải nhảy vào xe bus hay xe điện nhiều lần trong ngày. Nếu cần phải di chuyển thì vé cho một “single trip” lại rất rẻ. Lần sau có đến đây, tôi sẽ không mua thẻ nữa mà vào tham quan chỗ nào thì mua vé chỗ nấy, đi xe gì mua vé xe nấy. Không cần phải mua “thẻ thông hành” nữa, rất rườm rà, đắc tiền mà lại không xử dụng hết công dụng của nó.




NGÔI NHÀ CỦA BÉ ANN FRANK
Như chúng ta đã biết, Hòa Lan cũng như nhiều quốc gia khác tại Châu Âu đã bị Đức Quốc Xã xâm chiếm trong Đệ Nhị Thế Chiến. Những người gốc Do Thái và những ai theo phe Đồng Minh đều bị Phát Xít lùng bắt và tiêu diệt.

Năm tôi 7 tuổi, Mẹ tôi lấy trong tủ sách gia đình ra một cuốn sách, nói tôi hãy xem, đó là cuốn sách dịch có tựa đề "Nhật Ký Anne Frank". Mẹ bảo tôi ráng đọc để hiểu thêm về cái thiện và cái ác của con người. Trong cuốn sách có nhiều điều, nhiều chi tiết tôi không hiểu lắm vì còn quá bé, Mẹ tôi phải giải thích, khi đã hiểu rồi thì tôi cảm thấy sợ... Sau này qua Canada học trung học, cô giáo cũng đưa tôi tác phẩm này, bảo xem kỹ để viết bài luận văn nộp... Cách đây 7 năm, tôi cũng tình cờ mua được một DVD phim cổ điển trắng đen, từng đoạt được 3 giải Oscar, đó là The Diary of Anne Frank, . Nhưng với bộ phim này, tôi chỉ xem nửa chừng thì ngưng không xem nữa vì cảm thấy buồn quá, khi đến đoạn gia đình cô bé sắp sửa bị lính Đức bắt thì tôi đã tắc máy, ngồi thừ ra gần cả tiếng đồng hồ... và cho đến hôm nay đến Amsterdam, lý do chính của tôi lại là để thăm ngôi nhà của bé Anne Frank.
Từ sáng sớm tôi đã đón xe điện ngầm đi vào phố cổ Amsterdam, đứng xếp hàng trên 3 tiếng đồng hồ. Đoàn người từ khắp nơi trên thế giới đã đến đây đứng chờ và xếp hàng uốn lượn qua mấy dãy phố. Khi tôi xếp hàng gần hai tiếng đồng hồ mà vẫn chưa vào được bên trong, có mấy gia đình đem con đến, thấy xếp hàng dài quá, họ đã ngần ngừ, do dự. Tôi đã động viên họ và nói dối chỉ mới xếp hàng được một tiếng thôi, và hàng di chuyển rất nhanh. Nhìn các em bé 9 tuổi, 10 tuổi được cha mẹ đưa đến, tôi không muốn các em phải ra về. Các em phải được chứng kiến tận mắt để bổ sung cho bài lịch sử đã học. Bởi vì như một sử gia đã nói: "Những ai không học lịch sử, sẽ để cho lịch sử lặp lại"
Trong hình, căn nhà thứ 4 (đếm từ trái qua phải) là nơi Anne Frank đã cùng gia đình trốn tại đó trong hai năm trời. Tòa nhà này cũng từng là cửa tiệm bán gia vị của gia đình cô bé. Khi Đức Quốc Xã truy lùng và tiêu diệt người Do Thái, cả gia đình họ đã trốn lên tầng trên, có cánh cửa bí mật được ngụy trang như một kệ sách. Bên dưới cửa hàng vẫn buôn bán bình thường, được các nhân viên thân tín điều hành, mỗi ngày thức ăn được tiếp tế đưa lên, và mọi chuyện đều được giữ bí mật đối với các công nhân khác đang làm việc tại đây. Cô bé Ann Frank mỗi ngày đều viết nhật ký ghi lại những gì đã xảy ra với cô và gia đình trong khoảng thời gian ấy, bằng giọng văn đơn giản, ngây thơ, cô bé viết về tình hình chiến sự được cha cô nghe lén qua radio và đài của phe đồng minh ra sao, cô viết về thức ăn quá thiếu thốn mà các nhân viên cửa hàng cũng không biết tìm đâu ra trong giai đoạn chiến tranh để tiếp tế cho ngần ấy người, về sự sợ hãi lo sợ không biết bị bắt khi nào....Cho đến một ngày có kẻ tố cáo, lính Đức đã xông vào bắt tất cả đưa vào trại tập trung. Khi cô bé cùng gia đình bị lính Phát Xít Đức dằn co và lôi đi, một số đồ đạc đã rơi ra, trong đó có một cuốn sổ cùng những nét chữ và hình vẽ nghệch ngoạc của Anne Frank. Một nhân viên của cửa hàng đã lượm lên, cất làm kỷ niệm.
Vài ngày sau đó, lính Đức đã cho xe đến tịch thu toàn bộ tài sản trong căn nhà ấy. Cả gia đình họ Frank khi vào trại tập trung đã bị tách ra. Bé Anne Frank, chị gái và bà mẹ bị giam chung, còn cha của cô bé bị đưa vào một trại khác. Họ đã phải chịu nhiều nhục hình, tra tấn, hành hạ như hàng triệu tù nhân khác trong các nhà tù của Phát Xít thời ấy.... Vài năm sau, khi Phát Xít Đức thua trận, đầu hàng quân đồng minh, những người tù được giải thoát, chỉ có người cha là ông Otto Frank còn sống sót; bé Anne Frank, chị gái, cùng mẹ đã không trở về...Người cha đau khổ sau đó đã nhận lại cuốn nhật ký của con gái út từ người nhân viên cũ và đó là tất cả gia tài ông có được. Vài năm sau (1947) ông đã quyết định xuất bản cuốn nhật ký của con gái, cũng như dành trọn cuộc đời còn lại đấu tranh cho nhân quyền và lên án các tội ác chiến tranh, ông qua đời năm 1980 tại Thụy Sỹ.
Ngay sau khi vừa phát hành, cuốn sách lập tức trở nên nổi tiếng, được dịch ra 67 thứ tiếng khác nhau, ước chừng có 30 triệu ấn bản đã phát hành khắp thế giới, được dựng lại nhiều lần trên sân khấu và quay thành phim, kể cả sân khấu London, Broadway và màn ảnh đại vĩ tuyến Hollywood. Năm 1960, ông Otto Frank quyết định biến căn nhà này của ông tại Amsterdam, nơi mà cả gia đình ông từng trốn tránh trong hai năm, trở thành một bảo tàng. Chính nơi này bé Anne Frank, trong 2 năm trời đã ghi lại những trang nhật ký hồn nhiên, cảm động của một bé gái mới lớn. Hiện nay căn bảo tàng Anne Frank's House đón trên 1 triệu khách mỗi năm vào xem, và họ đến từ khắp nơi trên thế giới. Viện bảo tàng này hiện nay hoạt động như một tổ chức từ thiện, được điều hành bởi một ban quản trị, mục đích chính là giáo dục cho những thế hệ kế tiếp về tội ác chiến tranh. Theo các số liệu của ban quản trị, số lượng người tham quan mỗi năm mỗi gia tăng. Giá vé vào cửa là 9 Euros.



HOA TULIP, HOA THỦY TIÊN VÀ KỸ NGHỆ SẢN XUẤT PHÔ MAI
Du khách đến Hòa Lan không thể bỏ qua các chuyến đi xa, ra các vùng ngoại ô thăm các sinh hoạt, cuộc sống làm nông nghiệp, chăn nuôi của người Hòa Lan bên ngoài thành phố. Như chúng ta đã biết, hoa Tullips và Thủy Tiên tại Canada đều được nhập cảng từ Hòa Lan. Hòa Lan có kỹ nghệ trồng hai loại hoa này và xuất cảng đi khắp nơi trên thế giới. Rất nhiều các du khách mua những củ hoa này tại các cửa tiệm bán đồ lưu niệm đem về làm quà. Tuy nhiên với các du khách từ Bắc Mỹ thì không thể đem cây cối từ nước ngoài về được. Tôi thấy nhiều du khách Á Châu và Châu Âu đã dừng lại mua.
Theo các số liệu thống kê, dân số Hòa Lan năm 2013 là 16 triệu 800 ngàn dân. Kỹ nghệ chăn nuôi bò, cừu, dê... rất phát triển. Riêng về bò, họ đã có trên 8 triệu con bò cho ra các sản phẩm về sữa mỗi ngày (cứ 2 người dân thì có 1 con bò). Cheese (phô mai) làm từ sữa bò theo công thức của người Hòa Lan được cả thế giới ưa chuộng. Vào thăm một của hàng chế biến cheese, quý vị sẽ choáng ngợp vì cả trăm mẫu mã, mùi vị cheese khác nhau. Có lẽ vì cheese và sữa luôn đầy đủ với người dân mà trong vòng khoảng 100 năm nay, chiều cao của người dân Hòa Lan đã gia tăng. Chiều cao trung bình của người Hòa Lan được cho là cao nhất thế giới hiện nay (185cm hay 6 ft). 


CỐI XAY GIÓ - LÀNG CHÀI - GUỐC MỘC - HẢI SẢN
Cối xay gió là một trong các biểu tượng tiêu biểu của văn hóa Hòa Lan có từ thế kỷ thứ XIV. Các cối xay gió này dùng sức gió làm động cơ để làm rất nhiều công việc như xay ngũ cốc, ép dầu, tát nước ra vào các dòng kênh đào... Với nền khoa học kỹ thuật tân tiến ngày nay, các máy móc khác chạy bằng dầu, bằng điện đã cho năng xuất cao hơn. Tuy vậy, các cối xay gió này đã trở thành biểu tượng của đất nước Hòa Lan từ rất lâu, cho nên chính phủ vẫn duy trì một số cối gió, vẫn giữ cho hoạt động. Ngay tại các cối gió là những công xưởng sản xuất những món hàng được gia công theo kiểu cổ truyền bằng sức gió, cho du khách có thể mua đem về làm quà. Những cối xay gió này đều được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Để đi đến những nơi này từ Amsterdam, quý vị có thể mua vé tham gia các tour 1 ngày được bán tại các kiosk và các văn phòng du lịch ở khu trung tâm, bên ngoài Central Metro Station.

Bên cạnh đó quý vị cũng có thể kết hợp đi thăm các làng chài đánh cá, thưởng thức các món ăn hải sản (mà chủ yếu là cá) tại đây. Nói về hải sản thì các làng chài ở Châu Âu chỉ có thể đánh bắt được nhiều cá hồi, cá thu, cá ngừ, cá nục, cá điêu hồng...và một ít tôm. Tôi là người ít thèm ăn cá, cho nên nếu nói về ăn hải sản, tôi vẫn thích đến các vùng biển của Canada như Vancouver để ăn cua, về Halifax ăn lobster và snow crab, king crab hơn chỉ là ăn cá....Một món quà khác thuộc loại thủ công mỹ nghệ mà du khách cũng nên tìm mua là các đôi giày gỗ được đẽo bằng tay. Đây là “giày truyền thống” của người Hòa Lan ngày xưa, họ mang các đôi giày gỗ này để có thể di chuyển giữa sình lầy dễ dàng.


TỪ GIÃ AMSTERDAM VÀ ĐẤT NƯỚC HÒA LAN
Người Hòa Lan vô cùng hiền lành, đất nước Hòa Lan rất quy cũ và thanh bình. Có lẽ vì bản tính ít hiếu chiến của họ mà trong quá khứ, họ đã chịu lùi bước trước người Anh, Pháp và Tây Ban Nha khi tranh dành thuộc địa từ Châu Mỹ qua đến Châu Phi và Châu Á. Khi tìm hiểu trên các phương tiện truyền thông, tôi lại giật mình vì tình trạng cướp bóc, móc túi ở Amsterdam lại rất cao. Tôi có chia xẻ và hỏi thăm điều này với vài người chuyên nghiên cứu về xã hội Hòa Lan, họ đều cho biết đây là một vấn nạn mà chính quyền chưa có cách giải quyết thấu đáo vì khi biên giới Châu Âu mở rộng, kinh tế của cộng đồng chung phát triển nhưng cũng kéo theo nhiều điều bất ổn. Họ nói nếu làm thẳng tay thì lại vướng vào vấn đề nhân quyền và kỳ thị. À, điều này thì tôi hiểu, nếu cứ sắc máu và tàn bạo như Phát Xít hay Cộng Sản thì xã hội sẽ không văn minh, mà văn minh và dân chủ nào cũng có cái giá của nó.

Đất nước Hòa Lan ngày nay tập trung vào các lãnh vực khoa học kỹ thuật, nông nghiệp, chế biến thực phẩm. Các sản phẩm của họ đều có tiếng tăm trên các thị trường thế giới. Hòa Lan cũng là quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, mãi dâm (rõ nhất tại khu phố đèn đỏ ở Amsterdam), và trợ tử, tức là cho phép ngành y tế hỗ trợ các bệnh nhân bị bệnh đau đớn không còn muốn sống, giúp họ ra đi thanh thảng, không đau đớn. Các vấn đề này đã từng là những tranh luận nẩy lửa khi đề cập đến các quan điểm giữa nhân quyền và truyền thống. Hiện nay trên thế giới đã có 17 quốc gia hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính (trong đó có Canada), 50 quốc gia cho hợp pháp hóa một phần hoặc toàn phần trong vấn đề mãi dâm (không có Canada), và có 8 quốc gia cho phép trợ giúp tự tử vì lý do nhân đạo (không có Canada, riêng tại Hoa Kỳ - một vài tiểu bang đã hợp pháp hóa vấn đề này). Đây là những đề tài nhạy cảm, luôn là những tranh luận không bao giờ có hồi kết thúc, bởi mỗi quan điểm được nêu ra đều dựa vào những giá trị nhân quyền hoặc vào một niềm tin của từng cá nhân. Tại Hòa Lan, tuy tranh luận vẫn còn, nhưng qua nền sinh hoạt dân chủ với phiếu bầu của đa số dân chúng, họ đã có quyết định cuối cùng cho luật pháp hiện hành của quốc gia, như chúng ta đã biết hiện nay

Sinh nhật buồn Còn buồn hơn chiều chủ nhật buồn nằm trong căn gác đìu hiu!


“Sinh nhật buồn” là một tản văn của nhà văn Khuất Đẩu, ông hiện sống ở miền Trung. Ông viết về điều mà ai đang sống ở VN đều chứng kiến trong những ngày này: sinh nhật đảng CSVN, với một cái nhìn sâu sắc, hài hước và trầm tĩnh. 

Sinh nhật buồn
Khuất Đẩu

Đang ngồi chờ cạo mặt ráy tai ở một quán hớt tóc đầu con hẻm, bỗng nghe lệnh của tổ dân phố phát ra oang oang trong loa phóng thanh: “Để mừng Đảng mừng xuân, mọi nhà đều phải treo cờ tổ quốc!
Chợt nhớ ra ngày mai, mồng ba tháng hai là ngày sinh của Đảng. Và Đảng 85 tuổi. Như thế cũng đã gần thượng thọ rồi. Đảng hơn tôi 10 tuổi. Nếu là trong giới viết lách, có thể gọi thân mật bằng anh, rủ nhau đi cà-phê tán gẫu. Nhưng Đảng không phải là người, không hình thù mặt mũi, chỉ “văn kỳ thanh chứ bất kiến kỳ hình”, có muốn nâng ly chúc mừng cũng không biết chúc ai.
Nhưng Đảng cũng không phải là ma. Đảng có mặt ở mọi nơi, mọi chỗ. Gần, thì tổ trưởng dân phố, công an khu vực. Xa, thì chủ tịch tỉnh, chủ tịch nước. Chót vót là tổng bí thư.
Đảng là một tổ chức chính trị trùm cả nước. Cái bóng của Đảng to đến nỗi trông lên chỉ thấy Đảng chứ không thấy Trời.

Sức mạnh của Đảng thì khỏi phải nói. Nào đánh Pháp, đuổi Mỹ... Ơn Đảng còn hơn cả ơn Chúa! Nhưng Đảng cũng là một cái gì chưa trọn, cứ phải xây dựng hoài mà chưa xong. Đảng cũng thối tha không kém, nên cứ phải làm trong sạch mãi.
Giả sử, Đảng được sinh ra trong một gia đình nào đó, có nghĩa là một sinh vật hẳn hoi, thì chẳng biết Đảng đực hay cái. Đảng không có chim, cũng không có bướm, vậy mà trong 85 năm, Đảng sinh ra đến hàng triệu đảng viên. Đảng hơn cả mẹ Âu Cơ, sinh đẻ cứ như cua, cá. Mà cua cá thì anh cứ việc xơi, chứ đảng viên, đụng vào là bỏ mẹ.
Trong số hàng triệu đảng viên, có nhiều người cùng tuổi với Đảng. Nghĩa là Đảng mới chào đời đã kịp sinh con, như cụ bà Phạm Thị Trinh, cũng đã 85 tuổi Đảng (101 tuổi đời). Đảng thì lớn mạnh vẻ vang, còn cụ thì tù đày bầm giập. Cùng tuổi với Đảng nhưng chẳng được ai chúc mừng, kể cả con cháu.
Vậy thì Đảng là cái gì mà mọi nhà đều phải treo cờ? Đến nỗi, hơn 50 năm trước, Trần Dần phải kêu lên: Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà/ chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Lá cờ mà sau đó ông gọi là lá cờ trừ ma.
Khi tôi cạo mặt ráy tai xong, ra về, cũng chưa thấy cờ như thời Trần Dần, cũng chẳng thấy ai tới hạch hỏi “người ta đổ xương máu để có được cây cờ, chỉ có mỗi một việc treo lên mà không treo, phản động à?” như hồi 75.
Bật TV, thấy Tổng bí thư đọc lê thê một bài mừng Đảng giữa một hội trường to rộng, trước những đảng viên ưu tú, áo quần sang trọng tinh tươm, nhưng người đọc thì giọng buồn mệt mỏi, người nghe thì mặt cứ trơ ra, chẳng một chút xúc động cứ như những tượng sáp.

Người ta bảo Đảng bây giờ cũng như cái xác trong lăng kia, chỉ chờ ngày chôn thôi. Tôi thì tôi không dám tin như vậy. Chẳng những thế tôi còn đâm ra sợ Đảng như nhân vật của Kafka, có thể đang hoá thân thành một con gì đó hơn cả con sâu. Bởi thế, cứ tới ngày sinh của Đảng thì tôi (và 85 triệu người không Đảng) lại buồn. Còn buồn hơn chiều chủ nhật buồn nằm trong căn gác đìu hiu!

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Bốn Mươi Năm..Nhớ Về.. – Lê Như Đức

 – Đức nè, mày có về Việt Nam thì lẹ lẹ đi chứ vài năm nữa tụi việt cộng nó hiến nước mình cho mấy thằng chệt là mày hết về luôn.
Liên gọi cho tôi. Bố Liên làm rất lớn trong đảng cộng sản VN. Sau tháng Tư năm 75, gia đình Liên là một trong những gia đình cán bộ gộc được gửi vô Sàigòn sớm nhất. Bố Liên được cấp một căn biệt thự to đường Duy Tân với đầy đủ đồ đạc do người chủ di tản để lại. Liên chỉ học với tôi duy nhất năm lớp 10 trường Lasan Taberd rồi trường bị giải thể vì cứ bị học sinh ném lựu đạn cay. Chúng tôi mất liên lạc từ đó. Tuy dân việt cộng thứ gộc nhưng Liên lại sớm giác ngộ hơn ai hết. Có lẽ do ảnh hưởng của ông bố. Tôi nhớ có lần Liên tâm sự với tôi:
– Ba tao tối nào cũng lén nghe nhạc vàng miền Nam ngày xưa. Tao hỏi. Ông thở dài ngao ngán: Nhạc này mới là nhạc. Mới gọi là thưởng thức, chứ nhạc ngoài kia toàn là thứ gì đâu. Mày biết có lần ông hỏi tao tại sao họ ngu quá để đánh mất miền Nam. Tao cũng tiếc cho dân miền Nam. Sàigòn đẹp quá. Bỏ xa Hà Nội.
Tôi trả lời Liên:
– Nhạc của VC ngoài đó không phải là nhạc. Nó là cái gì đó mà chẳng ai biết gọi là gì vì nó không có tiếng gọi trong ngôn ngữ Việt Nam. Có người gọi nó là hiếp dâm âm nhạc. Còn lý do chính yếu mất miền Nam, theo tao nghĩ là do kế hoạch của Ngũ Giác Đài quyết định bỏ miền Nam chứ không phải tụi mày hay ho gì đâu. Mày cứ hỏi ba mày coi tại sao quân miền Nam không được Bắc tiến mà cứ phải trải quân cố thủ mọi nơi để cho tụi việt cộng tha hồ tập trung quân đánh. Rồi nữa, mùa nước lũ, miền Bắc có con sông Hồng, đê cao hai chục thước. Nếu máy bay B52 Mỹ thả dọc cái đê thì cả miền Bắc ở dưới nước ba thước. Quân miền Nam ngồi hút thuốc cũng thắng. Mày có biết tại sao phi công Mỹ không được phép thả bom vào con đê của sông Hồng không?
Liên lắc đầu. Tôi tiếp:
– Tại vì nếu miền Nam thắng. Trung cộng có cớ đánh Việt Nam thì cuộc chiến sẽ trở thành người Mỹ giúp dân Việt đánh Tàu phù chứ không phải người Mỹ giúp dân miền Nam bảo vệ tự do, ngăn cộng sản. Các cường quốc lúc nào cũng tránh đụng nhau. Mỹ tránh Tàu. Tàu tránh Nga. Nga tránh Mỹ. Do đó chúng phải tìm trái độn để thử sức nhau. Mày thấy Bắc Hàn và Nam Hàn cũng như vậy. Quân đội Nam Hàn rất hùng mạnh. Muốn dập thằng Bắc Hàn chỉ vài ngày là xong. Nhưng Mỹ không cho. Lúc nào cũng có hơn năm chục ngàn quân Mỹ đóng tại biên giới Nam Bắc. Tiếng là phòng ngừa hai bên đụng độ nhưng thật ra ai cũng biết là sợ mấy ông Nam Hàn nổi điên vác quân qua Bàn Môn Điếm đập. Lúc đó Trung cộng có cớ sẽ tràn quân qua giúp anh em Xã Hội Chủ Nghĩa. Cuộc chiến sẽ biến dạng thành Mỹ giúp Hàn quốc đánh Trung quốc. Cái này cả Ngũ Giác Đài lẫn Mạc Tư Khoa đều không muốn.
Sau này nhờ Internet và Facebook, Liên tìm được tôi và rủ về Việt Nam. Tôi hỏi Liên tình hình trong nước. Liên nói:
-Ba tao nói chúng nó ký bán nước trong đại hội Thành Đô tháng 9 năm 1990 lâu rồi. Năm 2020 chúng sẽ giả bộ trưng cầu dân ý nên theo chệt hay Mỹ. Dân bầu xong chúng cho thùng phiếu vào thùng rác rồi đưa thùng khác trưng ra cho mọi người thấy hơn 99% dân đồng ý theo chệt. Chúng sẽ ra lệnh cho quốc hội soạn thảo văn thư gửi cho Trung quốc xin được làm một tỉnh. Thằng chệt sẽ giả bộ từ chối lần đầu ra đây ta không thèm. Rồi chúng lại gửi văn thư khác năn nỉ thêm một lần nữa. Thằng chệt sợ từ chối hoài làm mất lòng người anh em môi hở nanh lạnh nên đành đứt ruột miễn cưỡng gật đầu. Sau này lịch sử sẽ không bắt tội đảng cộng sản của chúng bán nước vì chúng nói cái này là toàn dân nhất trí đồng ý bình bầu và quốc hội chỉ làm theo ý dân thôi.
Tôi thở dài, không biết nói gì vì nếu Việt cộng chơi cái chiêu dân bầu quốc hội viết đơn xin thì nước mất là cái chắc. Bốn mươi năm qua chúng đầy đọa hành hạ người dân Việt Nam không biết bao nhiêu mà kể giờ còn muốn bán nước luôn. Vừa tham, vừa hèn vậy mà cứ vỗ ngực tự khen ta đây anh hùng, đánh thắng đế quốc Mỹ.
Trưa ngày 30 tháng 4 khi tiếng súng chấm dứt, anh em tôi đứng trên lầu nhà chú ruột tôi trên đường Chi Lăng buồn bã nhìn những người lính Việt Nam Cộng Hòa cởi bỏ áo lính, mặc áo thun trắng cúi đầu lặng lẽ đi dọc hai bên đường. Tôi còn thấy nhiều người hàng xóm âm thầm leo lên mái nhà mình giấu đồ có liên hệ tới chê độ cũ.
Đài phát thanh Sàigòn ì à vang lên giọng ca nhạt nhẽo của Trịnh công Sơn với bài “Nối Vòng Tay Lớn” thật mỉa mai.
Chiều hôm đó, đoàn quân mường mán, ngơ ngơ ngáo ngáo đi ngay chính giữa con đường Chi Lăng để vào bùng binh Sàigòn. Nhìn chúng nhe răng cười toe toét, bố tôi thở dài than với anh em chúng tôi:
-Cậu tránh chúng tất cả ba lần. Cuối cùng cũng không thoát khỏi cái giống khốn nạn này. Lần đầu bỏ làng trốn vào Hưng Yên được năm năm. Rồi bỏ Hưng Yên trốn vào Nam được hai mươi mươi năm. Tính bỏ Việt Nam đi Mỹ nhưng lại không thành.
Chỉ ngày hôm sau thôi, tôi thấy được những đổi ngược hoàn toàn không những trong luân lý cổ truyền của dân tộc mà cả trong ngôn ngữ hằng ngày nữa.
Cũng trên con đường Chi Lăng, tuần sau tôi được chứng kiến hai cô gái bị chúng bắt tròng cái bảng to ghi ba chữ “tôi làm điếm” trước ngực rồi cho đám con nít kéo dây buộc cổ lôi đi. Cuối đám đông, một tên cầm cái bảng ghi chiến tích chúng tóm được: “Mỹ Ngụy để lại hơn một trăm ngàn điếm”.
Ông anh cả tôi nói nhỏ với tôi: “Phải tìm đường vượt viên chứ ở với cái lũ vô học này thì thà chết còn hơn”. Vô học cộng thêm vô thần thành thứ vô liêm sỉ và vô lương tâm.
Để xoá bỏ những thành tích của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, các cán ngố bầy trò đốt sách văn hoá đồi trụy. Bao nhiêu sách vở văn chương lẫn khoa học đều được tịch thu, chất thành đống giữa đường rồi cho các em thiếu nhi quàng khăn đỏ châm lửa đốt. Tôi còn nhớ trước khi đốt, tên cán bộ ốm tong, đen thui như khúc củi, nhe hàm răng vẩu cầm cuốn tạp chí có hình hai người hôn nhau đưa cao lên hét: “Đốt hết thứ văn hóa đồi trụy này. Xem nè. Mỹ Ngụy nó đang…bú mồm”.
Dân Sàigòn phải nhức đầu khi bệnh viện Từ Dũ chuyên khoa về sinh sản bị đổi tên thành “Xưởng đẻ”. Đồng hồ tự động, được các đồng chí phán thành đồng hồ không người lái, hai cửa sổ. Nhà vệ sinh nam, nữ bắt viết lại thành “ỉa nam, ỉa nữ”. Bộ đội mở miệng ra là “hồ hởi, phấn khởi” những “cụm từ kách mệnh” nghe thật “bức xúc” vì nó “hiển thị” một “sự cố” mà không thể “triển khai” mọi “phẩm chất” hầu “kích cầu” hay “tiếp thu” được. Dân miền Nam cứ phải nghe những danh, động, tĩnh và trạng từ quái lạ mà không có cả trong văn chương bình dân lẫn ngôn ngữ dân gian. Để rồi cuối cùng, hiểu hay không hiểu, thì Sàigòn cũng phải mang tên con cáo (hồ) đuôi to (vĩ đại), xác bị ướp lạnh.
Những câu hò tình tự, những bài thơ yêu đương, những văn phẩm trữ tình nay trở thành văn chương hiện thực Xã Hội Chủ Nghĩa: “Vừa thấy Đỉnh bước vào sân nhà mình, cái Đẹp quẳng cái gánh hai thùng phân to xuống, đáp ngay: Em muốn anh quản lý đời em. Thế anh có chịu tiếp thu em không?”. Chuyện tình mà đọc cứ nghĩ như chuyện buôn bán phân bón. Bốn mươi năm nay dù uống thuốc xổ liên tục, tôi cũng vẫn không tiêu được cái văn phong “cách mạng lãng mạn” này được.
Nói theo đúng ngôn từ của các cán ngố là “giải phóng” làm dân Sài thành “phỏng cả giá..”.
Để dậy các cán “giải phóng” học cách ăn nói của người văn minh thành thị, dân miền Nam làm thơ, chế nhạc và viết vè cho các cán nghe chơi. “Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý. Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do”. Hai câu thơ trên đã nhanh theo những người vượt biên đi khắp nơi trên thế giới vì nó vừa thốt lên một thực trạng của hai con đường nổi tiếng Công Lý và Tự Do bị đổi tên, vừa cay đắng nói lên tình trạng nhân quyền trong nước của người dân bị chà đạp. Người trong ngoài nước không ai không biết đến hay một lần nghe qua câu thơ để rồi mãi mãi không quên cùng với bài vè “Cây đinh” để nói đến tình trạng thiếu lương thực và kiểm soát chặt chẽ cái bao tử của người dân:
“Ở với Hồ Chí Minh. Cây đinh phải đăng ký. Trái bí cũng sắp hàng. Khoai lang cần tem phiếu. Thuốc điếu phải mua bông. Lấy chồng phải cai đẻ. Bán lẻ chạy công an. Lang thang đi cải tạo. Hết gạo ăn bo bo. Học trò không có tập. Độc Lập với Tự Do. Nằm co mà Hạnh Phúc”.
Không những dân miền Nam mà chính ngay những người lính bị Việt cộng buộc “sinh Bắc, tử Nam” phải đau đớn than những tàn nhẫn của Việt cộng gây ra. Anh lính Nguyễn Văn Được, 19 tuổi, của Đoàn 215 Đặc công thủy bộ, đã lén viết lên một mẩu giấy bao thuốc Nam Định: “Dép râu dẫm nát đời son trẻ. Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai”.
Muốn thâu tóm tất cả các sĩ quan của chế độ cũ vào các trại cải tạo, nhà nước Việt cộng dùng cái chiêu lưu manh lừa đảo rẻ tiền. Đầu tiên họ ra thông cáo hạ sĩ quan và lính chỉ học ba ngày và học ngay địa phương mình đang ở. Sau ba ngày họ thả những binh lính cũ về để làm mồi nhử các sĩ quan ra trình diện. Sau đó họ ra thông cáo cho những sĩ quan đi học tập mười ngày. Mọi người tới nơi tập trung tại các trường học. Tối hôm đó xe tải tới chở tất cả vào rừng sâu để thanh lọc. Một số lớn bị đày ra Bắc, sống trong rừng hơn hai mươi năm.
Ngoài các sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, có một số không nhỏ cũng vào các trại cải tạo để học tập tốt, hầu hiểu biết hết những nghị quyết của “kách mệnh”. Ông chủ tiệm phở Hiền Vương ở cuối đường Duy Tân là một thí dụ điển hình. Ngày xưa ông ỷ có chút ít công giúp đỡ cho một số đồng chí đặc công nằm vùng ven đô. Khi đóng cửa tiệm vì giá gà tăng lên vùn vụt, ông làm một cái bảng thật to dán ngay trước cửa tiệm nói rõ lý do đóng cửa. Ông được công an thành xuống mời đi giữa đêm khuya.
Sau hơn hai năm học tập tốt, ông được thả về. Ông thấu hiểu được câu châm ngôn “thứ nhất ngồi lì, thứ nhì đồng ý” nên kể từ đó ông không nói năng gì dù chỉ là một lời không đáng chi. Gà để dành bồi dưỡng cho cán bộ cao cấp mà ông còn muốn nấu cho nhân dân xơi, kiếm lời kiểu tư sản mại bản thì thật là không hiểu công ơn của đảng một chút xíu nào cả. Lại còn bầy đặt viết giấy tuyên truyền chọc quê chính sách nhà nước dán trước cửa.
Bỏ tù các sĩ quan xong, bước kế là vẹm tìm cách tống người dân ra khỏi thành phố để chiếm nhà bằng chương trình kinh tế mới, thủy lợi và thanh niên xung phong. Thanh niên xung phong đi thủy lợi, đi xây dựng những khu kinh tế mới để người dân tự nguyện hiến nhà trong thành phố cho các cán rồi thanh thản chui vào rừng sâu an nhàn sung sướng hoà mình sống với lý thuyết cộng sản.
Nghe đảng ca ngợi các công trình thủy lợi dắt nước vào nông trường cải tạo đất phèn và thanh niên xung phong cất nhà lá cấp cao trong khu kinh tế mới mà toàn dân phát thèm, đều nhường nhau và đẩy nhau đi trước. Được vài tháng sau, gia đình nào cũng tự động xung phong về lại thành phố.
Bà Thu trong xóm tôi sống bằng nghề bán đậu hũ nấu đường mỗi tối. Gia sản bà chỉ có cái gánh chè bán đậu hũ và cái chòi nhỏ dựng bên hông nhà của một người di tản tháng tư. Căn nhà người di tản được cấp cho đồng chí Ba Kiếm, trưởng công an phường. Bà Thu sinh sống, ăn ngủ, tắm rửa và nấu đậu hũ trong một diện tích không quá sáu mét vuông bên hông nhà đồng chí cấp cao trông không đúng tinh thần vô sản chút nào cả. Do đó bà bị kết tội tiểu tư sản, làm ăn cá thể nên phải đi “kinh tế mới” để hông nhà đồng chí cán bộ không có tụi tư bản phản động dòm ngó.
Những đổi thay ngu muội, những oan khiên tù đày, những lừa bịp tham lam chiếm của cướp đất đã đẩy người dân Việt tìm đường vượt biên cho dù biết được chỉ có một phần ba sống sót, theo ước tính của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc.
“Cái cột đèn nếu có chân cũng phải bỏ nước ra đi”. Một thuyền nhân đã trả lời phóng viên đài BBC một câu nói lịch sử khi lên án chế độ cộng sản tại Việt Nam sau năm 1975.
Theo thống kê của Red Cross thì khoảng 750,000 thuyền nhân và hơn 50,000 người đi đường bộ thành công. Như vậy hơn 1.6 triệu người đã bỏ xác trong biển Đông và trong rừng Cam Bốt khi đi tìm tự do. Không một dân tộc nào liều mình chết cho tự do như dân Việt Nam.
Trong cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 chỉ có 40,000 người chết mà người ta đã phải than: “Tự do, tự do. Người ta đã nhân danh mày mà phạm bao nhiêu tội ác”. Vẫn hai chữ “Tự do”, bốn mẫu tự, cướp mất 1,600,000 sinh mạng của người dân Việt. Vậy mà giờ đây có nhiều người vẫn chưa thấy được họa cộng sản, còn muốn bắt tay hy vọng chúng thay đổi.
Tôi vượt biên bẩy lần. Lần thứ năm tôi bị thị đội Vũng Tầu bắt nhốt rồi đưa vào trong rừng Bình Ba, đất Long Khánh cải tạo bốn tháng. May mà mẹ tôi tìm được mối chạy năm cây vàng cho bà đại tá thanh tra công an toàn miền Nam nhận làm cháu bảo lãnh về cải tạo tại gia để “thị đội” thả tôi về Sàigòn.
Trong tù vượt biên tôi biết được nhiều chuyện cười ra nước mắt. Chuyện đi tù của bác Vị làm tôi cứ mỗi lần nghĩ tới bác là không nhịn được cười. Bác Vị bỏ xứ Quảng nghèo đói để vào Vũng Tầu kiếm sống sau khi vợ bác mất. Xui cho bác là ngay cái ngày bác đáp xe đò vào thì công an miền Trung đánh điện vào Vũng Tầu báo cáo sẽ có một nhân vật chỉ huy phục quốc vào Vũng Tầu để xây đựng hạ tầng cơ sở. Nhân vật này có ba đặc điểm rất dễ nhận diện cho dù trong bến xe đò đông người: đi một mình, da đen và thấp người. Bác Vị bị Ba Giao, trưởng phòng công an, nhận diện khi bước xuống xe đò.
Bác Vị bị thị đội tó ngay. Sau hai năm biệt giam và bị tẩm quất tới thổ cả máu tươi không tra ra được gì, bác được cho ra ở với đám tù vượt biên chúng tôi. Bác Vị kể: Tao hỏi Ba Giao có thấy thằng nông dân nào da trắng không? Ăn không đủ làm sao không bé người? Vợ tao mới chết thì có con nào nó khùng mới lấy cái thằng nghèo xác nghèo xơ không nhà cửa như tao? Mà nó có muốn lấy, tao cũng không dám vì tao nuôi thân tao chưa xong thì sao dám lấy ai? Vậy mà nó cũng không tin. Nó còn hỏi sao đi có một mình? Tao tức quá hoá liều nên trả lời: vợ chết thì đi một mình chứ đi cặp với vợ mày hả? Nó lại đánh tao tiếp.
Tôi hỏi bác Vị sao chúng tại chịu tin bác, không tra tấn bác nữa. Bác trả lời: Thì bị đánh tao đau quá, tao ức nên cứ khai tầm bậy tầm bạ chơi. Tao cứ cho chúng một số tên công an ngoài miền tao ở. Nó gọi ra trung báo cáo. Công an ngoài đó nói đó là cán bộ bí thư quận hay phường trưởng. Bị vài vố, chúng không tin những gì tao khai nữa, nhưng ít đánh hơn. Một hôm, phúc đáo tâm linh, tao nghĩ ra nên nói với Ba Giao là nó phải ăn mừng nếu tao thật là nhân viên chỉ huy phục quốc. Nó hỏi tại sao? Tao nói nhân viên chỉ huy mà chỉ học tới lớp năm, không biết đọc bản đồ, không biết ăn nói thuyết phục thì chỉ huy ai. Phục quốc sẽ chẳng làm gì được cả nếu có người chỉ huy như tao nên phải ăn mừng là đúng rồi. Nó nghe lọt tai nên đổi tao từ tù phục quốc thành tù vượt biên để khỏi báo cáo bắt lầm người. Thật ra đánh tao hoài cũng chán, chả có được gì. Tao đâu còn thịt nữa đâu mà đánh.
Việt cộng muốn có nhiều vàng hơn nên tổ chức bán chính thức cho những người muốn ra đi mà không sợ bị bắt tội vượt biên. Tiếng là cho những người Việt gốc Hoa hồi hương nhưng thật ra ai có tiền đóng là thành Hoa kiều ngay. Tôi được đổi tên thành Lý Phu Trình, xuống Rạch Giá rồi vào Tắc Cậu vượt biển qua Mã Lai.
Sau chín tháng sống trong trại tỵ nạn Mã Lai Paulo Bidong hay Buồn Lo Bi Đát, anh chị em tôi tới định cư tại thành phố Houston, bang Texas năm 1980. Được tổng thống Reagan ký cho học bổng với tiền mượn học nhẹ phân lời, phần lớn các sinh viên thời đó vào các đại học Mỹ học ngành kỹ sư cho lẹ. Tôi chọn ngành học tôi thích, kỹ sư cơ khí, vì gia đình tôi chuyên nghề dệt. Từ nhỏ tôi đã thấy máy móc và dính dầu nhớt đầy người.
Sau này tôi mới thấy may mắn hơn vì ngành cơ khí dễ xin được làm contract hơn các ngành khác. Làm contract được trả lương gấp đôi, làm overtime thì được tính 1.5 lương. Làm direct ngày hôm nay không còn lợi như xưa vì hầu hết các công ty hủy bỏ lương hưu (pension). Đã vậy nhiều hãng còn bắt làm free nữa. Tôi vừa đi làm contract, vừa mở hãng riêng để không bị các công ty môi giới ăn chận.
Gần ba mươi năm sống và làm trên đất Mỹ, tôi thấy người Việt mình tài giỏi và chăm chỉ vô cùng. Năm xưa tôi đang làm cho chương trình trạm không gian quốc tế (International Space station) thì được hãng Boeing gửi qua California để mang toàn bộ chương trình phi thuyền con thoi (Shuttle) về Houston sau khi Boeing mua lại phần hành không gian của hãng Rockwell. Tôi được quyền vào coi tất cả những tài liệu và thấy tên người Việt rất nhiều. Ngoài những họ lớn như Lê, Lý, Nguyễn, Trần, Phạm, Trương.. tôi còn thấy cả những họ lạ như họ Thạch, họ Phí. Có thể nói các kỹ sư Mỹ gốc Việt đã có đóng góp không ít cho phi thuyền con thoi. Riêng trạm không gian quốc tế thì nhiều hết biết. Tôi thấy cả kỹ Đức gốc Việt, Pháp gốc Việt nữa. Nhìn về cố quốc nghĩ mà đau lòng, chế cái xe gắn máy cũng không được.
Trong khi chuyển tiếp tài liệu và hồ sơ về Houston, có một kỹ sư Mỹ gốc Tàu tên Greg Chung làm cho Rockwell hơn hai mươi năm chuyển qua làm cho nhóm tôi. Greg Chung ăn cắp hết tài liệu về Shuttle và Space Station gửi về Tàu cộng. Ngoài ra không biết làm sao mà Greg mò vô được cả chương trình phi đạn Delta 4 của Boeing ăn cắp tài liệu nữa. Tôi bị phiền hà rất nhiều vì chỉ có account của tôi mới có thể vào cả ba chương trình: shuttle, space station và Delta 4. Tôi lại là dân Asian.
Greg Chung bị bắt và xử 15 năm tù (muốn biết thêm về Greg xin vào Google đánh tên Greg Chung). Trước mặt quan tòa, Greg la lên “Tôi có làm gì sai đâu. Tôi yêu nước này mà”. Nhưng Greg sợ quá nói lộn. Greg chỉ yêu Trung quốc thôi.
Sau này mỗi khi làm với kỹ sư gốc Tàu, tôi thường để ý thấy họ hay bị dính vào cái bánh vẽ “Một nước Trung Hoa Lớn” của đảng cộng sản Trung quốc như Greg. Tôi giả bộ chửi tư bản Mỹ là họ dính kế tôi chửi theo ngay. Lúc nào họ cũng muốn làm nước Mỹ tan nát hầu đưa Trung quốc lên số một.
Có một lần tôi hỏi Jerry Hou, một anh Tàu du học xong xin được ở lại Mỹ làm như Greg Chung:
– Tại sao anh không xin về Tàu làm để xây dựng đất nước? Anh cứ ở Mỹ rồi chửi tư bản Mỹ ác độc là làm sao? Anh xin vào quốc tịch Mỹ để làm gì? Anh đưa tay tuyên thệ trung thành với đất nước này xong quay qua chửi nó. Anh đã gian dối với chính lương tâm cùa anh.
Ai mà chả muốn nước mình mạnh, dân mình giàu. Nhưng tìm cách hại và ăn cắp tài nguyên của nước khác thì quá hèn mạt và vô lương tâm. Chửi tư bản nhưng cứ bám lấy tư bản để moi tiền là đặc tính cố hữu của người cộng sản. Tham lam, độc ác và ngu dốt là bản chất ruột của công an và chính quyền vô sản. Tuyên truyền dối trá, áp dụng chính sách ngu dân và thắt chặt cái bao tử người dân là chính sách để trị của Mác Xít Lê Nin Nít.
Tôi không biết lịch sử sau này sẽ phê phán cựu tổng thống Nguyễn văn Thiệu ra sao. Tuy nhiên chỉ câu nói bất hủ của ông: “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” đủ để cho ông xứng đáng đứng vào hàng ngũ lãnh đạo chống họa cộng sản.
Tôi rời hãng Boeing một phần cũng vì vụ Greg Chung. Cũng may chương trình phi đạn Delta 4 không thành công mấy làm mấy cái phi đạn của Trung cộng bắn lên cũng xìu xìu ển ển theo bác Mao lao xuống lòng đại dương. “Thiên bất dung gian” mà nị.
* * *
Thấy tôi ngần ngừ mãi không trả lời, Liên chán nản:
– Chắc mày cũng thấy ba tao nói đúng. Nước mình sẽ mất vào tay mấy thằng chệt rồi.
Tôi bừng tỉnh, trả lời Liên:
– Cũng chưa chắc đâu. Trung cộng trông giàu mạnh chứ thật ra như nằm trên thùng thuốc nổ. Sự phân chia giàu nghèo trong xã hội ngày càng cách xa nên bất mãn ngày càng tăng. Luật lệ thì tù mù, đảng nói sao cũng đúng. Cướp đất của nông dân rồi đến cướp nhà công nhân. Nền kinh tế dựa trên độc tài, dối trá và tham nhũng thì chẳng bao lâu cũng loạn. Chỉ cần một nhóm lửa nhỏ khơi lên, Trung quốc sẽ trong biển lửa. Tàu cộng nát, thì việt cộng tan. Hội nghị Thành Đô vô thùng rác. Thế cờ sẽ khác. Tao sẽ về nước thăm mày.
– Nếu được như vậy thì may cho nước mình. Khuya rồi mày đi ngủ đi. Tao đi làm đây.
Sáng hôm sau, tôi mở Facebook ra, Liên viết gửi tôi bài thơ Việt kiều với lời nhắn:
– Tao lén đọc được bài thơ này trên internet nên gửi tặng thằng bạn vượt biên của tao.
Ngày đi, đảng gọi “Việt gian”,
Ngày về thì đảng chuyển sang “Việt kiều”.
Chưa đi: phản động trăm chiều,
Đi rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng!
Lê Như Đức