Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Thầy Tàu


Nghĩ vụn bên cốc cà-phê sáng (20140121):


            Bài Vài dòng tâm sự của ông Đỗ Lai Thúy đăng trên tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, Hà Nội, số 2/2008 -- có một điểm nhỏ vương vấn mãi trong tâm trí tôi. Gọi là "nhỏ", vì nó không nằm trong chính đề của bài viết, vốn nói về sự lưỡng phân hầu như bất tận, và việc tìm kiếm một cách vô vọng sự hợp nhất,  giữa Kitô giáo và Nho giáo, mà một người bạn của tác giả, GS Nguyễn Khắc Dương đã trải qua trong suốt một đời.

            Điểm vương vấn đó nằm trong câu: "...bởi ta với Tàu, dẫu sao, cũng là những nước đồng chủng đồng văn."

            Thoạt nghe qua hay xem lướt, chẳng có gì vướng vấp. Đối với đại chúng tây phương, người Việt và người Tàu chẳng khác gì nhau. Có nhiều người Việt tự nhận là người Tàu, khai là người Tàu trên giấy kiểm kê dân số ở quốc gia định cư sau khi vượt biên thành công. Điều đó cũng dễ hiểu, vì ông cha mấy đời của họ mới tới Việt Nam lập nghiệp, họ còn nói được tiếng Tàu, và bản thân họ, còn cảm thấy gắn bó với cố quốc của cha ông hơn là vùng đất tạm dung lần thứ nhất, Việt Nam.

            Có một số người Việt khác, tuy trong gia phả mấy mươi đời không dính gì tới Tàu, nhưng cũng nói rằng "người Việt vốn là người Tàu" vì mẹ Âu Cơ của họ là người Động Đình Hồ "bên Tàu". Những người này hoặc không biết, hoặc biết không tới, là vùng Động Đình Hồ ở bờ Nam sông Dương Tử bên Tàu lúc bấy giờ không thuộc nước Tàu, mà là giang sơn của vua Đế Lai.

            Đất tổ của người Việt cũng không thuộc nước Tàu, mà thuộc nước Xích Quỉ của vua Kinh Dương Vương, là một tam giác ngược rộng lớn, đáy là vùng châu thổ sông Dương Tử, phần nhỏ là vùng châu thổ sông Hồng và đỉnh là vùng Thanh Hóa ngày nay.

            Hán tộc lúc đó lập quốc ở bờ Bắc sông Dương Tử. Không phải vì Hán tộc tràn qua sông, xâm chiếm đất Việt rồi thì mẹ Âu Cơ bỗng dưng trở thành người Tàu! Nói như vậy chẳng khác nào bảo người Chàm vốn gốc Việt, các vua họ Chế và danh tướng Chế Bồng Nga của họ là người Việt, vì vương quốc của họ từng đóng đô ở Qui Nhơn, thuộc bản đồ Việt Nam ngày nay.

            Thực vậy, đâu phải vì người Hán chiếm cứ Việt Đông, tiêu diệt dân tộc Bách Việt, chỉ còn Lạc Việt, Âu Việt và một phần nhỏ của Mân Việt tồn tại ở vùng châu thổ sông Hồng mà người Việt trở thành ...gốc Tàu! Đâu phải vì người Việt xóa mất vương quốc Chiêm Thành mà người Chàm trở thành gốc Việt! Đâu phải vì người Việt "mở mang bờ cõi" xuống tận Hà Tiên Châu Đốc mà người Thủy Chân Lạp trở thành gốc Việt!

            Vậy thì người Việt và người Tàu "đồng chủng" cách nào?

            Về huyền thoại, người Trung Hoa bảo họ là con cháu ông Bàn Cổ, thọ tới 18 ngàn năm; và các vua thời sơ khai của họ là Tam Hoàng, Ngũ Đế. Các vị con trời hãy còn cãi nhau sôi nổi về việc định danh xem tam hoàng, ngũ đế của họ là những ông bà nào, nhưng chuyện đó thuộc về nội bộ của người ta, miễn bàn ở đây.

            Cũng về huyền thoại, nguồn gốc dân tộc Việt bắt đầu từ họ Hồng-bàng, nước Xích Quỉ, vua là Kinh dương vương, còn ngôi mộ ở Bắc Ninh. Vương lên ngôi năm Nhâm Tuất - hơn 2000 năm trước tây lịch, lập Long Nữ, con vua Thần Long vùng Động Đình Hồ làm hoàng hậu, sinh hạ ra Sùng Lãm. Sùng Lãm lên ngôi thành Lạc Long Quân, cưới bà Âu Cơ con vua Đế Lai, sinh ra 100 trứng, nở 100 con, khi ly dị chia con ra làm hai, mỗi người nuôi 50 đứa.  Sau đó, nước Xích Quỉ chia ra 100 nước nhỏ, gọi là Bách Việt, mỗi con giữ một nước. Một trong các nước ấy là Văn Lang, Lạc Long Quân phong cho người con trưởng làm vua, xưng hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, Phú Thọ ngày nay.

            Về nhân chủng học, con người gồm 4 đại chủng: Caucasoid hay Europoid (Âu), Negroid (Phi), Mongoloid (Á) và Australoid (Úc).

            Khoảng 8000 năm trước tây lịch, một phần của đại chủng Mongoloid bỏ vùng Tây Tạng đi về phương Nam, tới vùng Việt-Miên-Lào ngày nay thì dừng lại định cư, hợp chủng cùng giống Australoid thành tiểu chủng Indonesien (Cổ Mã-Lai). Người Indonesien lại phân tán đi nhiều hướng, phía Bắc lên tới bờ Nam sông Dương Tử, phía Tây đi tới Ấn Độ, phía Nam tới Nam Dương, phía Đông sang Phi Luật Tân.

            Cho tới khoảng 3000 năm trước tây lịch, sự hợp chủng giữa người Indonesien ở bờ Nam sông Dương Tử cùng đại bộ phận Mongoloid hình thành phân tiểu chủng Austro-asiatique (Nam Á hay Á-Úc).

            Tính về chủng tộc, người Việt và tất cả người thiểu số sống ở Việt Nam đều thuộc tiểu chủng Indosien, phân tiểu chủng Austro-asiatique (3/4 Mongoloid và 1/4 Australoid), còn người Tàu thuộc đại chủng Mongoloid, không phải Indonesien và lại càng không phải Austro-asiatique.

            Như vậy người Việt và người Tàu tuy có cùng chủng gốc Mongoloid, một trong 4 đại chủng của nhân loại, nhưng khác phân chi rất xa. Bảo rằng người Việt và người Tàu là "đồng chủng" thì có hơi xa xôi; cũng gần giống như bảo người Việt và người Tàu là "đồng chủng" vì cùng là con người! 

            Còn thế nào là "đồng văn", nghĩa là cùng một nền văn hoá?

            Có lần trên bàn tiệc, tôi nghe một bạn trẻ nói rằng nếu không nhờ người Tàu bỏ công ra khai hoá thì cho tới ngày nay người Việt hãy còn sống trên cây (như loài khỉ). Tất nhiên đây chỉ là một câu có tính cách hoạt kê, nói ra để cười chơi; nhưng nếu như bàn tiệc ấy được dọn ra ở Bắc Kinh, người phát biểu là người Tàu, thì lời phát biểu vừa nêu hiển nhiên có tính cách khinh miệt; vì người phát biểu là người Việt, ít nhiều chịu ảnh hưởng chế độ giáo dục ở Việt Nam sau 1975 nên tôi ngờ rằng điều đó có thể nằm trong một cuốn sách giáo khoa, một văn kiện hay ít nhất, phát xuất từ cửa miệng một ông thầy bà cô nào đó.

            Trong sách sử Việt Nam cận đại, kể cả sách do Đại tá VNCH Phạm Văn Sơn chủ biên, đều ghi công hai thái thú Tích Quang và Nhâm Diên đã khai hóa dân Giao Chỉ. Các "nhà sử học" này cũng nói có sách mách có chứng. Sách đó là cuốn Hậu Hán Thư, sách Tàu: "Sử chép rằng Nhâm Diên dạy cho dân cày cấy ruộng bằng trâu bò, dùng điền khí, và khai khẩn đất hoang, cùng là dạy cho dân biết lễ giá thú, khiến các trưởng lại phải giúp tiền cho những người nghèo để họ kết hôn được" (Hậu Hán Thư, quyển 186). Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào đó để bảo người Hán khai hoá người Việt thì chưa đủ và bảo người Việt người Tàu "đồng văn", e cũng cần xem lại.

            Có những điều sách Tàu không ghi, nhưng các công trình khảo cổ gần đây cho thấy, người Việt thời cổ có chữ viết và tiếng nói riêng; và người Hán chỉ "có công" âm mưu tiêu diệt, xóa bỏ dấu tích văn hóa Việt Nam. Cố xóa, nhưng không hết. Chẳng những thế, họ còn ít nhiều chịu ảnh hưởng một phần văn hóa Việt, y như người La Mã chiếm Hi Lạp rồi chịu ảnh hưởng văn hóa Hi Lạp, người Việt chiếm nước Chiêm Thành rồi một phần văn hóa Chiêm để lại dấu tích trong văn hóa Việt, hay người Mãn Châu chiếm trọn nước Trung Hoa rồi mất luôn nước Mãn vào tay người Hán như hiện nay. Bằng chứng hiển nhiên về dấu tích văn hóa Việt trên nước Tàu, là Tử Cấm Thành có từ đời nhà Minh 600 năm trước, do kiến trúc sư trưởng Nguyễn An, một người Việt, vẽ kiểu và chỉ huy xây cất, với rất nhiều đường nét, hình khối thuộc mỹ thuật Việt Nam, người Tàu không có.

            Về văn tự, chữ Việt cổ hiện còn lưu dấu trên các bia mộ, trống đồng, đồ đồng, và người Việt đang tìm hiểu xem tổ tiên của họ nói gì, y như người Ai Cập ngày nay tìm cách để đọc chữ cổ Ai Cập trong các kim tự tháp.

            Người Hán chiếm được phần lớn đất tổ của người Việt, thuộc hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay. Riêng Quảng Tây còn được quyền tự trị cho tới thời Đặng Tiểu Bình. Dân Bách Việt còn tồn tại ở đó khá đông, nhiều bộ tộc nói tiếng Việt lơ lớ, khoảng 30% từ ngữ của họ y như tiếng Việt, nhiều người già còn giữ cổ tục nhuộm răng, ăn trầu và xâm mình; và thậm chí, nhiều làng hãy còn theo mẫu hệ y như thời Hai Bà Trưng.

            Người Hán đã thành công trong việc xóa bỏ chữ Việt, nhưng không tiêu diệt nổi tiếng Việt. Bằng chứng là ngày nay chúng ta vẫn nói tiếng Việt, mặc dù nước Việt đang lâm nguy cơ bị xóa sổ trên bản đồ thế giới và cái ngôi sao vàng nô lệ trên lá cờ máu có lần đã được nhà nước CSVN tự tay đính lên lá quốc kỳ Trung Cộng thành ngôi sao thứ sáu, trong buổi lễ đón rước viên chức của "thiên triều".

            Trong bất giai đoạn lịch sử nào, người Tàu đều lăm le lấn đất, chiếm biển Việt Nam, không dùng quân đội thì dùng tay sai dâng cống bằng văn bản ngoại giao như công hàm của Phạm Văn Đồng: "Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt biển."

            Cái "lưỡi bò" của Phạm Văn Đồng và Bộ Chính Trị CSVN đã được Trung Cộng vẽ ra trên biển Đông ngày nay!

            Trước khi Phạm Văn Đồng dâng biển cho Trung Cộng thì Trường Chinh Đặng Xuân Khu lúc còn là tổng thư ký đảng Lao Động, ngụy danh của Tổng Bí Thư đảng CSVN, trong văn thư của Ủy Ban Kháng Chiến Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chính thức lên tiếng hô hào xóa bỏ văn tự Việt:

            "Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào! Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế?

            Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối âu tây ấy – một cách viết rõ ràng có mau thật đấy – và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc."

            Trường Chinh không nói người Tàu "có công" khai hóa người Việt, nhưng nói người Tàu "có lẽ" là thầy của người Việt:

            "Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta – mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế – có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không?"


            Trở lại từ chuyện "đồng chủng đồng văn" tới công "khai hóa" cho tới việc hô hào bỏ chữ quốc ngữ, dùng chữ của ông "thầy Tàu", hiển nhiên việc vận động để sát nhập nước Việt vào bản đồ Trung Hoa một cách êm ái, thong thả, nhẹ nhàng đã được chuẩn bị kỹ lưỡng từ 80 năm nay, và bây giờ có lẽ đang tiến tới giai đoạn dứt điểm.

            Ảnh hưởng của việc vận động thờ thầy Tàu đã ngấm vào "tư duy" từ trí thức tới bình dân, từ già đến trẻ, từ giới cầm quyền tới giới cầm... súng.

            Chưa có thời nào mà một lời yêu nước bị coi ngang với tội "phản động". Chưa có chế độ nào mà việc chống ngoại xâm bị ghép ngang với "phá rối trị an".    

            Đảng và nhà nước CSVN cấm cả việc tuyên dương các anh hùng giữ đảo Hoàng Sa, không phải chỉ vì họ là "ngụy quân", mà chính vì họ dám chống lại "thiên triều".

            Với một đảng cầm quyền như thế, với một nhà nước như thế, liệu nước Việt Nam sẽ tồn tại được bao lâu nữa trên bản đồ thế giới?

            Cuối cùng, nhìn lại lịch sử, trong khi lãnh tụ CSVN nhồi sọ dân chúng về ông "thầy Tàu" như thế, thì nhân sĩ VNCH nói gì?

            Tôi sinh sau đẻ muộn, không có ân oán gì với đệ nhất Cộng Hòa, nhưng tôi cảm thấy mắc nợ TT Ngô Đình Diệm một lời giáo huấn và tiên tri:

           "Nếu Việt Minh thắng trong cuộc đấu tranh này, quốc gia thân yêu của chúng ta sẽ biến mất và nước chúng ta sẽ chỉ được đề cập đến như là một tỉnh phía Nam của Trung Cộng."


            (nhn, những ngày cuối năm con rắn)

Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Lễ Tưỡng Niệm 40 năm ngày Hoàng Sa




















WESTMINSTER, California (NV) - Trên 300 đồng hương và cựu quân cán chính VNCH vào sáng hôm Chủ Nhật, 19 Tháng Giêng, đã tập trung tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster, để cùng các cựu chiến sĩ Hải Quân VNCH Nam California làm lễ tưởng niệm 40 năm hải chiến Hoàng Sa.


Rước linh vị 74 tử sĩ Hoàng Sa vào Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster,
để làm lễ tưởng niệm. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Vào đúng ngày này 40 năm trước, các chiến sĩ Hải Quân của QLVNCH đã anh dũng chiến đấu chống hải quân Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, nơi mà chủ quyền và sự có mặt của Việt Nam từ bao đời nay đã được xác định. Cụ thể là vào thời các vua đầu nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị đã cắm mốc và cử quân binh đến các Hoàng Sa để canh gác và bảo vệ ngư dân Việt Nam. Ðó là nội dung bài phát biểu của trưởng ban tổ chức, cựu hải quân Trương Văn Song.


Cựu Phó Ðề Ðốc Vũ Ðình Ðào, chủ tọa buổi lễ, trong bài diễn văn khai mạc nhắc lại: “Ngày 19 tháng 1 năm 1974, các chiến sĩ Hải Quân VNCH đã một lần nữa xác định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này.”
Bài diễn văn của vị chủ tọa cũng nhắc đến tinh thần chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ Hải Quân VNCH, trong đó 74 chiến sĩ đã hy sinh mà chúng ta cùng làm lễ tưởng niệm lần này.
Nhắc lại chiến sử này, ông Ðào nói: “Cho dù không tái chiếm lại được, nhưng các chiến sĩ Hải Quân đã chiến đấu với tinh thần chống ngoại xâm của tổ tiên và một lần nữa minh xác Hoàng Sa là của Việt Nam.”
Vị sĩ quan chủ tọa cũng cho biết việc tổ chức lễ tưởng niệm lần này là nhằm:
-Tưởng nhớ và ghi ơn các tử sĩ hải quân anh hùng.
-Nhắc nhở tuổi trẻ Việt Nam hãy noi gương bất khuất.
-Tố cáo với quốc tế sự xâm lược của Trung Quốc và nhắc nhở cái họa phương Bắc.
-Lên án Cộng Sản Việt Nam đã khiếp nhược trước kẻ thù đã chiếm đất, biển đảo, đã dâng đất và biển đảo cho Trung Quốc mà Thủ Tướng CSVN Phạm Văn Ðồng đã ký xác nhận trong một công hàm ngoại giao ngay sau khi Bắc Kinh tuyên bố hải phận đường lưỡi bò.
Anh Huỳnh Duy Thuận, con trai của cố Ðại Úy Huỳnh Duy Thạch, phục vụ trên chiến hạm HQ10
bị đắm trong trận hải chiến, ôm bức di ảnh của thân phụ. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)
Trong dịp này, cựu Phó Ðề Ðốc Vũ Ðình Ðào cũng nhắc đến những chiến công của QLVNCH trong đó có trận hải chiến Hoàng Sa. Những chiến công này đã là những trang sử oai hùng mà nay toàn dân Việt trong và ngoài nước đều đã ghi nhận.
Chấm dứt bài diễn văn, ông kết luận: “Dù đất nước đang thời kỳ đen tối nhưng anh hùng hào kiệt lúc nào cũng có trong dân tộc chúng ta nên chúng ta vẫn tin tưởng vào một ngày mai. Hoàng Sa chính là tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của chúng ta.”
Tiếp đó buổi lễ đã diễn ra với những nghi thức thật trang trọng. Một đoàn hầu kỳ do anh em cựu chiến sĩ hải quân VNCH phụ trách thể hiện được hết tính cách trang trọng mà ban tổ chức mong mỏi. Tiếp theo là lễ rước linh vị 74 chiến sĩ đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa vào lễ đài. Nghi lễ truy điệu diễn ra đúng quân cách với lễ gác quân kỳ rủ trên giá súng có treo chiếc nón sắt khiến mọi người tưởng như anh linh của các chiến sĩ đã khuất cũng về minh chứng cho sự tưởng niệm của mọi người.
Một nghi thức tiến hoa cũng được ban tổ chức thực hiện để cho các đoàn thể trong cộng đồng được bày tỏ lòng tri ân trước bàn thờ đặt linh vị. Trong khi các thành viên của đoàn Thanh Niên Cao Ðài, của Hội Phụ Nữ Bà Triệu, của ban tế Hội Ðền Hùng Hải Ngoại và một vài đại diện trong cộng đồng thay nhau dâng từng bó hoa tươi trước bàn thờ linh vị, ban tổ chức xướng danh các anh hùng tử sĩ trong trận hải chiến Hoàng Sa trong đó có các chiến sĩ Hải Quân, các chiến sĩ biệt hải, công binh và một số dân chính làm việc tại hải đảo này hồi đó.
Ðiều rất đáng ghi nhận là trong suốt buổi lễ, mọi người thể hiện không khí trang nghiêm, khiến buổi lễ tăng thêm phần ý nghĩa.
Vào lúc 1 giờ trưa, phần nghi lễ chấm dứt, ban Tù Ca Xuân Ðiềm đã trình bày một chương trình ca nhạc đấu tranh rất đặc sắc, nung nấu lên tinh thần bảo vệ tổ quốc trong đó có việc phải giải thế chế độ cộng sản đã nhu nhược, yếu hèn dâng đất dâng biển cho kẻ thù truyền kiếp Bắc phương mà các thế hệ cha ông đã bao đời gìn giữ, đánh đuổi quân xâm lược, bành trướng.
Có mặt trong buổi lễ tưởng niệm này, một hậu duệ của các chiến sĩ Hải Quân VNCH đã hy sinh là anh Huỳnh Duy Thuận, con trai của cố Ðại Úy Huỳnh Duy Thạch thuộc Hàng Hải Thương Thuyền phục vụ trên chiến hạm HQ10 bị đắm trong trận hải chiến, ôm bức di ảnh của thân phụ, nói với các phóng viên: “Tình cờ được biết có buổi lễ tưởng niệm này khi mới chuyển về sinh sống tại Nam California. Mọi năm vì sinh kế phải ở các tiểu bang xa nên chưa bao giờ có dịp được tham dự lễ tưởng niệm Hoàng Sa để tưởng nhớ đến cha đã hy sinh cho tổ quốc.”

Triển lãm các chiến hạm Hải Quân QLVNCH ngay Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Anh Thuận cũng cho biết thân mẫu của anh, tức phu nhân cố Ðại Úy Huỳnh Duy Thạch, vẫn còn ở Việt Nam và anh cho biết mẹ anh cũng không được hay biết gì về lễ tưởng niệm Hoàng Sa dù năm nay ở trong nước cũng có một vài nơi giới trẻ đã dám đứng ra tổ chức.
Trong khuôn viên tượng đài cũng có nơi triển lãm các chiến hạm của Hải Quân VNCH qua những mô hình như thật. Rất nhiều chiến hạm cũng như hải thuyền, giang thuyền chiến đấu được một số cựu hải quân và các bạn trẻ ngưỡng mộ Hải Quân VNCH kết dán lại từ những đồ chơi theo lời chỉ dẫn của các cựu sĩ quan cơ khí, pháo binh, hạm trưởng của Hải Quân VNCH.
Năm nay, lễ kỷ niệm Hoàng Sa đã không chỉ do Hội Hải Quân Cửu Long tổ chức như nhiều năm trước, mà được sự phối hợp tích cực của nhiều tổ chức quân cán chính VNCH và đồng hương người Việt.
Ðiều cũng đáng ghi nhận nữa là ở trong nước năm nay, nhiều tổ chức trẻ cũng đã đứng ra, kêu gọi mọi người tham gia kỷ niệm Hoàng Sa và công khai nhắc nhở đến chiến tích chống ngoại xâm của người lính Hải Quân VNCH.

Nguyên Huy / NV

  VĂN TẾ TỬ SĨ HOÀNG SA

                                    Lữ Tuấn


    Dựng nước cõi Trời Nam, oai hùng dòng giống Việt
    Trấn giữ bờ Đông Hải, vinh quang đất nước ta.
    Trai gái trải nhiều đời chung sức bảo vệ giang sơn, đã anh dũng đối đầu cơn quốc nạn,
    Trẻ già từng lắm phen sát vai giữ gìn đất nước cùng kiên trì chống đỡ cuộc phong ba.
    Đem quyết tâm mà ngăn cường tặc
    Lấy chính nghĩă  để chống gian tà
    Từ ngày dựng nước Văn Lang, trải qua trăm trận cứu nước hào hùng, vùng Đông Á an cư một  giống dòng dũng cảm,   
    Quật khởi giống dòng Âu Lạc, đẩy lui nhiều đợt xâm lăng tàn khốc, đất Nam Việt sáng soi trang lịch sử chói lòa.


           

 Nhưng thương ôi! Ngày 19 tháng 1 năm 1974:


    Lũ giặc Tấu hung hăng xâm lấn, lãnh hải Việt bàng hoàng cơn khói lửa,
    Quân đội ta anh dũng phản công,  khung trời Đông u ám cảnh can qua.          
    Khi tổ quốc lâm nguy, binh đội mạnh bước tiến xung trận giữ gìn bờ cõi
    Lúc kẻ thù đe dọa, Hải Quân vững tay lái tiên phong bảo vệ sơn hà.

    Gục ngã trên lớp sóng biển điên cuồng,  dũng sĩ chìm sâu xương máu
    Trôi nổi trong ngọn thủy triều hung bạo, anh hùng tan nát thịt da.

    Máu Biệt Hải đã ghi dấu Cam Tuyền, Duy Mộng,
    Hồn thủy binh còn vấn vương Vĩnh Lạc, Quang Hòa


    Lửa đạn tấn công đỏ rực, thấp thoáng dẫy san hô Bạch Quỷ
    Mầu cờ quyết chiến vàng tươi, rạng rỡ bãi cát nóng Hoàng Sa


    Tất cả năm chiến hạm Việt Nam luôn kiêu hùng chiến đấu, hiên ngang về đáy biển Hạm Phó Nguyễn Thành Trí, Hơn bẩy chục chiến sĩ Hải Quân đã vinh quang gục ngã,              
   .
    Chiến hạm địch bốc cháy, khói đen bốc ngút trời cao, tội ác kết tụ của lũ quân xâm lược,
    Hải pháo ta khai hỏa, tiếng đạn bay rung biển cả, âm thanh vang dội như một bản hùng ca.   


    Gìn giữ môt ngàn dặm non sông gấm vóc, là nhiệm vụ thiêng liêng của con cháu
    Xây dựng bốn ngàn năm lịch sử huy hoàng, ấy công lao vĩ đại của ông cha.
   
    Từ rừng núi gần
    Đến biển đảo xa


    Đời đời ghi công ơn to lớn của  các tử sĩ, coi thường hỏa lực của giặc nước, kiên trì bám tầu tử chiến,           
    Mãi mãi nhớ thành tích vẻ vang của toàn hải đội, bất chấp lằn đạn của quân thù, oai hùng cưỡi sóng xông pha.


    Nay tưởng  nhớ  chư vị anh hùng, với ước vọng quê hương an lạc,
    Để ghi ơn các trang liệt sĩ, bởi tình yêu tổ quốc thiết tha.


    Nguyện noi theo gương dũng cảm hy sinh giữa biển trời vô tận,
    Xin chứng giám mối thành tâm tưởng niệm trong hương khói nhạt nhòa.


    Nơi chín suối khôn thiêng, hãy gìn giữ cho vẹn toàn đất tổ,
    Chốn tuyền đài linh ứng, xin hộ phù cho an lạc nước nhà.
   
    Vun đắp đẹp tươi giầu mạnh cho nước ta thị thành thôn xóm,
    Xây dựng dân chủ tự do cho dân ta trai gái trẻ già.



    Ô hô! Thượng hưởng!   

























Cơn đói cá của Trung Cộng và thảm họa

Tàu đánh cá Trung Cộng xuất hành về biễn đông
 
Hôm 23.11.2013 khi Trung Cộng công bố quyết định lập vùng nhân diện phòng không (ADIZ) bao trùm lên vùng trời trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp với Nhật, ông Minh Hiền, Giám đốc Sở nghiên cứu Chiến lược và sự vụ quốc tế thuộc Đại học Đạm Giang của Đài Loan đã nói với Thông tấn xã Đài Loan rằng việc Bắc Kinh tuyên bố ADIZ trên Hoa Đông chỉ là cái cớ Trung Quốc nghi binh, Biển Đông mới thực sự là chuyện phiền phức. Cách đó một năm, tờ Wall Street Journal ngày 27.12.2912 đã đăng một bài dưới đầu đề “China's Hunger for Fish Upsets Seas” (Trung Quốc đói cá làm biển rối tung) nói về những tai họa do cơn đói cá của Trung Quốc gây ra. Tiến sĩ Ian Storey, một nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, còn nói rõ hơn: năng lượng và nguồn cá là nguyên nhân chính của các cuộc tranh chấp. Như vậy Trung Cộng có ý đồ gì trên Biển Hoa Đông và Biển Đông, các chuyên gia đều thấy trước. Nói một cách tổng quát, Trung Cộng đang đói cả thực phẩm lẫn nhiên liệu và đang biến Biển Đông thành nguồn cung cấp riêng cho họ.
Ngày 26.11.2013, Trung Cộng cho hàng không mẫu hạm hạng bét Liêu Ninh rời cảng Thanh Đảo ở Hoàng Hải đi qua biển Hoa Đông và xuống Biển Đông để thực hiện cái gọi là “sứ mệnh huấn luyện và nghiên cứu khoa học”. Khi tàu Liên Ninh vừa trở lại cảng Thanh Đảo vào ngày 1.1.2014, Trung Cộng bắt đầu công bố lệnh cấm đánh cá trên một vùng rộng lớn ở Biển Đông.

LỆNH CẤM ĐÁNH CÁ CỦA TRUNG CỘNG
Theo các bài báo đăng trên một số trang web của tỉnh Hải Nam hôm 3/12/2013, lệnh ngư nghiệp Trung Cộng được chính quyền tỉnh Hải Nam ban hành ngày 29/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2014, tàu cá nước ngoài phải xin phép trước khi đánh bắt hay dò tìm trong khu vực rộng tới 2 triệu cây số vuông, chiếm 2/3 diện tích Biển Đông. Lệnh này được coi là một phần của chính sách thực thi Luật Thủy sản của Trung Cộng.

Inline image 1
Vùng cấm đánh cá do Trung Cộng thiết lập

Như vậy Trung Quốc đã “địa phương hóa” Biển Đông, biến nó thành một vùng nước thuộc tỉnh Hải Nam của Trung Quốc (xem bản đồ sẽ thấy rõ).
Ngày 24.12.2013, Bộ Nông Nghiệp Trung Cộng còn ra thông báo về thời gian nghỉ đánh bắt cá bằng lưới tại một số khu vực, bao gồm cả khu vực quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.
Theo quy định của Trung Cộng, các tàu cá nước ngoài tự ý đi vào vùng nước trên Biển Đông mà họ tuyên bố do tỉnh Hải Nam quản lý để thực hiện sản xuất ngư nghiệp và các hoạt động điều tra tài nguyên nghề cá sẽ bị buộc phải rời khỏi khu vực, bị phạt 500.000 nhân dân tệ (tương đương 82.600 USD) và số cá đánh bắt sẽ bị tịch thu. Trong một số trường hợp, tàu đánh cá nước ngoài còn có thể bị tịch thu và thủy thủ đoàn bị truy tố theo luật pháp Trung Cộng.
Dĩ nhiên, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Việt Nam và cả Đài Loan đã lên tiếng phản đối lệnh cấm của Trung Cộng vì nó không phù hợp với quốc tế công pháp. Nhưng Trung Cộng đã dựa vào căn bản nào để đưa ra quyết định nói trên?
Như chúng tôi đã nói nhiều lần, Trung Cộng đã dựa vào lý thuyết “vùng nước lịch sử” (historic waters) được học lý và án lệ về luật biển cũ công nhận, đó là vùng nước sinh tồn đã lâu đời của một quốc gia, để thiết lập đường 9 đoạn và coi đó là ao nhà của Trung Cộng. Nhưng vì lý thuyết “vùng nước lịch sử” quá phức tạp, nên Luật Biển 1982 không còn công nhận lý thuyết đó nữa mà thay bằng “vùng đặc quyền kinh tế” dành cho mỗi quốc gia là một vùng 200 dặm tính từ đường cơ sở. Nói cách khác, Trung Cộng đã dựa vào một lý thuyết không còn tồn tại trong Luật Biển 1982 để tuyên bố chủ quyền của mình. Trung Quốc biết rõ như thế là sai nhưng cứ cãi chày cãi cối rồi dùng sức mạnh để áp đặt. Trung Cộng lại biết Mỹ chỉ phản đối lấy lệ chứ không can thiệp nên làm tới.

THẢM HỌA CHO NHÂN LOẠI
Trong bài “China's Hunger for Fish Upsets Seas” nói trên, hai chuyên gia là Chuin-Wei Yap và Sameer Mohindru đã mở đầu bài nhận định của mình như sau: Cơn đói cá ngày càng trầm trọng của Trung Cộng đang thử thách quan hệ với nhiều nước khác nhau, đồng thời làm cho các viên chức và các khoa học gia ngoại quốc lo lắng về tiềm năng thiệt hại mà đội tàu cá khổng lồ của nước này có thể gây ra cho khối lượng cá tồn trữ trên toàn cầu”
Tài liệu chính thức của Trung Cộng, một nước có số lượng tiêu thụ cá cao nhất thế giới, cho biết đến năm 2015 Trung Quốc sẽ sản xuất 60 triệu tấn hải sản, so với 57,3 triệu tấn của hai năm trước. Tuy nhiên nhu cầu hải sản của Trung Cộng rất lớn và ngày càng tăng. Theo ước tính của ngân hàng Rabobank của Đức, vào cuối thập nhiên này trị giá khối lượng hải sản nhập cảng của Trung Quốc sẽ lên đến 20 tỷ USD thay vì 8 tỷ USD như hiện nay. Peru là nước bán nhiều hải sản cho Trung Cộng, nhưng nguồn hải sản của Peru ngày càng cạn kiệt.
Để có đủ cá cung cấp cho nhu cầu trong nước, Trung Cộng đã tung ra 2300 tàu đánh cá xa bờ, tới tận Nam Mỹ và Tây Phi, trong khi Mỹ chỉ có 200 chiếc. Tài liệu của Trung Cộng cho biết trong 2 năm 2010 và 2011 các tàu đánh cá xa bờ của họ chỉ bắt được có 368.000 tấn hải sản, nhưng các chuyên gia nói rằng con số đó lên tới 4,6 triệu tấn.
Riêng trong Vịnh Bắc Việt, một cuộc nghiên cứu cho thấy kể từ thập niên 1960, các loài cá trong vùng này đã giảm từ 487 loại xuống 238 loại. Khối lượng dự trữ chạm đến mức thấp nhất năm 1998, chỉ bằng 16,7% so với năm 1962!
Trước đây Trung Cộng có trên 200.000 tàu đánh cá, nhưng năm 2004 đã loại đi trên 8.000 tàu nên hiện nay còn khoảng 192.000 tàu. Đây là một khối lượng tàu đánh cá khổng lồ.

THẢM HỌA CHO VIỆT NAM
Với vùng cấm đánh cá mà Trung Cộng vừa vạch ra, vùng đặc khu kinh tế 200 hải lý của Việt Nam không còn. Muốn đánh cá xa bờ trong Biển Đông, Việt Nam phải xin phép Trung Cộng.
Lực lượng Hải Giám của Trung Quốc đang kiểm soát các tàu thuyền đánh cá trên Biển Đông. Lực lượng này là một bộ phận của Cục Quản Lý Biên Phòng thuộc Bộ Công An, được tổ chức theo mô hình của Liên Xô cũ. Hiện nay lực lượng này có khoảng 40.000 quân nhân với 304 thuyền nhỏ trên 100 tấn, 149 tàu tuần tra nhỏ trên 500 tấn, 19 tàu tuần tra vừa trên 1500 tấn và 8 tàu tuần tra lớn trên 3.500 tấn. Tàu tuần tra cao tốc của Trung Quốc có tên là Hải cẩu HP1500-2 với thủy thủ đoàn từ 6 đến 8 người, có thể đạt tốc độ lên đến 52 hải lý và tầm hoạt động trong khoảng 250 km. Chúng ta chưa nói đến lực lượng của Hải Quân Trung Quốc.
So với Mỹ hay Nhật, lực lượng hải giám của Trung Quốc chẳng có nghĩa lý gì, nhưng với các nước trong khối ASEAN, khó có lực lượng nào có thể địch nổi. Học giả Đinh Kim Phúc, nhà nghiên cứu biển Đông của Việt Nam, nói với phóng viên đài RFA  rằng với lực lượng tàu hải giám hùng mạnh, Trung Cộng hoàn toàn có khả năng thực thi quy định mới của mình. Trong thời gian qua chúng ta nhìn diễn biến trên biển Đông thì chúng ta thấy rõ là Trung Cộng đưa nhiều tàu hải giảm để ức hiếp ngư dân, phạt tiền… mà phản ứng của các nước như thế nào chỉ là phản ứng cho có, mà chủ yếu là không làm gì được với Trung Cộng. Sự đoàn kết của các nước ASEAN trước tham vọng bá quyền của Trung Cộng là không có.
Ngày 25.12.2000, Việt Nam và Trung Cộng đã ký kết một hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Việt với tổng diện tích là 33.500 km², chiếm khoảng 27,9% diện tích vùng Vịnh. Một vùng đệm cho các tàu đánh cá nhỏ qua lại ở ngoài cửa sông Bắc Luân đã được thiết lập. Nếu phát hiện tàu cá loại nhỏ của bên kia vào hoạt động nghề cá trong vùng đệm, có thể cảnh cáo và áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc tàu đó rời khỏi vùng nước đó, nhưng nên kiềm chế: không bắt bớ, giam giữ, xử phạt hoặc dùng vũ lực. Thế nhưng tàu đánh cá Trung Cộng vẫn đánh cá trên vùng nước của Việt Nam. Ngày 3.11.2013, tỉnh Thanh Hóa còn khám phá ra 276 dân Việt Nam đang làm việc cho các tàu đánh cá bất hợp pháp đó.
Chuyện Trung Cộng cho tàu họ húc tàu đánh đá Việt Nam đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện.”  Việc Việt Nam mua tàu ngầm của Nga cũng chỉ để bảo vệ vùng đặc khi kinh tế 200 hải lý của Việt Nam chứ không phải để khai chiến với Trung Quốc. Với việc Trung Quốc quy định vùng đánh cá mới, Lê Thanh Nghị, phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Hà Nội chỉ nói: “Việt Nam yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ những việc làm sai trái nói trên, đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực.”
Đài Á Châu Tự Do (RFA) đang xúi Hà Nội đi kiện Trung Cộng trước các tòa án quốc tế. Đây là vấn đế chúng tôi sẽ nói sau.
Ngày 16.1.2014
Lữ Giang