Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

Mùa thu cuộc tình


       Bữa ăn trưa đó của ông Năm thật giản dị : một trái cà tô-mát không dầu không dấm và một miếng thịt bò nhỏ bằng bàn tay nướng trên vỉ sắt không muối không bơ. Quá giản dị ! Nhứt là hôm nay thứ bảy, không phải đi làm. Nghĩa là có dư dả thì giờ để làm một món gì đó cho có vẻ một bữa ăn cuối tuần. Cho nó khác với ngày thường ăn vội ăn vàng cái gì cũng được. Thật quá giản dị ! Nhứt là ông Năm sống một mình, không bị phiền toái bởi những chuyện vụn vặt lỉnh-kỉnh phải làm vào cuối tuần của người có gia đình. Ở Paris này mà sống một mình như ông Năm thì thời gian không biết phải làm gì cho hết chớ đừng nói không có thì giờ để làm một bữa ăn cho tươm tất vào trưa thứ bảy.
      Nói rằng ông Năm không biết làm bếp cũng không đúng. Hồi xưa, hồi còn ở bên nhà, thật tình ông Năm không biết chiên một cái trứng gà. Ông chỉ biết đi làm ngày hai buổi, còn việc bếp núc có bà Năm lo hết. Bây giờ thì khác. Ông cũng biết nấu vài món thông thường và lâu lâu cũng biết " làm " một nồi phở để đãi đôi ba ông bạn già  cùng lứa tuổi và cùng thân phận lưu vong…
      Như bình thường thì trưa thứ bảy, ông hay thả xuống khu 13 la-cà ở nhà sách Khai Trí một lúc rồi sang qua mấy cửa hàng nho nhỏ trên lầu Paris Stores để coi có gì lạ không. Sau đó, ông mới tấp vô tiệm phở để ăn trưa, có khi một mình,nhưng thường thì với một vài người bạn gặp nhau ngoài phố. Ở khu 13 vào trưa thứ bảy, không gặp người này cũng gặp người nọ, bởi vì ai cũng đến đó để mua đồ, nói là " đi chợ Tàu " chớ thật ra là để tìm lại một chút gì hơi hướm của quê hương : những  khuôn mặt gần gũi (gặp ai cũng thấy quen quen !), những món hàng còn giữ nguyên nét cũ  (đòn chả lụa vẫn phải có màu xanh của lá, con vịt quay vẫn phải đỏ ao màu mật…) và những cái tên chỉ cần đọc lên là đủ để gợi nhớ…
      Hồi sáng này, ông Năm cũng đã đóng bộ để đi khu 13. Trời đã sang thu, nhưng nắng còn thật ấm. Cây marronnier nhà hàng xóm nằm ngay dưới cửa sổ nhà ông Năm đã trở màu vàng. "Chắc lá đã rụng đầy", ông Năm nghĩ vậy khi đứng thắt cravate gần khung cửa sổ. Chỗ ông cư ngụ là một studio nhỏ ở lầu ba khu nhà cũ nằm sâu phía sau nhà thờ Sacré Coeur. Cây marronnier che hết phía dưới thành ra từ cửa sổ nhà ông Năm nhìn thẳng ra chỉ thấy bức tường cao của khu nhà đối diện chắn ngang, chừa phía trên bầu trời bị đóng khung hình chữ nhựt bởi hai dẫy nhà dài. Trên nền trời đó, tuốt phía xa, là nóc nhà thờ với cây thánh giá. Thành ra, thế giới bên ngoài nhìn từ phòng ông Năm chỉ còn lại vỏn vẹn có cây thánh giá để cái nhìn còn có một điểm tựa ! Ông Năm theo đạo Phật, nhưng từ ngày dọn về đây – năm sáu năm gì rồi – cứ nhìn cây thánh giá riết mà ông có cảm tưởng như mình đã thành con chiên của Chúa ! Nhiều khi ông thấy cây thánh giá thật là sinh động. Ông không hay rằng niềm suy tư của ông đã gởi trên đó từ lâu…
      Có lần, trong thư gởi về Việt Nam cho bà Năm, ông viết : "Anh thừơng nhìn cây thánh giá đứng cao vòi vọi một mình trên kia mà tự hỏi không biết anh và cây thánh giá, ai cô đơn hơn ai ? Nhưng cây thánh giá hãy còn giang tay ngạo-nghễ chớ anh thì từ lâu rồi anh đã buông tay đầu hàng số mệnh ! Tuy nhiên, ở đây anh còn có cây thánh giá trứơc mắt để hứơng về đó mà cầu nguyện, chớ ở bên nhà giờ đây muốn cầu nguyện em phải hứơng về đâu hả em ? Anh bỗng ứa nứơc mắt thương em vô cùng… Ở ngay trong lòng quê hương mà thiếu thốn đủ thứ, đến nỗi điểm tựa cho niềm tin mà còn không có thì em sống ra sao, em hả ?" Đối với ông Năm, cây thánh giá trên chót nhà thờ Sacré Coeur mặc nhiên đã trở thành một vật gì thật gần gũi, thật trần gian, thật ngừơi, và là động cơ khơi nguồn kỷ niệm…
      Hồi xưa, ông làm việc cho Air France ở Sàigòn. Đời sống rất thoải mái, nhưng hai vợ chồng lại không có con. Chạy thầy chạy thuốc mãi rồi mới biết tại vì tử cung của bà Năm nằm lệch. Điều này làm bà Năm khóc hết nứơc mắt. Tuy nhiên, hồi đó còn trẻ nên cũng dễ nguôi, hai vợ chồng chẳng quan tâm cho lắm. Lần hồi, tuổi đời chồng chất, sự không có con đã trở thành một vấn đề cho hai vợ chồng. Mặc dù ông Năm không bao giờ nhắc đến chuyện đó, bà Năm vẫn khơi ra để nhận lỗi về mình. Mặc cảm đó làm cho bà lúc nào cũng ân hận, áy náy. Rồi cái gì hư, cái gì trật, cái gì bậy ở trong nhà dù là do lỗi những ngừơi giúp việc, bà cũng nhận hết. Ông Năm phải mất một thời gian dài để giải thích, khuyên lơn, an ủi bà Năm mới lấy lại đựơc quân bình. Có hôm, trong lúc hai vợ chồng đi dạo trên bãi biển Vũng Tàu, nhìn thấy mấy gia đình đông con đùa giỡn vui vẻ, bà Năm chợt thở dài than : "Nếu không phải tại em thì bây giờ hai đứa mình đâu có bơ vơ như vầy !". Ông Năm choàng tay ôm vai vợ xoay ngừơi lại để nhìn sâu vào mắt : "Em à! Mình không có con, nhưng mình còn có nhau. Đó là Trời thương lắm rồi, em còn đòi hỏi gì nữa ? Thử tưởng tượng một ngày nào đó không còn có nhau nữa thì sao ?". Bà Năm gật gật đầu nhưng chẳng bao giờ tưởng tượng đến "cái ngày không còn có nhau" đó.
      Vậy mà cái ngày đó đã đến cho ông bà Năm. Hai năm sau ngày mất nước, trong chuyến vượt biên ở Cà Mau, ông Năm đi thoát, bà Năm bị bắt lại với một số người không may khác ! Ông Năm sang Pháp, làm việc lại cho hãng Air France. Bà Năm nằm tù hết mấy tháng. Được thả ra thì nhà cửa đã bị tịch thu, đành về quê ở Gò Công làm công nhân cho nhà máy xay lúa của gia đình mà trong đợt đánh tư sản đầu tiên, Nhà Nước đã tịch thu để biến thành hợp tác xã. Từ đó, là những chuỗi dài thương nhớ, là những lo âu dằn vặt, là những lá thư nhiều ẩn nghĩa cho đúng "văn phạm Nhà Nước". Còn chuyện vượt biên lần nữa là chuyện mà bà Năm không bao giờ dám nghĩ đến ! Bên này, ông Năm chạy mãi rồi cũng được nhập cảnh gởi về, nhưng phía bà Năm thì gặp quá nhiều khó khăn trong hồ sơ xin xuất cảnh, cứ bị kéo dài, kéo dài bằng những chầu chực, bằng những lời hứa hẹn suông và bằng mấy lần bị lường gạt… Để cuối cùng, mấy năm sau, mới biết là hồ sơ đã bị bác từ lâu ! Tin đó đến với ông Năm bằng tờ giấy tập học trò vàng như giấy súc mà trên đó bà Năm chỉ còn đủ sức viết có mấy hàng… Vậy là vĩnh viễn không còn có nhau nữa ! Ông Năm mất tinh thần hết một thời gian dài. Sau đó, dọn về khu phố này tình cờ cửa sổ mở về hướng nhà thờ Sacré Coeur, để mỗi sáng trước khi đi làm ông nhìn cây thánh giá một lúc, giống như một tín đồ ngoan đạo…
      Khi ông Năm mặc xong quần áo thì trời cũng đã gần trưa. Đốt điếu thuốc để lên môi, ông đóng cửa bước chậm rãi xuống cầu thang, giống như đo từng nấc thang một ! Thật ra, tại tánh ông Năm vốn đã trầm thêm tuổi đã gần sáu mươi bắt ông phải cẩn thận khi bước lên bước xuống. Ngoài ra, có gì phải vội phải gấp khi mà chẳng có ai đợi ai chờ ? Đi khu 13 vào trưa thứ bảy đã thành một thói quen, chẳng có gì phải náo nức. Bỗng nhiên, ông Năm nhận thấy cuộc đời mình sao thật vô vị. Giống như tờ giấy trắng mênh mông trải dài, thẳng băng, chẳng có một dòng mực, chẳng có một đốm màu, cũng chẳng có một vết hoen ố. Hình ảnh đó làm cho ông Năm dừng lại ở giữa cầu thang, ngẩn ngơ một lúc như vừa khám phá ra một điều gì quá rõ-rệt nằm ngay trước mắt mà sao lâu nay ông không nhận thấy ! "Mình đi làm đều đặn. Mỗi tuần xuống khu 13 cũng đều đặn vào trưa thứ bảy. Mỗi tối thứ hai đi ciné một lần vì giá vé hạ. Đêm nào cũng coi télé vào 8 giờ tối để theo dõi tin tức, rồi đọc sách đọc báo đến 11 giờ rưỡi là tắt đèn ngủ. Đều đặn. Đều đặn. Đến như cái cầu thang này, mình cũng đều đặn trèo xuống trèo lên đến nỗi biết nó có bốn mươi tám nấc ! Vậy rồi thôi ! Rồi cứ như vậy cho tới về hưu,tới chết !". Ông Năm hít hơi thuốc thật sâu để thở khói ra thật dài. Ông làm mấy lần như vậy, giống như đang tìm một đáp số ! Rồi ông vỗ nhẹ bàn tay lên thành lan can gỗ, tự nhủ "Thôi ! Đừng nghĩ tới nữa" Ông tiếp tục bước xuống, nhưng bây giờ sao thấy bước chân nặng hơn hồi nãy nhiều…
      Khi đi qua trước phòng gác-dang, có tiếng gọi :
      - Ông Georges ! Ông Georges !
      Georges cũng là tên của ông Năm. Người Pháp phát âm Năm thành Nam, nghe lơ lớ chói lỗ tai, nên ông lấy đại tên Georges cho dễ gọi dễ kêu. Bà gác-dang bước ra trao cho ông một điện tín, nói :
      - Vừa mới tới. Tôi định lên nhà đưa cho ông thì ông xuống đây.
      Ông Năm run tay mở bức điện tín. Giòng chữ ngắn ngủn hiện lên nhảy múa : "Đã có xuất cảnh. Lo vé máy bay cho em. Mai". Điếu thuốc trên môi bỗng rơi xuống đất. Ông Năm có cảm giác như mình đang lên cơn sốt. Ông đọc lại điện tín một lần nữa, hai tay phải gồng cứng lại mới kềm được tờ giấy đứng yên căng thẳng dưới mắt. Ông nói cho mình nghe : "Đúng rồi ! Bả được xuất cảnh rồi !". Bà gác-dang nghiêng đầu lo lắng :
      - Có sao không ? Có chuyện gì không ? Ông Georges ?
      Tiếng bà ta lôi ông Năm về thực tại. Ông nhìn bà ta, mỉm cười, rồi nắm lấy tay bà ta lắc mạnh :
      - Cám ơn bà ! Cám ơn bà nhiều ! Tôi thật không biết nói gì cho phải. Bà thật tốt bụng ! Quá tốt bụng ! Cám ơn ! Cám ơn !
      Giọng ông thật thành khẩn, làm như chính bà đã cho giấy xuất cảnh ! Bà ta không hiểu gì cả, vừa ngạc nhiên vừa buồn cười trước thái độ của ông Năm. Bà ấp úng "Nhưng mà… Nhưng mà…" trong lúc ông Năm buông bà ra để chạy lên cầu thang. Nữa chừng, sực nhớ ra, ông dừng lại nghiêng người nói vói xuống :
      - Điện tín của vợ tôi ở Việt Nam. Bả nói bả sẽ qua đây ở với tôi ! Cám ơn ! Cám ơn nhiều !
      Rồi ông phóng lên cầu thang, nhảy hai bậc một, nhanh như sóc, nhẹ như hưu. Làm như ông mới có hai mươi tuổi !
      Vào phòng, ông ngã người lên giường, thở hổn hển. Cái tuổi hai mươi bất thần tìm lại chỉ đủ giúp ông trèo hết bốn mươi tám nấc thang thôi ! Một lúc sau, ông cầm điện tín lên, đọc lại một lần nữa. Thật rõ ràng mà ! Đây nè, hàng chữ không bỏ dấu "Da co xuat canh. Lo ve may bay cho em. Mai" Đọc là hiểu ngay ! Còn Mai là tên của bả rồi, chớ còn ai vô đây nữa ! Cái tên dễ thương mà mình đã thương từ mấy chục năm, không còn lộn với ai được. Vậy là chỉ còn có vé máy bay nữa là xong. Ông nhỏm người lên nhìn tấm lịch tháng treo gần đó để thấy rằng mình bỗng quên mất hôm nay là thứ bảy ! Vậy phải đợi thứ hai mới vào sở lo vụ này được. Ông lại nằm xuống. Dễ thôi ! Nhờ thằng Durand đánh cái télex là xong ngay. Ờ… nhưng mình cũng phải gởi cái điện tín về cho bả mừng. Tội nghiệp ! Không biết ai chạy lo cho bả cái xuất cảnh, chớ bả thì lo khỉ gì được với cái tánh hiền khô và nhát hít của bả. Nghĩ đến đó, ông Năm bỗng thấy thương vợ vô cùng. Cái người đàn bà hiền khô và nhát hít đó đã về làm vợ ông từ hơn ba mươi năm, trước sau như một, theo chồng như một cái bóng. Ngoài chuyện không có con, chẳng thấy bao giờ bà làm bận tâm ông. Con nhà giàu ở Gò Công, học ở Marie Curie, vậy mà cô gái có cái tên Trần thị Lệ Mai đó đã có một quan niệm sống thật cổ điển, thật Á đông. Và khi trở thành bà Trần văn Năm, luôn luôn bà đối xử với bên chồng thật vuông tròn và xem việc nội trợ như một thiên chức ! Hồi xưa, bạn bè vẫn nói là "thằng Năm trúng số độc đắc" hoặc "đẻ bọc điều mới có người vợ như vậy". Ông thì nghĩ rằng tại vợ mình hiền khô và nhát hít nên chẳng dám làm phiền ai bao giờ. Có lẽ nhờ vậy mà ai cũng thương… Ông lại nhỏm dậy nhìn tấm lịch. Trên đó ông có ghi bằng marker đỏ con số 10 to bằng nửa bàn tay ở gốc trái. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mỗi năm mua lịch, mình ngồi nắn nót viết con số lên đó giống như người tù bị lưu đày ghi số năm mà mình biệt xứ. Có khác là người tù còn biết ngày được thả chớ còn mình thì mù tịt. Đã tưởng vĩnh viễn sống một mình rồi… chết cũng một mình trên đất lưu vong này, nào ngờ Trời còn thương mình nhiều quá !
      Ông ngồi hẳn dậy đốt điếu thuốc, khói thuốc thật thơm thật ngọt. Vậy mà cũng đã mười năm xa nhau ! Mười năm… lâu lắm chớ ! Vậy mà sao vẫn thấy còn thương còn nhớ. Lạ quá ! Có phải như vậy người ta gọi là chung thủy hay không ! Rồi ông nhìn quanh. Nhà cửa thiệt là lượm thượm, phải dọn dẹp laị coi cho nó được một chút. Vậy là ông đứng lên đẩy ghế, đẩy bàn, quên mất là mình còn mặc bộ đồ lớn để đi khu 13 và làm như bà Năm sắp qua tới bây giờ ! Vừa làm vừa nói một mình, lâu lâu ông ngừng lại hít một hơi thuốc thật sảng khoái. Hai cái fauteuils này cho sát vào tường, kê gần nhau để cùng ngồi coi télé. Cái télé nằm đó được rồi. Cái bàn ăn nhích qua một chút để có chỗ kéo cái nệm dưới gầm giường ra. Bả trên giường, mình dưới đất, tạm ổn trong khi chờ đợi kiếm nhà khác rộng hơn. Cái tủ búp-phê đẩy tới một chút là nằm ngang với bàn ăn. Mẹ nó ! Coi vậy mà cũng nặng ớn ! Ông đứng lên thở hổn hển, nhìn quanh. Bây giờ coi có nét rồi đó. À ! Cái màn cửa sổ, phải tháo xuống đem giặt, cho nó "sáng" ra mới được. Rồi ông vào buồng tắm thay đồ. Đồ đạc ở đây thì sạch sẽ rồi, khỏi lo. À ! Còn cái tủ quần áo ở bên phòng ngoài nữa. Phải thu gọn lại cho có chỗ để bả để quần áo chớ ! Ông bỗng phì cười. Làm như mình sắp cưới vợ vậy ! Mà thiệt ! Sau mười năm xa cách, gặp lại nhau cũng giống như cưới nhau lần nữa chớ gì ! Ông soi gương chải lại tóc. Tóc mình mới có mấy sợi bạc thôi. Mặt mũi hãy còn "nét" lắm, ai mà nói mình sắp sáu mươi ? Cô dâu qua đây thấy chú rể như vầy là nhìn… rớt con mắt ! Ông Năm bỗng nghe lòng vui rộn rã, giống như tâm trạng ngày xưa, thuở còn trẻ, lúc sửa soạn đi đến nơi hẹn với người con gái tên Trần thị Lệ Mai…
   ...Vậy là trưa thứ bảy này ông Năm không thấy đói ! Tuy vậy, cũng phải "bỏ bụng" một cái gì,vì thói quen hơn là vì nhu cầu. Ông mở tủ lạnh lấy một trái cà tô-mát và một miếng thịt bò. Cà xắt khoanh, không dầu không dấm, thịt nướng trần trên vỉ sắt không muối không bơ. Làm cho "lấy có" và ăn cũng cho "lấy có". Bởi vì tâm hồn ông đang mãi phiêu bồng ở đâu đâu xa lắm, hình như là ở Gò Công quê vợ, ở Gia Định quê mình, ở những ngày đầu "hai đứa gặp nhau" (Tiếng nói của tình yêu là một chuỗi dài im lặng !),ở rạp hát bóng Đại Nam là nơi "hai đứa hẹn hò" (Dù trời mưa anh cũng tới. Em nghe không ?), ở Đà Lạt ít lâu sau đó. Chao ôi ! Đẹp quá ! Dễ thương quá ! Tình yêu là cái gì mà sao mãi mãi vẫn còn nguyên, như mới hôm qua hôm kia…
-oOo-
      Ông Năm lái xe lên phi trường Charles de Gaulle lần này là lần thứ hai. Hồi sáng, đã lên đó một lần, đợi cả tiếng đồng hồ để được thông báo là chuyến bay Air France từ Thái Lan qua sẽ đến trễ gần tám tiếng. Nhờ là nhân viên của hãng nên ông Năm được biết là máy bay bị trục trặc kỹ thuật ở Karachi. Trở về sở làm, ông ngồi đứng không yên, lâu lâu cứ nhìn đồng hồ. Bạn bè trong sở thấy vậy thương hại, mỗi người một câu an ủi trấn an. Có người ngồi lại gợi chuyện tán dóc cho ông đỡ thấy sốt ruột. Có người đặt tay lên vai ông bóp mạnh :
      - Georges ! Đợi chờ nhau mười năm mà mày còn chịu nỗi huống gì chỉ có mấy tiếng đồng hồ nữa thôi. Can đảm lên chớ !
      Vậy rồi thời gian cũng qua, chiều cũng xuống, để ông Năm lái xe đi phi trường, lòng náo nức xôn xao trong sự đợi chờ kỳ diệu.
      Vào phi trường, ông gắn thẻ nhân viên lên ngực áo rồi đến quầy Air France hỏi thăm. Mô phật ! Lần này máy bay sẽ đến đúng giờ. Hai cô tiếp viên trong quầy không quen ông Năm nhưng thấy đeo thẻ Air France, nên cũng hỏi đẩy đưa :
      - Ông chờ đón bạn à ?
      Ông mỉm cười, vừa bước đi vừa trả lời :
      - Không ! Tôi đón nhà tôi. Chào hai cô.
      Phi trường giờ này nhiều chuyến bay cùng đến một lúc nên người đi kẻ lại tấp nập. Ông Năm ngồi uống cà phê, hút thuốc, nhìn thiên hạ. Ông thấy ai cũng dễ thương hết ! Ông muốn họ uống với ông một tách cà phê, hút với ông một điếu thuốc lá. Cà phê expresso thật ngon. Khói thuốc Dunhill thật ngọt. Tâm hồn ông Năm được trải rộng mênh mông…
      Lại nghĩ đến bà Năm. Bả  điệu" lắm ! Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Tóc lúc nào cũng chải gọn về phía sau rồi cuốn thành một vòng kẹp lại phía trên ót, thành ra khuôn mặt trái soan và cái cổ tròn lúc nào nhìn cũng rõ nét. Còn về quần áo thì bả chẳng bao giờ mặc loại có màu sắc sặc sỡ loè loẹt, luôn luôn hoặc đen hoặc xanh đậm và nếu có bông thì cũng phải tiệp màu với nền vải và hình dáng phải nhã nhặn, nho nhỏ tương xứng với tầm vóc của bả. Hà ! Bả hiền khô và nhát hít vậy mà về vấn đề ăn mặc bả khó dàng trời ! Người ta nói bả có "gout". Mình cũng nghĩ như vậy, nhưng nếu bả không có thân hình đều đặn cân đối thì không biết cái "gout" để vào đâu cho nó nổi ! Ông hít một hơi thuốc dài sảng khoái. Hồi đó sao mà mình mê bả quá, nhứt là đôi bàn tay có ngón thon dài sang trọng và cặp mắt đen to như mắt đầm làm cho cái nhìn của bả lúc nào cũng có vẻ như ngạc nhiên. Điều lạ là sau này khi đã đứng tuổi, bả vẫn còn giữ nguyên đường nét thời con gái. Thành ra lắm khi nhìn bả, mình muốn trêu chọc bằng câu "Gái không con mà nom cũng mòn con mắt", nhưng vì sợ bả buồn nên mình nín thinh luôn !
      Ông Năm ngừng suy tư trên hình ảnh đẹp của bà vợ, mỉm cười vu vơ. Lại hút thuốc, lại nhìn thiên hạ. Hớp cà phê cuối cùng đã nguội ngắt mà sao vẫn còn thấy ngon lạ lùng. Bỗng ông bật cười. Sau bảy mươi lăm, sống với Việt Cộng mà bả vẫn tiếp tục "điệu" như thường ! Trong lúc người ta lôi quần áo cũ rách ra bận  và để mặt mũi tóc tai lôi thôi lếch thếch cho có "tác phong cách mạng" thì bả vẫn gọn ghẽ sạch sẽ như thường, vẫn chút đỉnh má hồng, chút đỉnh son, vẫn quần dài áo ngắn tươm tất, mặc dù phải đạp xe đi làm công nhân ở tổ may thêu xa bảy tám cây số. Mình hay trêu chọc bả bằng câu nói của Việt Cộng "Song chân lý ấy vẫn không bao giờ thay đổi", bả cười không nói. Vậy mà có hôm, bả trả lời bằng một câu… xanh dờn : "Đàn bà phải biết tự trọng. Làm như mấy bà cách mạng tóc tai xủ xộp, quần áo xốc xếch rộng rinh hoặc ngắn ngủn như mặt đồ khín, em làm không được"…
      Có tiếng nhạc chuông dìu dặt, tiếp theo là giọng bổng trầm của cô tiếp viên thông báo chuyến bay Air France số AF 199 đến từ Thái Lan đã đáp xuống sân bay. Ông Năm đứng lên trả tiền, xong đi vào phía trong qua ngã văn phòng trực của hãng. Ông nghe lòng vừa náo nức vừa hồi hộp giống như ngày xưa khi đứng chờ xem kết quả thi tú tài ! Ông ra đón tận cổng vào. Có hai chuyến bay đến từ hai nơi khác nhau nhưng đổ hành khách xuống cùng một lúc, nên sân bay đầy người. Giữa cái lao xao lộn xộn đó, ông Năm nghểnh cổ tìm vợ trong luồng người thoát ra từ cổng F, cổng của chuyến bay Air France.
      Ông nhìn từng khuôn mặt, từng người. Ông nhìn, ông chớp mắt để nhìn cho rõ hơn. Những gương mặt Á đông phờ phạc. Những gương mặt Á đông hốc hác. Những gương mặt Á đông xanh xao. Ông nhìn, ông chờm tới, nhích tới để nhìn. Bả dễ nhìn lắm. Lúc nào cũng sạch sẽ gọn ghẽ. Lúc nào cũng điệu. Trong đám đông, bả nổi hơn người ta nhờ nước da trắng hồng của gương mặt trái soan và đôi mắt lớn, cho nên dễ nhận ra lắm. Không phải bà này. Bà này già quá cũng không phải. Bà này coi ngờ ngợ nhưng đi chung với bầy con nít, không phải bả. Ông nhón chân lên để cái nhìn được đưa ra xa thì tai thoáng nghe hình như có tiếng người gọi nhỏ : "Ông Năm !" Ông vẫn tiếp tục nhìn từng người, từng khuôn mặt. Lại có tiếng người gọi nhỏ, lần này tiếng gọi lạc đi : "Ông Năm…"
      Nghe rõ có tiếng ai gọi mình, ông nhìn lại. Ngay phía trước, đứng cách ông chỉ mấy bước, người gọi ông là một bà già tóc muối tiêu hớt bom bê ngắn như mấy bà Tàu Chợ Lớn, mặc áo len nâu rộng thùng thình, ống tay dài phủ mất hai bàn tay đang xách mỗi bên một túi vải. Chỉ mới nhìn tới đó thôi, linh tánh bắt ông nhìn lại gương mặt : khuôn mặt gầy xạm nắng với những nếp nhăn trăng trắng ở khoé môi và đuôi mắt. Ngần đó thứ giống như miếng cau khô, chỉ trừ có hai con mắt là sinh động, là mở to như có vẻ ngạc nhiên, là nói lên, là nhắc nhở, là… là… Trời ơi ! Là vợ tôi đây mà ! Ông Năm nghẹn ngào bước tới, hai tay đưa về phía bà già và chỉ còn đủ sức gọi có một tiếng : "Mai !" Ông ôm lấy vợ mắt nhắm nghiền đau đớn. Tội nghiệp ! Người vợ chỉ dám gọi chồng bằng hai tiếng "Ông Năm" như người xa lạ, và chỉ dám gọi có hai lần. Và khi chồng nhìn ra mình, ôm chầm lấy mình, người vợ đó chỉ còn nói được bằng nước mắt !
      Ông Năm buông vợ ra để nhìn lại lần nữa. Ông nghe nghẹn lời và nghẹn cả lòng. Ông chỉ còn nói được bằng hai bàn tay… Hai bàn tay vuốt làn tóc bạc bây giờ sao quá thẳng quá ngắn. Hai bàn tay ôm lấy khuôn mặt bây giờ sao không lấp đầy hai lòng bàn tay. Hai bàn tay đặt xuống bờ vai bóp nhẹ. Dưới lớp áo len, ông cảm rõ nét gầy của bờ vai bây giờ. Bây giờ… Hồi đó… Từ trong sâu thẳm của lòng ông, nỗi đau khổ tột cùng bỗng bật lên thành tiếng, một thứ tiếng nói lệch lạc méo mó vì uất nghẹn : "Sao vầy nè ?". Rồi, không kềm chế nổi nữa, không cần giữ gìn ý tứ gì nữa, trong cái rừng người xào xạc đó, ông ôm lấy vợ, ngửa mặt lên trời thét lên một cách thống thiết : "Sao vầy nè… Trời ?". Tiếng "Trời" nặng trĩu thoát ra từ lòng ngực ông như tất cả sinh lực trong người được trút ra hết… Rồi ông ôm lấy vợ, nước mắt ràn rụa. Bà Năm cũng khóc nhưng vẫn không buông rời hai cái túi vải. Hơn mười năm sống với Việt Cộng, đã trở thành một bản năng : nắm chặt, giữ chặt những gì còn thuộc về mình, những gì mà "tụi nó" chưa kịp chiếm lấy, cướp lấy !
      Một lúc lâu sau, phải một lúc lâu sau, ông Năm mới lấy lại bình tĩnh. Ông nói :
      - Thôi mình về đi em !
      Tiếng "em" thật tự nhiên, thật nhẹ nhàng. Tiếng "em" mà đã mười năm, bà không còn nghe thấy ! Bà cắn môi để kềm xúc động, nhìn chồng mà đuôi mắt nheo lại mỉm cười. Bà nghe một cái gì mát rượi đang len vào lòng, một cái gì đã làm rơi mất từ hơn mười năm, bây giờ mới tìm gặp lại. Mãi đến bây giờ, ông Năm mới thấy trong đôi mắt vợ, nét cũ ngày xưa : to tròn như mắt đầm, trồng đen lay láy. Đôi mắt đó đang nhìn ông, cái nhìn ngời lên như muốn nói thật nhiều… Ông cúi xuống định xách hai túi vải. Bà Năm lắc đầu :
      - Để em xách !
      Tiếng "em  cũng thật tự nhiên thật nhẹ nhàng. Giọng nói thật dịu dàng, trong trẻo. Làm như nước mắt đã tẩy sạch dấu vết của mười năm…
      Ông vói tay cầm lấy quai túi :
- Để anh xách cho.
Bà Năm vừa bước đi, vừa nói, tay vẫn nắm chặt hai túi vải :
- Không sao. Em xách được. Ở bển, em gánh lúa mỗi ngày cho nhà máy, có sao đâu.
      Ông Năm bỗng nghe lòng quặn thắt. Thì ra "tụi nó" đày đọa bả đến nước đó ! Bả tội gì ? Tội gì ? Tội vượt biên ? Thì đã ở tù trên ba tháng rồi còn gì nữa ? Vậy tội gì ? Ông Năm nghiến cái câm thù trong răng để đừng chửi đổng, nhưng rồi ông cũng bật ra : "Quân khốn nạn !"
-oOo-
      Về đến nhà thì trời đã xâm xẩm tối. Lần này thì chính ông Năm xách hai túi vải, đi trước dẫn đường, lòng vui như mở hội. Đến chân cầu thang, ông nói :
      - Ở từng lầu ba lận. Em leo nổi không ?
      Bà Năm trả lời, giọng vẫn trong trẻo :
      - Gì không nổi ? Bây giờ em làm cái gì cũng nổi hết.
      Rồi bà bước lên cầu thang, bước đều đặn. Ông Năm theo sau, nhìn dáng dấp nhỏ thó với mái tóc bạc hớt bom-bê cao ông bỗng thương vợ vô cùng. Mười năm… Mái tóc huyền mà ngày xưa hay kéo sát về phía sau để cuốn tròn kẹp gọn một vòng trên ót… bây giờ chỉ còn là như vầy ! Cái cổ tròn dẫn xuống bờ vai thon thon của hồi đó… bây giờ gầy nhom như vầy ! Mười năm… Chắc bả phải khổ ghê lắm, phải chịu đựng ghê lắm mới ra nông nỗi này ! Tội nghiệp ! Người đàn bà hiền khô và nhát hít đó chưa làm phiền lụy ai bao giờ, vậy mà Việt Cộng vẫn moi ra một cái cớ nào đó để hành hạ. Và như vậy suốt mười năm. Lam lũ quá nên bả già trước tuổi, chớ bả cũng còn giữ được cái nhìn, giọng nói và tâm hồn… những thứ mà Việt Cộng không cưỡng chiếm được !
      Vào nhà, ông Năm bật đèn lên, bà Năm nhìn quanh mỉm cười, không nói. Ông Năm đặt hai túi lên bàn ăn, rồi cũng nhìn quanh :
      - Nhà của anh đó. Nhỏ như cái lỗ mũi. Tạm một thời gian rồi mình sẽ kiếm nhà khác rộng hơn.
      Bà Năm dịu dàng :
      - Như vầy cũng được. Có hai đứa mà gì…
      Bỗng nhiên hai người nhìn nhau. Tiếng "hai đứa" nhắc cho họ nhớ tới hoàn cảnh bây giờ, một hoàn cảnh mà từ lúc gặp lại nhau bao nhiêu thống hận dập dồn đã làm họ quên đi : bây giờ "hai đứa" vẫn còn có nhau, thật sự còn có nhau. Rồi sẽ không còn gì chia cách. Rồi sẽ đi bên nhau, đi hết đoạn đường còn lại, một đoạn đường không còn bao nhiêu xa… Bởi vì họ biết : họ đang bước vào mùa thu của cuộc đời… Cho nên họ nhìn nhau mà yêu thương dâng đầy trong mắt.
      Bà Năm bước lại cửa sổ. Ngoài xa trên nền trời trắng đục, hiện lên thật rõ cây thánh giá và nóc nhà thờ Sacré Coeur. Bà Năm hỏi :
      - Cây thánh giá này đây ?
      Câu hỏi trống không nhưng hai người cùng hiểu : cây thánh giá mà ông Năm viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần trong thư gởi về Việt Nam. Ông bước lại khoác vai vợ, gật gật đầu. Hai người yên lặng nhìn cây thánh giá như đang tạ ơn, giống như đang rước lễ, giống như cô dâu chú rể sau khi được kết hợp thành vợ chồng… Thời gian bỗng như dừng lại, để hình ảnh trở thành bất diệt, nói lên cái cao cả của tình yêu, cái huyền diệu của niềm tin… những thứ mà Việt Cộng muốn xoá bỏ để biến con người thành gỗ đá.
      Một lúc lâu sao, bà Năm như sực tỉnh :
      - Để em soạn đồ ra.
      Rồi bà bước lại bàn mở hai túi vải. Ông Năm đốt điếu thuốc, khói thuốc lâng lâng nhẹ. Ông ngồi cạnh giường nhìn vợ soạn đồ bằng đôi bàn tay xạm nắng với những đường gân nổi lên ngoằn ngoèo. Đôi bàn tay đã từng có ngón tay thon dài khéo léo từ đường kim mũi chỉ… bây giờ là như vậy ! Ông thấy thương vợ vô cùng.
      Bà Năm soạn đồ ra để trên bàn : vài bộ quần áo, mấy cái khăn lông, một cái mền nhỏ…
      Vừa làm bà vừa nói :
      - Có bao nhiêu, em đem theo hết. Nói là đi chánh thức chớ không biết lúc nào tụi nó bắt mình lại. Có nhiều người lên máy bay rồi mà còn bị lôi xuống, không biết vì cớ gì. Rồi khi được thả ra là trắng tay.
      Bà lấy trong túi ra một khuôn hình, trao cho ông Năm :
      - Em đem hình ông già bà già qua để lâu lâu mình thắp một cây nhang.
      Ông Năm nhìn hình cha mẹ, lòng bồi hồi xúc động. Hình này, hồi đó, để trên bàn thờ nhà cũ. Nhà bị tịch thu, không hiểu bả làm sao lấy được để mang qua đây ? Ông đứng lên nhìn quanh, rồi treo khuôn hình lên cây đinh trên tường đối diện.
      Có tiếng bà Năm nói :
      - Em có đem qua cho anh chai rượu nếp than nữa. Nhớ hồi đó anh ưa lắm.
      Ông quay lại, cầm chai lên mở nút. Chưa đặt miệng chai lên mũi mà mùi rượu ngọt ngào thơm phức tỏa ra thật nồng nàn. Ông hít một hơi dài, đóng nút lại, rồi nhìn chai rượu mà ứa nước mắt. Nỗi nhớ quê hương nằm sâu trong tìm thức, bây giờ, mùi rượu nếp than, màu rượu nếp than đã làm bật dậy, vô cùng mãnh liệt. Ông tưởng chừng như vừa hưởi thấy mùi thơm quê hương. Có mùi ngọt ngọt của lúa chín, có mùi nồng nồng của rơm của rạ, có mùi hăng hăng của đống un đốt cạnh chuồng trâu chuồng bò… Ông tưởng chừng như đang giữ trong tay một mảnh trời quen thuộc. Ở đó có màu tím lờn lợt của hoa bằng lăng, có màu tím nâu nâu của vỏ măng cụt, có màu tím học trò của trái mồng tơi, và những tà áo tím phất phơ theo gió qua cầu, với những chiều tím quê ngoại, đứng ngẩn ngơ bên sông Vàm Cỏ khi tuổi vừa mới lớn… Chao ơi ! Ngần đó thứ, tưởng quên nhưng vẫn nhớ. Ngần đó thứ bây giờ xa thật xa. Xa, không phải vì cách biệt, mà xa vì không còn thuộc về mình nữa !
      Ông Năm cầm chai lắc lắc, bột nếp than tím ngát dợn lên trong lòng chai. Ông mở nút rót thẳng vào miệng một hớp. Chất rượu béo ngậy ngọt ngào cay cay nhắc ông nhớ những quán nhậu ở Hóc Môn, những món thịt rừng ở Biên Hoà, những con cá mú sửa kho tộ ở Vũng Tàu bãi sau bãi trước… Ông ngậm lấy hớp rượu để nghe rõ chất rượu đang thấm vào nướu răn, đang thấm vào các thớ thịt cổ, đang thấm lên nóc giọng, đang nồng lên mũi. Ôi ! Mùi vị quê hương là đây… ông không cầm được nước mắt !
      Bà Năm vẫn âm thầm soạn đồ đạc. Bà hiểu ông Năm lắm và nghe thương chồng vô cùng. Tội nghiệp ! Mười năm xa quê hương…
      Ông Năm vào phòng tắm rửa mặt rồi ra chỉ chỗ cho vợ xếp quần áo. Xong ông bảo :
      - Anh đã làm sẵn mấy món ăn cho hai đứa. Để anh đem ra hâm. Em đặt bàn đi. Đồ đạc trong tủ búp-phê đó.
      Bà Năm nghi ngờ :
      - Anh mà làm bếp cái nỗi gì ? Mua ở tiệm thì có.
      Ông Năm cười sảng khoái :
      - Em lầm rồi ! Bây giờ, anh làm cái gì cũng được hết. Nấu bếp, giặt đồ, làm ménage … đủ thứ. Rồi em coi ! À… đặt bàn em nhớ để một dĩa sâu cho món súp légume và một dĩa trẹt cho món gà nấu rượu, nghe !
      Bà Năm mỉm cười, thấy chồng sung sướng mà lòng cũng thênh thang trải rộng.
      Một lúc sau, hai vợ chồng ngồi vào bàn ăn. Trên bàn cũng có hai cây nến. Cũng khăn trải bàn trắng phau, cũng khăn ăn màu xám lợt, cũng dĩa trắng chạy chỉ vàng, cũng nĩa dao cáng gỗ có nét vẽ cong cong nhè nhẹ. Và không quên hai ly rượu có chân, đựng chút rượu nếp than có màu tím đậm đà và hương thơm mời mọc.
      Ông vui vẻ :
      - Như vầy mới đúng là nuit de noces chứ, phải không em ?
      Bà Năm nhìn chồng không nói, nhưng vành tai bỗng đỏ bừng. Bà nói lảng :
- Súp ngon chớ ! Anh học nấu ở đâu vậy ?
Ông để ngón tay trỏ lên môi, vẻ bí mật :
      - Hùm… Không nói đâu ! Ông Tiên người Tàu chuyên nấu đồ Tây chỉ đó, dặn anh đừng nói cho ai biết !
      Rồi cả hai cùng cười vì hình ảnh ngộ nghĩnh đó, cái cười hồn nhiên tìm lại sau mười năm xa nhau…
      Bữa ăn kéo dài bằng những chuyện kể cho nhau nghe, nhớ đâu kể đó, không mạch lạc đầu đuôi, bởi vì trong thời gian mười năm có biết bao nhiêu sự việc đã xảy ra để mà nhớ cặn kẽ cái nào sau cái nào trước ! Dọn dẹp xong thì trời đã khuya. Hai vợ chồng chia nhau, bà nằm trên giường, ông nằm trên nệm dưới đất.
      Tắt đèn đã lâu mà hai người vẫn còn trằn trọc. Làm như còn thèm nói chuyện với nhau nữa ! Bóng tối dầy đặc vây quanh. Không khí trong nhà êm êm mát mát. Mùi rượu nếp than và mùi thuốc lá Dunhill còn phản phất thơm thơm. Bỗng bà Năm nghe một bàn tay của chồng đặt lên mình mình. Toàn thân bà run lên nhè nhẹ. Hơi thở của bà bỗng trở nên phập phồng. Một cảm giác dường như thật cũ, mà cũng dường như thật mới, dìu dịu ngây ngây… Bà không biết nữa ! Rồi, không tự chủ được, bà cầm bàn tay chồng áp lên má, lên mũi, lên môi. Bàn tay này tưởng đã vĩnh viễn không còn nhìn thấy, cầm lấy. Da thịt này tưởng đã vĩnh viễn không còn đụng chạm sờ mó được. Mười năm… Mười năm… Nước mắt bỗng chảy dài xuống hai bên tai, bà Năm thốt lên nho nhỏ : "Mình !". Chỉ có một âm đơn độc, nhưng sao tiếng "mình" nói lên thật nhiều, diễn tả thật nhiều. Tiếng "mình" mà mười năm nay ông Năm không còn nghe. Tiếng "mình" gợi lên tình nghĩa vợ chồng, nỗi niềm chia xẻ. Tiếng "mình" cũng là tiếng nói của yêu đương, của hài hoà sum họp. Và tiếng "mình" ở đây, trong hoàn cảnh này, sao nghe thật mời mọc dâng hiến… Người đàn bà mười năm khổ hận đó, vợ ông, cần được yêu thương thật nhiều để bù lại. Tiếng "mình" gọi nhỏ trong đêm bỗng nghe tiếp nối… Bồi hồi xúc động, ông Năm chồm lên ôm xóc lấy vợ, hôn tràn lên tóc, lên má, lên môi. Ông nghe trong tay, run lên như đang cơn sốt, thân xác gầy còm của vợ. Và tai ông còn nghe những tiếng "mình" đứt quãng ú ớ như tiếng nói trong chiêm bao…
      Cuộc tình của tuổi vào thu âm thầm như lá rụng bên ngoài nhưng cũng nồng nàn ngọt lịm như hớp rượu nếp than cùng chia nhau khi nãy. Có mùa chớm thu nào mà không thấy còn sót lại vài tia nắng hạ ?
-oOo-
      Tôi muốn câu chuyện này chấm dứt ở đây cho cuộc tình được đẹp như bài thơ, được vuông tròn như trong tiểu thuyết. Nhưng trên thật tế không phải như vậy. Bởi vì…
   …Một tháng sau đó, bà Năm ngã bịnh, phải vào nằm nhà thương. Bà bị ung thư phổi, ở thời kỳ chót. Bà đã giấu ông Năm, lâu nay, bây giờ bà mới cho biết : hồi còn ở Việt Nam, nhờ khám thấy ung thư nên bà mới xin được chiếu khán xuất cảnh. "Nhà nước Cách Mạng vốn khoan hồng nhân đạo, nên cho phép chị sang thăm chồng đấy ! Chớ chị không nằm trong diện được cứu xét nào cả. Rõ chưa ?". Gã cán bộ trao giấy phép cho bà Năm, mà nói như thật ! Tụi nó dư biết rằng có giữ bà lại cũng chỉ tốn gạo tốn khoai thêm vài tháng nữa và là một miệng ăn phi sản xuất, chẳng lợi lộc gì cho "nhân dân". Thà tống đi gấp để khỏi phải chôn thêm một người, chật đất !
      Ông Năm đã ngồi bên giường vợ suốt thời gian cuối cùng. Ông đã cầm bàn tay còn mang tỳ vết của mưòi năm gian khổ. Ông đã ôm gương mặt phong trần chưa kịp đổi hồng sau mấy tuần sống đầy hạnh phúc. Và cuối cùng, ông đã chải lại mái tóc bạc chưa kịp dài để được cuốn tròn kẹp lên sau ót, như ngày xưa…
      Ông đã gục lên thân xác gầy khô, khóc với tất cả nước mắt còn lại.
      Mùa thu đó, lá rụng thật nhiều…                                                                
Tiểu Tử

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Tổng Thống Ngô Đình Diệm


Madam Ngô Đình Nhu / Madam Ngô Đình Nhu diễn thuyết tại đại học Fordham Newyork năm 1963




 

Part 2

   
Part 3

 

BÀ NHU LÀ NGƯỜI TÀI GIỎI. HOÀN CẢNH TẠO NÊN CON NGƯỜI, VÀO THỜI ĐIỂM ĐÓ VỚI CHÍNH SÁCH VÀ SÁCH LƯỢC CỦA DÒNG HỌ NGÔ LÀ CẦN THIẾT PHẢI DẸP VÀ LOẠI BỎ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN LÀ RẤT HỢP LÝ VÌ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ CỐ VẤN NGÔ ĐÌNH NHU LÀ HAI NGƯỜI NHÌN XA VÀ THẤY ĐƯỢC SỰ TAI HẠI VÀ NGUY HIỂM CỦA CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN, DO VẬY ÔNG NHU MỚI CHO CHÍNH PHỦ VNCH THÀNH LẬP NÊN ẤP CHIẾN LƯỢC ĐỂ LOẠI BỎ QUÂN ĐỘI CỘNG SẢN NẰM VÙNG TRONG MIỀN NAM, NGƯỜI MỸ AMERICAN HIỆN DIỆN TẠI VIỆTNAM THẤY CHÍNH SÁCH ẤP CHIẾN LUỢC LÀM CHO NGƯỜI MỸ KHÓ CHỊU VÌ NGƯỜI MỸ THẤY ÔNG DIỆM RA LỆNH CHO BẮT BỚ VÀ THỦ TIÊU HẾT NHỮNG AI BỊ COI NHƯ THEO CỘNG SẢN, THÌ CHÍNH PHỦ MỸ ĐƯA NHỮNG THÔNG TIN NÀY LÊN TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ VÀ BÁO CHÍ TẠI NƯỚC MỸ BÊU XẤU ÔNG DIỆM VÀ ÔNG NHU LÀ ĐỘC TÀI VÀ PHONG KIẾN, NHƯNG ĐÂY LÀ MỘT CÁI LÝ DO ĐỂ CHÍNH PHỦ MỸ MUỐN HẠ BỆ ÔNG DIỆM,VÌ TT DIỆM CƯƠNG QUYẾT KHÔNG CHỊU CHO QUÂN ĐỘI MỸ HIỆN DIỆN TẠI VIỆTNAM 

Vivian Huỳnh Ca sĩ 13 tuổi gốc Việt hát nhạc của nhạc sĩ Việt Khang, Anh Bình



Video VOA







Xin bấm vào Link để nghe phỏng vấn với đài VOA

http://www.voatiengviet.com/media/video/1730748.html?z=2089&zp=1


Một cô bé 13 tuổi nổi tiếng trong cộng đồng người Việt hải ngoại vì trình bày rất thành công các ca khúc từng khiến cho hai nhạc sĩ tại Việt Nam bị bỏ tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước”. Cô Vivian Huỳnh thời gian gần đây đã được mời đi nhiều nơi trên nước Mỹ để thể hiện các tác phẩm của nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình như Việt Nam tôi đâu, Anh là ai, Nỗi đau quê hương…. Vì sao một thiếu niên sinh trưởng tại Mỹ lại đam mê các ca khúc bị nhà nước Việt Nam xem là phản động, không quản ngại thời gian và công sức để phổ biến các tác phẩm đó? Trà Mi có cuộc trao đổi với ca sĩ trẻ này hồi đầu tháng 8 nhân chuyến lưu diễn của cô từ San Jose, bang California lên thủ đô Washington DC để góp mặt trong chương trình Dòng nhạc Tuổi trẻ Yêu nước.

Chai Dầu Gió Xanh


 
Tác giả tự sơ lược tiểu sử :Sinh ở Bình Định , lớn lên ở Biên Hoà , học Trung Học Ngô Quyền 1965-1972 . Học Đại Học Khoa Học Sài Gòn rồi qua Mỹ Tháng Tư 1975 . Hiện làm Y Sĩ và là Giáo Sư Tiến Sĩ của Đại Học Texas Woman's University Houston Texas / TWU . Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của Tường Vi kể chuyện trên một chuyến bay khi tác giả hướng dẫn phái đoàn gồm 33 giáo sư , sinh viên đi Việt Nam thực hiện một chương trình y tế của đại học TWU . Hệ thống TWU gồm Học viện và Texas Medical Center được coi là Trung Tâm Y Tế lớn rộng nhất thế giới . Vài con số tiêu biểu : 280 building , diện tích 45,5 triệu bộ vuông , toạ lạc trên 1 300 mẫu đất ; Ngân sách hàng năm 14 tỷ ; 92 500 chuyên gia và nhân viên , TWU có 21 bệnh viện – 6 500 giường - hàng năm đón 7,1 triệu bệnh nhân ; Số trẻ vào đời : 28 000 . Số sinh viên học toàn thời : 34 000 .
* * *

Chai Dầu Gió Xanh

Tôi là người hành khách phút cuối của chuyến máy bay Singapore Airline #1490 với hành trình qua ngả Moscow , Singapore , rồi Tân Sơn Nhất . Cửa phi cơ đóng lại ngay sau khi tôi vào .
Đây là chuyến bay đưa phái đoàn của trường đại học nơi tôi giảng dạy đi Sài Gòn . Đoàn gồm 33 giáo sư và sinh viên do tôi hướng dẫn , có nhiệm vụ thực hiện một chương trình y tế và văn hoá giữa trường chúng tôi và một số đại học bên Việt Nam .
Sau cả tuần căng thẳng vì lo liệu đủ thứ , đã tưởng không thể bay , ngày chót khi cố thu xếp mọi việc để tiếp tục chuyến đi , vào được ghế của mình , tôi lả người mệt muốn ngất đi được . Thò tay vào giỏ xách tôi lấy ra chai dầu gió xanh , nhón ngón tay trỏ vào đầu chai , chấm chút dầu xoa vào hai bên thái dương .
Chỉ trong chốc lát , dường như cơn mệt mỏi dịu dần . Thật cảm ơn chai dầu gió xanh này . Nó và tôi , như « đôi bạn »  thân thiết , bao năm qua luôn ở bên cạnh nhau . Lần này , chúng tôi cùng bay về quê xưa , mùi dầu xanh quen thuộc nhắc nhớ bao chuyện cũ .
Mẹ tôi mất khi tôi vừa 16 tuổi , tuổi đẹp nhất của thời con gái . Tôi nhớ rất rõ nhà tôi lúc ấy ở gần phi trường quân sự Biên Hoà , đêm đêm tiếng bom đạn pháo kích nghe rất gần . Ban đầu rất sợ , tôi đã tung mền và trốn dưới  ... gầm giường , tự làm mồi cho muỗi đói mà không hiểu là mấy tấm vạt giường mỏng manh đó làm sao mà đỡ nổi bom đạn . Riết rồi cũng quen , mỗi lần nghe pháo kích , tôi không núp gầm giường nữa mà tỉnh bơ nằm ngủ . Con người ai cũng có số , nếu tới số chết thì ở đâu cũng chết  ... Thời ấy , tôi đã thầm biện hộ cho cái tính làm biếng của mình như thế .
Một đêm kia , đang ngủ mê , tôi thình lình bật dậy vì một thứ âm thanh khủng khiếp . Tai ù đặc không thể phân biệt được . Mắt vừa mở thì trời ơi , thấy cả bầu trời xanh lè đang chụp xuống . Mái nhà , những bức tường đã bay đâu cả rồi .
Dần dà , tôi nhận ra tiếng la khóc chung quanh . Nghe thì mơ hồ như từ cõi nào , nhưng nhìn thì hiện ngay trước mắt : Ba tôi đang ôm mẹ tôi , máu tuôn xối xả từ người mẹ . Tôi không biết mình đang ở đâu . Mãi lát sau mới nhận ra cái tủ đựng đồ ăn gãy hết hai chân đứng chỏng chơ . Thì ra chúng tôi đang trên nền cũ của nhà bếp , chính giữa là một cái hố sâu , khói bụi đang bốc hơi . Bên miệng hố , con chó Tô Tô của tôi , mình mẩy đẫm máu , đang rên rỉ . Con chó Ki Ki thì lẩn quẩn kế bên , miệng gầm gừ thảm thiết . Đây là cặp chó mà ba tôi đã xin về nuôi được chừng 2 năm rồi .
Có cái gì ướt trên mặt tôi . Đưa tay lên vuốt mặt , thấy bàn tay toàn là máu . Thì ra tôi cũng đã bị thương trên trán và cả ngôi nhà gia đình đã trúng đạn pháo kích .
Sau đó , mẹ tôi được đưa khẩn cấp vào nhà thương Biên Hoà . Hai tuần sau , vết thương biến chứng sao đó , phải chuyển gấp lên nhà thương Cơ Đốc ở Phú Nhuận , Sài Gòn . Tôi ở lại trong nhà thương Cơ Đốc với Mẹ nhiều ngày . Tại đây , tôi có dịp tiếp xúc với các y tá điều dưỡng và các vị bác sĩ hằng ngày đến chăm sóc cho mẹ , và bắt đầu cảm tình với ngành y từ đó .
Nhờ sự chạy chữa tận tậm của bệnh viện , thương thế mẹ tôi rồi cũng ổn định dần , nhưng từ khi rời bệnh viên về nhà , bà không còn khoẻ mạnh như xưa . Bà hay đau lưng , nhức mỏi , không còn sức làm việc như lúc chưa bị thương . Rõ ràng là mẹ ngày một suy yếu hơn . Dù đầu óc còn non nớt , tự tôi cũng thấy được điều này .
Thời ấy , trong túi áo bà ba của mẹ tôi lúc nào cũng có một chai dầu gió xanh mà bà thường lấy ra để xoa hay ngửi . Tôi cũng đã nhiều lần tự hỏi là dầu này có công hiệu hay không , vì chị em tôi ai nấy đều « sợ »  bị bôi thứ dầu này . Khi chúng tôi bị sổ mũi nhức đầu , mẹ đều bắt chị em tôi phải bôi dầu hay cạo gió . Trời ơi , mỗi lần thấy mẹ tôi với chai dầu « mắc dịch »  này chị em tôi đều chạy trốn , mặc cho bà phải kêu tên từng đứa dỗ dành .
Rồi đến một ngày không bao giờ tôi quên . Hôm đó mẹ tôi rất mệt . Khuôn mặt xanh xao , giọng nói yếu ớt , mẹ sai tôi đi chợ , mua thức ăn rau cải và dặn thêm : nhớ ghé qua hàng thuốc mua cho mẹ chai dầu xanh , vì chai dầu mẹ đang dùng gần cạn .
Tôi tung tăng đi chợ mua thức ăn như lời Mẹ dặn . Trên đường về đầu óc tôi sao vẫn băn khoăn giống như mình đã quên một chuyện gì quan trọng . Cá cơm kho tiêu , canh cải bẹ xanh nấu tôm , rau muống xào , chuối tráng miệng  ... Đủ hết . Đâu còn thiếu món gì . Mãi tới khi về đến gần nhà , băng qua cầu Đúc , tôi mới đứng khựng lại vì chợt nhớ ra lời mẹ dặn thêm là mua chai dầu xanh cho mẹ . Tôi lật đật vòng lại , đi lên chợ để mua chai dầu . Đường lên chợ sao bây giờ thấy quá xa , tôi chạy hoài không tới  ...
Rồi sau cùng tôi cũng về đến nhà , nhưng sao nhà tôi lại đông người như vậy ? Các cô bác láng giềng đang bu quanh ba tôi . Thấy tôi vào nhà , các em chạy lại nắm tay tôi và khóc . Ba tôi ôm tôi , nói trong tiếng nấc : má con đã chết rồi  ... Tôi sững sờ nhìn chai dầu xanh mà tôi đang nắm chặt trong tay . Tôi đã về muộn rồi . Mẹ tôi năm ấy chỉ có 38 tuổi .
Ít ngày sau khi Mẹ qua đời , con chó Tô Tô vốn thường luẩn quẩn bên chân Mẹ , cùng bị thương trong trận pháo kích , cũng chết theo . Em tôi tìm thấy nó bỏ ăn , mãi nằm bên gốc cây măng cụt mà mẹ tôi đã trồng mấy năm về trước .
Từ đó , ở cái tuổi « ăn chưa no lo chưa tới »  của mình tôi đã phải đối đầu với thật nhiều khó khăn trong cuộc sống . Ngoài việc nhà , nấu cơm giặt giũ , chăm sóc các em , tôi còn phải ngược xuôi lo việc chi tiêu trong nhà với đồng lương công chức giới hạn và bấp bênh của ba tôi , những việc mà khi còn me , tôi không bao giờ phải bận tâm lo lắng .
Cũng từ đó , tôi bắt đầu thân quen với chai dầu mua về cho Mẹ . Dù qua nhiều dâu bể của đời , chai dầu gió xanh vẫn là người bạn đồng hành với tôi từ mấy chục năm qua .
Nghe có tiếng thầm thì chung quanh , tôi mở mắt ra . Trước mặt tôi là mấy giáo sư đồng nghiệp cùng trường và cả đám sinh viên của chúng tôi . Thấy tôi tỉnh dậy , cả đám cùng vỗ tay vui vẻ :
- Chào mừng giáo sư , chào mừng y sĩ . Chúng em vui lắm vì có cô đi cùng . Vậy là chuyến đi này là hoàn toàn mỹ mãn .
Donna , một cô sinh viên gốc người Mễ rất linh hoạt dễ thương của tôi hỏi .
- Cô ơi , mình sắp tới Việt Nam , cô hồi hợp không cô ?
Nhiều em khác cùng hỏi rồi thay phiên ôm tôi để chia niềm thương cảm .
Số là mới cách đây mấy ngày , tôi gặp một tai biến rất lớn trong đời , đã tưởng không thể tiếp tục công việc với phái đoàn . Ngày cuối , khi quyết định cùng bay thì tới vào phút chót , phi cơ không còn chỗ để ngồi chung với phái đoàn của mình .
Chuyến đi đã chuẩn bị từ lâu . Các giáo sư và sinh viên tham dự ai nấy đều nao nức đợi ngày đi . Riêng tôi thì mong muốn đem lại một chương trình nào đó có lợi ích cho nền y tế của Việt Nam , nhân tiện được thăm lại quê hương , bè bạn cũ . Mọi sự xếp đặt cũng đã xong , nhưng nếu thiếu người hướng dẫn như dự tính từ bước đầu thì cũng không trọn vẹn . Vì vậy khi thấy tôi trong chuyến bay , cả đám cùng vui lăng xăng nói cười .
Nói « cả đám ? »  cho thân tình chứ thật ra trong phái đoàn 33 người , lớp trẻ dưới tuổi ba mươi chỉ có 12 em sinh viên , trong số này có 3 em gốc Việt , đang học chương trình cử nhân . Phần còn lại , đều lớn tuổi và già giặn hơn nhiều . Trong nhóm này có 2 em đang hành nghề y sĩ ở Houston và Dallas ; một em sắp xong y sĩ ; 5 em sắp ra tiến sĩ sau khi trình luận án vào mùa Hè này , và 12 em khác đang học chương trình tiến sĩ . Dù thầy bằng trò hay trò bằng thầy về tuổi đời nhưng các em rất lễ phép và rất biết kính trên nhường dưới . Như vậy phái đoàn chúng tôi 33 người cũng có vẻ thuận thảo , hùng hậu . Hy vọng chuyến đi sẽ vui vẻ thành công .
Sau khi rời khỏi công việc bên bệnh viện , đã hơn 5 năm rồi , tôi nhận làm giảng sư chính thức cho trường đại học này . Tôi cũng đã dạy bán thời gian cho trường mấy năm trước nữa . Thấy không khí dạy học vui vẻ , nhất là tiếp xúc được với nhiều em sinh viên Việt Nam , gồm cả các em sinh tại Mỹ lẫn các du học sinh , nên tôi cũng thích vì có dịp hướng dẫn và khích lệ các em .
Trong trường , các em sinh viên người Việt hay gốc Á Châu thường tìm đến tôi để hỏi ý kiến về việc học hành , hay chỉ để than thở những việc xảy ra trong đời sống hằng ngày . Không biết từ bao giờ tôi đã trở thành một giáo sư hướng dẫn cho các sinh viên gốc Á Châu ở trường đại học này . Tôi thật không ngờ mình lại trở thành một bà « gõ đầu trẻ »  , loại công việc mà khi còn trẻ tôi không bao giờ mơ ước để trở thành . Năm ngoái tôi có khai giảng một khoá học mà tôi phụ trách dạy về y học và văn hoá Việt Nam . Các sinh viên ghi tên học rất đông , Mỹ có Việt có . Các em gốc Việt sau đó có đến cảm ơn tôi vì khoá học đã cho các em có cơ hội tìm hiểu thêm về nguồn gốc Việt Nam của mình .
Trạm đầu tiên xuống Moscow nghỉ ngơi chừng nửa tiếng . Cả đám sinh viên đã hăng hái mua sắm . Khi trở lại máy bay , cô cậu nào tay cũng mang theo những túi quà kỷ niệm .
Sau trạm ghé này , biết mình đang từng phút gần hơn với Việt Nam , tôi như hình dung thấy bạn bè , trường ốc và những chuyện phải làm . Một cảm giác vừa vui mừng vừa hồi hộp làm tôi nao nao trong lòng . Phi cơ đang bay trong đêm nhưng ngay sáng mai là tôi sẽ có mặt trên quê hương yêu dấu của mình , sẽ có dịp thăm viếng , gặp gỡ những nơi mà tôi đã hoạch định chương trình để bắt đầu một cuộc hành trình mới .
Vừa chập chờn muốn ngủ thì bị đánh thức bởi giọng nói vang lớn từ cái loa trên trần phi cơ . Tiếng cô tiếp viên hàng không lậi đi lập lại bằng tiếng Anh giọng Tàu lơ lớ :
- Trường hợp cấp cứu ! ! Trường hợp cấp cứu ! ! Chúng tôi cần gấp một bác sĩ . Trên máy bay , nếu có ai là bác sĩ xin đứng lên giúp chúng tôi một tay  ... Cấp cứu ! Cấp cứu !
Tôi tỉnh ngủ hẳn , quơ vội cái túi nhỏ và đi lên cabin phía trên , hỏi cô tiếp viên hàng không gần nhất :
- Trường hợp cấp cứu ở đâu vậy ? Tôi là y sĩ Vi , tôi sẽ giúp cô .
- Dạ xin y sĩ theo tôi . Bệnh nhân đang ở trên cabin hạng nhất .
Tôi đi theo cô này đến khu hạng nhất của phi cơ . Ghế ngồi ở khu này rộng rãi hơn và phần lớn các hành khách đang ngủ với những chiếc khăn che mắt phủ trên mặt cho dễ ngủ .
Bệnh nhân là một thanh niên trẻ , đang nằm sóng sượt ngay trên sàn phi cơ . Cả người anh ta co quắp lại như hình con tôm , hai mắt nhăm nghiền , mặt đẫm những giọt mồ hôi còn đọng lại .
- Hello . Tôi là Dr V . Tôi sẽ giúp anh . Chuyện gì xảy ra vậy ?
- Dạ em đau bụng quá , không chịu nổi . Phải nằm xuống như vầy mới bớt một chút . Em bị cách đây gần một tiếng đồng hồ , tưởng là chỉ sình hơi , ai dè càng lúc càng nặng hơn .
- Em tên gì ? Tôi hỏi .
- Dạ em tên John . Em là tiếp viên hàng không cho hãng máy bay , em làm ở khu hạng nhất này .
Lúc này thì hai học trò y sĩ của tôi là Patti và Mai đã đến . Patti lo cặp thuỷ đo nhiệt độ còn Mai thì giúp đo áp suất máu và hỏi về lượng đau của John .
Tôi bảo mấy người bạn đồng nghiệp của John :
- Đồ dự trữ cho trường hợp cấp cứu đâu ? Làm ơn đem ra để tôi coi có gì dùng được không . Nhớ đem thêm mấy cái mền nữa để đắp cho John .
Quay qua mấy em y sĩ tôi bảo :
- Hãy giữ cho John ấm và đừng cho ăn uống gì hết . Có thể cho một vài giọt nước vào môi để giữ môi không bị khô mà thôi .
- Dạ , nhiệt độ người của John là 99,8 F . Áp suất là 160 trên 100 , nhịp tim 112 và độ đau là 9 trên 10 . Mai thông báo .
- Cảm ơn em . Cứ giữ cho John ấm và lấy áp suất như vậy mỗi 10 phút . Nếu thấy thay đổi , cho tôi biết .
Tôi và Patti kiểm soát cái túi cấp cứu lớn mà cô tiếp viên hàng không vừa đem đến . Ngoài giấy tờ lặt vặt , chỉ thấy mấy thứ thuốc cấp cứu về tim như Digoxin , Lasix . Trong túi lớn còn một túi nhỏ chứa mấy bịch nước biển se-rum và kim , dây dùng để chuyền dung dịch này vào cơ thể .
- Patti , em chuẩn bị đồ chuyền dịch nhé . Không làm ngay bây giờ nhưng nên chuẩn bị trước . Tôi nói .
Tôi khám cho John . Mọi nơi bình thường . Chỗ đau duy nhất là vị trí dưới bụng phía tay mặt . Chỉ nhấn hơi mạnh một chút là John đã nhăn mặt kêu đau , cố đẩy tay tôi ra . Đây là trường hợp đau ruột dư mà phi cơ thì đang bay 50 000 mét ( độ cao hơi lớnvới phi cơ dân sự ) trên không gian , đâu thể làm gì . Tôi suy nghĩ thật nhanh rồi bảo Tim , xếp của John , là tôi muốn nói chuyện với phi công trưởng của phi hành đoàn . John bị đau ruột dư . Cần đưa vào nhà thương để mổ và điều trị gấp để bảo vệ sinh mạng .
Tim đi một lát rồi trở lại .
- Thưa y sỹ , Phi Trưởng của chúng tôi nói là bây giờ máy bay đang bay qua lãnh thổ của nước Afghanistan không thể đáp xuống được , mong y sỹ thông cảm .
- Như vậy nước tới là nước nào ? Và mình có đáp xuống được không ?
- Dạ , để tôi đi hỏi lại Phi Công Trưởng .
Tim trở lại lần nữa và nói .
- Nước tới là Ấn Độ và việc đáp xuống có thể được , nhưng xin y sĩ xác định lại việc cần đáp xuống vào lúc ấy , vì hiện thời bây giờ chúng ta còn phải bay 3 tiếng nữa mới qua khỏi biên giới của Afghanistan . Nếu đáp xuống theo chuyện cấp cứu thì cũng rất phiền hà và không biết bao giờ mình mới bay lên trở lại được .
Đúng lúc ấy , Patti gọi tôi lại :
- Dr V , áp suất của John là 92 trên 60 , nhịp tim 125 và độ đau là 10 trên 10 . Em nghĩ là bệnh tình của John đang bị trở chứng đó Giáo Sư .
Tôi trở lại chỗ John nằm . Tay chân John lạnh toát , mà mặt mũi thì luôn toát mồ hôi , dù Mai đang liên tục lau mặt cho anh ta . Đúng như Patti nói , John đang trong tình trạng trở chứng , máu huyết tuần hoàn bị sụt xuống . Nếu tình trạng này kéo dài thì nguy cho tính mạng .
Vây quanh John là những đồng nghiệp của anh ta , ai nấy đều lo lắng . Có mấy hành khách cũng tìm đến tò mò coi chuyện gì xảy ra . Tôi nói Tim là nên mời hành khách về lại ghế ngồi để chúng tôi có chỗ xoay trở làm việc .
- Bắt đầu chuyền nước biển đi . Mở wide open rộng ra , và giữ cho John ấm . Tôi bảo Patti . Quay qua John , tôi bắt chuyện :
- Hi John , em sao rồi , đau nhiều không ? Bây giờ chúng tôi chuyền nước biển cho em nhé . Mà trước giờ em có bị bệnh gì không ? Có bị cao máu tiểu đường không ?
- Em đau quá Dr Vi ơi . Em trước giờ khoẻ lắm không có bệnh gì hết .
- John có gia đình vợ con gì chưa ?
John gượng cười :
- Dạ chưa , Dr Vi . Nhưng em có bồ rồi . Cô ấy đang chờ em ở Singapore .
- A , vậy là em phải khoẻ lại cho mau để về gặp cô bạn .
Tôi nói chuyện đùa với John để giúp em quên bớt cái đau. Phải cố giúp John không bị nặng thêm , đủ sức chịu đựng trong khi chờ cấp cứu . Bỗng tôi chợt nhớ một việc .
- John à , tôi có một loại thuốc riêng mà khi nào cần thì tôi lấy ra dùng . Mà nó giúp tôi rất hiệu nghiệm . Nếu em muốn thì tôi sẽ chia sẻ với em ?
John gật đầu lia lịa .
- Dạ bây giờ y sỹ có gì thì xin cho em dùng . Em đau quá . Em đi đường bay này thường lắm nên biết là mình không thể đáp xuống đây đuợc đâu . Em lo quá , không hiểu có qua nổi cơn bệnh này không .
Tôi mở cái xách tay nhỏ , lấy chai dầu gió xanh của mình ra mở nắp cho John nhìn .
- Đây là chai dầu mà tôi hay dùng và nó rất hiệu nghiệm . Tôi đi dâu cũng có nó . John dùng thử nhé , nếu chịu được cái mùi hơi mạnh một chút của nó .
Tôi đưa chai dầu lên mũi John . Em hít một hơi nhẹ và nói .
- Mùi này cũng dễ chịu mà . Em thích lắm .
- OK , vậy thì tôi xức cho John nhé .
Tôi xoa dầu vào chỗ đau của John ở bụng , vừa làm vừa nói chuyện . Tôi hỏi chuyện làm , chuyện bạn bè , chuyện đời sống của John ở Singapore hay ở Mỹ . Mai và Patti vẫn tiếp tục lấy áp suất và nhiệt độ trong khi John dần dà có vẻ thích thú khi kể chuyện về đời mình cho chúng tôi nghe .
Khoảng chừng một tiếng đồng hồ sau , Patti thông báo là tuy độ đau không thay đổi , vẫn ở khoảng từ 8 cho tới 10 , nhưng áp suất của John đã lên cao trở lại , khoảng 140 trên 90 và nhịp tim hạ xuống còn 100 nhịp trong một phút .
- Vậy là tốt . Em cho nước biển chảy chậm lại một chút đi . Tôi bảo Patti .
Dần dà , John có vẻ tỉnh táo hơn một chút , sắc diện cũng khá hơn . Tôi khám lại John thì thấy tình trạng ruột dư của em không thay đổi gì lắm .
Tim , xếp của John , trở lại .
- Thưa y sỹ , chúng ta bắt đầu vào biên giới Ấn Độ . Phi Trưởng của chúng tôi xin ý kiến y sĩ . Nếu cần ngừng lại thì phải xin phép đáp xuống , thủ tục sẽ lâu lắm mà rồi chưa biết chừng nào máy bay mới có thể cất cánh trở lại .
- Sau Ấn Độ thì sẽ tới nước nào ? Tôi hỏi .
- Dạ Miến Điện rồi Thái Lan trong vòng 3 tiếng đồng hồ nữa .
- Để tôi nói chuyện với John xong sẽ trả lời câu hỏi của anh .
Tôi trình bày rõ ràng với John về những chi tiết này . John trầm ngâm rồi hỏi lại tôi :
- Y sỹ nghĩ như thế nào , em có thể chịu nổi để về đến Singapore không ?
- Thật sự thì rất khó đoán trước cơ thể của John sẽ chuyển động như thế nào nhưng tôi nghĩ là sẽ còn sức chịu được vài tiếng nữa , ít ra thì mình cũng có thể đến Thái Lan . Việc chữa trị ở đó cũng tốt hơn nếu so với những nơi khác . Tôi trả lời cho John .
- Xin y sỹ quyết định cho em vậy đi .
Tôi quay lại bảo Tim .
- Cứ tiếp tục bay đi . Khi nào gần đến Thái Lan thì cho tôi biết .
Trong suốt mấy tiếng bay tiếp , John và tôi vẫn tiếp tục trò chuyện , dầu gió xanh vẫn được thoa cho John đều đều . Nhiệt độ và áp suất máu của John khá bình ổn . Bịch nuớc biển vẫn nhỏ giọt đều nhưng chậm hơn lúc trước vì áp suất của John đã cao hơn . Chúng tôi đã đưa John lên nằm trên giường trong phòng dành cho phi công . John cho biết em thấy có vẻ khá hơn lúc ban đầu một chút .
Khi bay qua biên giới Thái Lan , tôi đã quyết định không dừng lại nữa vì từ nước này về Singapore thì chỉ còn một tiếng đồng hồ mà thôi và tình trạng của John thì thấy không thay đổi mấy . Cả đêm ấy , ba thầy trò chúng tôi không chợp mắt chút nào nhưng vẫn không thấy mệt .
Rốt cuộc thì phi cơ cũng đáp xuống phi trường Singapore . Khi xe cứu thương đến phi cơ để đưa John vào bệnh viện cấp cứu , cậu ấy đã nắm tay tôi và ngập ngừng hỏi :
- Em cảm ơn Doctor Vi và phái đoàn của doctor đã giúp em rất nhiều . Em sẽ không bao giờ quên y sỹ V đâu . Chúc y sỹ và phái đoàn thành công trong chuyến đi này . Nếu được , xin y sỹ cho em xin luôn chai dầu gió xanh đó , có được không ?
John muốn xin chai dầu gió xanh của tôi ? Tôi cảm động đến sững sờ khi trao cho John chai dầu xanh trước khi từ biệt .
Phi cơ tiếp tục bay . Sắp thấy lại Sài Gòn . Trong túi xách không còn chai dầu xanh . Vậy là chai dầu không cùng tôi trở lại quê Mẹ . Nhưng hơn bao giờ , tôi thấy chai dầu xanh đang ở trong tim mình .
Và thấy mình muốn khóc .
Tôi biết các bạn trẻ ngày nay , như tôi thuở nào , có thể coi chai dầu xanh là thứ « mắc dịch ». Vậy mà với người Việt mình , hình như ai ai trong đời ít nhiều cũng đều biết đến nó .
Chai dầu gió xanh của mỗi người có thể khác nhau . Có thể là những kỷ niệm thời ấu thơ với người thân yêu, một lần gặp gỡ hay chia lìa, một mối tình, một ánh mắt , một nụ cười , một dáng đi , một tà áo , một giọng nói , một câu dỗ dành , một bài hát hay một lời thơ  ... Đôi khi bất chợt gặp lại , mùi hương nồng ấm của thứ dầu gió này có thể giúp ta dăm ba giây phút sống lại những kỷ niệm xa xưa , để tâm hồn dịu đi đôi chút giữa cuộc sống xô bồ .
Trong hành trình dài của đời người , với những bể dâu gập ghềnh trong cuộc sống , tôi thấy mình vẫn có chai dầu xanh làm bạn đồng hành và được nó trợ giúp . Âu đó cũng là niềm vui và hạnh phúc . Tôi cảm ơn nó .
Võ Quách Thị Tường Vi , Lập Đông 2012

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

Chạy Giặc



BAGHDAD (AP) — In a mass exodus, around 30,000 Syrians have fled their homeland's bloody civil war over the past five days and streamed across the border into neighboring Iraq's northern self-ruled Kurdish region, the U.N. refugee agency said Monday.
The huge influx of people, many of whom are Syrian Kurds escaping escalating violence in northeastern Syria, has left aid agencies as well as Iraqi Kurdistan's regional government scrambling to accommodate them all. The men, women and children who made the trek join some 1.9 million Syrians who already have found refuge abroad in what has become a massive strain on neighboring countries.
"Syrian refugees are still pouring into Iraq's northern Kurdish region in huge numbers and most of them are women and children. The reason behind this sudden flow is still not clear," said Youssef Mahmoud, a spokesman for the U.N. refugee agency in Iraq's Kurdish region.
"Today, some 3,000 Syrian refugees crossed the borders and that has brought the number to around 30,000 refugees since Thursday," he said. The latest wave has brought the number of Syrian refugees in the Kurdish region to around 195,000, he added.


Ngày Mai Em Đi Lấy Chồng


(Tựa đề “Ngày Mai Em Đi Lấy Chồng” là tạm dịch từ ca khúc: “Demain tu te maries” Patricia Carli 1963.)

  Cuộc đời hưu trí giống như nước sông chẩy ngược dòng!

Buổi sáng dậy sớm khi mặt trời còn ngái ngủ, pha ly cà phê thơm, tôi ngồi bên cửa sổ trông ra khu vườn nhỏ rồi để tâm hồn lắng đọng giữa không gian tranh tối tranh sáng đầu ngày...

Giờ phút này thật tuyệt vời, chẳng còn phải vội vã chạy theo công việc. Thời đại internet nên mọi chuyện đều sẵn trong tầm tay: trả lời thư, tìm tin tức, đọc truyện ngắn, truyện dài... Tuổi già mất hẳn tương lai và dòng đời chỉ còn là khúc sông cuối nguồn chẩy ngược dòng bởi thế tôi thường hay bị cuốn trôi ngược về quá khứ...

Tình cờ sáng nay đọc đoản văn cũ “Lạc Đường Vào Văn Chương” của Trùng Dương. Hồi ký ấy có đoạn kể lại mối tình đầu của nhà văn với chàng sinh viên y khoa du học tại Bordeaux, một tỉnh nước Pháp bên bờ Đại Tây Dương đã làm tôi ngậm ngùi nhớ lại thập niên 60 thuở mới vào đời. “Người tình” ấy là bác sĩ Đặng Quốc Cường đã sớm qua đời ở tuổi 55 ví như câu thơ trong Kiều: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau...”.

Tôi với Cường đến Bordeaux năm 1964. Hai anh em thuê chung một phòng ở ngay trung tâm thành phố. Gia đình Cường thuộc thành phần khá giả nên chàng sang Pháp du học khi đang là sinh viên năm thứ nhất Đại học Y khoa Saigon. Gia đình Thái (tên thật của văn sĩ Trùng Dương sau này) tự thuật theo hồi ký: “Bố mẹ đông con nhưng thất cơ lỡ vận nên khi học trường Gia Long, nàng vỏn vẹn chỉ có hai áo dài trắng và một áo mầu xanh dương đồng phục của trường. Mắt cận thị mà mãi khi lên đệ tam trung học mới xin được người anh tiền để làm kính”.

Cường là một thanh niên đẹp trai, hiện đại từ mái tóc đến cách phục sức, vóc dáng thanh lịch gần với hình ảnh Anthony Perkins thuở xưa. Số chàng đào hoa và bảo đảm không đồng tính luyến ái như Perkins. Dạo sau này, xem ca sĩ Lương Tùng Quang trình diễn trong Thúy Nga Paris, tôi ngỡ ngàng tưởng như thấy bạn tôi đứng trước mặt vì hai người giống nhau như khuôn đúc... Cũng khuôn mặt ấy, đôi mắt long lanh, nụ cười rộng khoe hàm răng đều như bắp mà phái nữ thường hay bị cám dỗ.

Trong truyện “Mưa Không Ướt Đất”, Trùng Dương gói gém chân dung cuộc tình vào hai nhân vật Cương và Thư: “Như hai thái cực, không hiểu vì sao họ có thể yêu nhau? Cương yếu ớt, hơi giống con gái nên nhiều lúc anh phải tỏ ra nét trầm tĩnh. Cương thiếu tính nóng nẩy của đàn ông thực sự. Ngược lại tính nết Thư cứng cỏi, bề ngoài lạnh nhạt mặc dù có những đường nét dịu dàng trên khuôn mặt và thân hình...”

Rời quê hương du học, Cường miễn cưỡng bỏ lại Thái bơ vơ với mối tình đầu mà chỉ những lá thư gởi đi, gởi về nối liền hai tâm sự... Buổi chiều cuối tuần sau giờ học, tôi thường thấy Cường thức khuya, mải mê viết những bức thư dài để gởi đi vào ngày thứ hai đầu tuần. Bề ngoài sẵn phong cách hào hoa, khi cầm bút thì lời văn chữ viết cũng hữu tình đẹp nét, tôi chỉ biết khen mà không thể chê Cường ở một điểm nào dù rất nhỏ. Chúng tôi thương nhau như anh em và đây là một trong vài tình bạn đẹp nhất của tôi.

Thời gian ấy, hai đứa như hình với bóng. Những chiều thả bộ vừa đi vừa trò chuyện trên con đường đến quán cơm sinh viên. Xong bữa, hai đứa về học, hôm nào nhớ mong thì lại viết thư tình... Đôi khi, Cường cho tôi đọc thư của Thái. Tôi thích văn chương nàng vì nổi bật chất nghệ sĩ bất cần đời! Cường giới thiệu tôi với Thái và có lần hai đứa cùng nhận được thơ nàng rồi mỗi người một góc say sưa yên lặng đọc... 
Chúng tôi san sẻ cuộc sống và tình yêu thầm kín trong những năm tháng xa nhà và ngẫu nhiên tôi trở thành chứng nhân khi tình yêu của hai người tan vỡ... Ở xa, Thái không hiểu tại sao lại nhận được đĩa hát 45 “tour” của Cường gởi về từ Bordeaux? Trong hồi ký ấy có đoạn như sau: “Người tình đầu của tôi được bố mẹ lo cho đi Pháp học vì lúc ấy chiến tranh đã bắt đầu với sự ra đời của Mặt Trận Giảỉ Phóng Miền Nam. Từ Bordeaux, anh gửi về tặng tôi đĩa hát 45-tour bài Demain tu te maries”. Đó là thông điệp của Cường gởi về Thái trong một hoàn cảnh bắt buộc. Bài hát trình bầy bởi Patricia Carli năm 1963, tôi xin tạm dịch: “Ngày mai em đi lấy chồng”.

Năm 1966, hai đứa chúng tôi phải thi phần hai vào cuối niên học nên ở lại Bordeaux không đi nghỉ hè. Cường quen với Catherine, cô đầm có mái tóc nâu, hiền lành chất phác mà ai gặp lần đầu cũng dễ dàng tin yêu. Catherine làm y tá cho một bệnh viện ở thành phố nhưng tâm hồn và dáng dấp vẫn mang theo chút hương đồng cỏ nội miền quê ngoại.

Bố mẹ cô sống ở nông trại của gia tộc gần Angoulême, cách Bordeaux hơn 100 km về hướng Bắc. Nơi đây mỗi buổi sáng rộn ràng tiếng gà gáy và hoa dại mọc hoang vu đến tận chân trời. Thửa đất mênh mông ấy có vô số cây sim chín leo trên hàng dậu và những cây táo đỏ mọc khắp nơi. Một nơi lý tưởng để cậu sinh viên Cường về đây yên tĩnh học hành vì khí hậu mùa hè giữa lòng đô thị rất nóng nực. Theo lời mời của Catherine, Cường rủ Quân về quê cùng học thi vì hai người chung khoá. Riêng tôi, ở lại Bordeaux một mình trong căn gác trọ.

Thế nhưng câu chuyện của họ không êm đềm như cảnh quê thanh tịnh. Dưới bóng cây táo đỏ hàng ngày Cường mang bài vở ra ngồi học, Catherine sắp xếp hai buổi phục vụ đồ ăn thức uống cho chàng. Trưa hè, có những lúc hai người nằm trên thảm cỏ, vờn quanh chỉ thấy những chú sóc chạy nhẩy và hoa dại nở rộ khắp nơi. Thế rồi một chiều nào... đam mê không chờ đợi nhưng phải đến đã đến!

Cuối hè gần ngày thi, Catherine cho Cường biết đã mang thai và bố nàng muốn gặp để hỏi han sự tình. Chàng thoái thác đến sau ngày thi. Mấy tháng hè yên ổn ở miền quê, được gia đình Catherine nuôi dưỡng từng ngày chàng chỉ biết ăn học nên kết quả kỳ thi mỹ mãn toàn phần.

Vui mừng vì đã đỗ đạt, Cường họp những đứa bạn thân để lo đối phó với chuyện tình duyên. Câu hỏi đặt ra là phải trả lời ông bố tương lai ra sao về chuyện lấy hay không lấy Catherine làm vợ? Nếu cưới, chuyển ngân có thể sẽ bị cắt và chàng phải bỏ học! Cường, Quân, Hùng và tôi, bốn người quanh bàn tròn không chút kinh nghiệm về việc hệ trọng này nên lo lắng cho Cường. Cuối cùng, cả đám đồng phát biểu một ý kiến chung là nhất quyết phải từ chối lễ thành hôn để hạ hồi phân giải vì gia đình ở xa, tiền bạc không có mà ưu tiên là việc học vào lúc này.

Theo lời mời, bốn đứa chúng tôi như một phái đoàn, quần áo chỉnh tề đến gặp bố của Catherine... Từ dạo mới lớn, chưa lần nào chúng tôi sống không khí căng thẳng như trưa ngày hôm ấy! Ở tuổi đôi mươi, sống bên nhau với tình bạn nhiệt thành nên mọi người cùng tình nguyện theo Cường để yểm trợ và truyền sức mạnh... Đi gặp gia đình vợ tương lai mà phái đoàn mang bộ mặt thi cử vấn đáp mặc dù câu hỏi và lời giải đã thuộc nằm lòng... Ai cũng hiểu “con đường đến La mã” chỉ còn “lối mòn” duy nhất là chuyến đi này nên phải “cố thủ” bằng mọi cách.

Đến nơi, chúng tôi ngồi vào hai hàng ghế trong căn bếp rộng. Lát sau, vì có tật ở chân, bố Catherine chống nạng khập khễnh bước ra. Khuôn mặt gầy gò bộc lộ sự thản nhiên cố ý làm cho cuộc gặp gỡ mang vẻ bình thường. Từ tốn, ông bắt tay mọi người với nụ cười trên môi. Chúng tôi ngạc nhiên về cử chỉ ân cần nên đâm ra luống cuống bởi trước khi đến đây, ai cũng tưởng tượng sẽ gặp bộ mặt giận dữ và buồn khổ của ông.

Sau giây phút ban đầu, ông mời chúng tôi cà phê và rượu mạnh theo tục lệ Âu châu. Tôi thấy Cường rút bao thuốc Pall Mall hút không ngừng, có lẽ để tay chân và đầu óc bớt căng thẳng khi sắp phải đối diện với phần vấn đáp mà chàng biết câu trả lời sẽ đầy thất vọng. Bên này là trách nhiệm, bên kia là bổn phận đối với quê hương, gia đình và người yêu đang đặt hết tin yêu nơi chàng.

Khi bố Catherine cất tiếng, cả gian nhà đột nhiên im lặng. Lời ông ôn tồn như đang tâm sự với những người thân. Giọng ông kẻ cả và không một ẩn ý trách móc nào nên mọi người cảm thấy yên ổn. Chúng tôi ngồi bên nhau, có đứa rụt rè nhìn xuống tìm sự bình tâm thanh thản, có đứa nhìn lên mong ước một điều gì. Catherine đăm chiêu hướng về phía chân trời ngoài đồng cỏ như tự hỏi cuộc tình này... sẽ ra sao ngày mai?

Giữ sự thân thiện, ông quay sang phía Cường trình bầy mục đích của buổi họp:

- Mon cher Cường! Tôi không giận vì tình yêu chẳng bao giờ là điều đáng trách nhưng anh cần tự hỏi ngay lúc này xem có thật lòng yêu Catherine? Anh không bắt buộc cưới con tôi chỉ vì cái thai sắp ra đời! Chúng tôi sẵn sàng lãnh trách nhiệm ấy vì là mẹ và ông bà ngoại.

Thiết nghĩ, tình yêu cũng sinh ra và lớn lên vì thế chúng ta hãy để nó tự do cảm nhận và chọn lựa. Từ đó, theo thời gian nó sẽ dễ dàng khôn lớn còn ngược lại, không sớm thì muộn tình yêu ấy sẽ thành bãi chiến trường. Chẳng ai đi tìm hạnh phúc trong chiến tranh, anh đồng ý?

Người con gái khi trao thân thường phải có mối tình dẫn dắt nên tôi biết Catherine yêu anh nhưng... tình đơn phương như người đứng một chân sẽ không bao giờ vững như tôi đang chống nạng đứng đây!

Một lần nữa, tôi tha thiết xin anh đối diện với chính mình và tự hỏi lòng? Chúng tôi chỉ nhận lời anh cầu hôn nếu tình yêu của anh đối với Catherine là chân thật. Ngược lại, anh cứ thản nhiên ra về sau buổi họp này vì chúng tôi tin là bất cứ sự ép buộc nào để giải quyết một cách bất đắc dĩ chuyện tình của con gái tôi với anh là... sai đường lối.

Khi ông vừa dứt lời, Cường bàng hoàng như bị lạc đề thi. Theo dự tính, chàng chờ ông bố nói vào để chàng nói ra, chẳng ngờ giây phút cuối thế cờ ấy lại chao đảo... Tất cả những tính toán vô tình như nước chẩy hoa trôi. Nét mặt chàng xúc động về bài phát biểu đầy nhân cách. Quan trọng hơn cả là chàng không có “tội” và hoàn toàn tự do quyết định số phận mình. Nỗi lo âu canh cánh từ bấy lâu nay bỗng nhiên đã lọt vòng cương tỏa và chàng sẽ chẳng cần phải báo cho bố mẹ và người yêu cái tin động trời này!

Trong niềm “hân hoan” tưởng tượng ấy, chàng quay về phía các bạn để tìm hiểu nhưng thấy mọi người ngơ ngác như đàn nai. Bỗng nhiên, chàng thấy rộn ràng cảm động với ý nghĩ cao thượng và trong khoảnh khắc, thấy mình không thể phụ tình! Cường buông thõng câu kết để đáp lễ mà không ý thức được từ đâu đến... có thể tự đáy lòng phát ra mà chính chàng không hay:

- Oui! Jaime Catherine (Dạ! Tôi yêu Catherine).

Ra về trong băn khoăn. Chúng tôi yên lặng, chẳng ai nói một lời, có lẽ lời nào bây giờ cũng thành vô nghĩa? Tôi cảm phục bố Catherine về lối suy nghĩ và cách đối xử lạc quan. Ông như một thiền sư thấm nhuần sức mạnh của “chân không”, dựa vào tình thương để xoa dịu những khổ đau nên bao vấn đề dù nan giải cũng bay đi nhẹ nhàng.

Tháng sau ở Bordeaux, đi bên nhau thơ thẩn giữa phố xá đông người, tôi thấy Cường mua đĩa hát “Demain tu te maries”. Đã tưởng vì ca sĩ hát hay nhưng tình cờ đọc hồi ký của Trùng Dương, tôi mới hiểu chàng mua để gởi về một người như món quà mang sẵn thông điệp trong lời ca...

Cường thành hôn với Catherine một năm sau đó. Vợ nuôi chàng ăn học, trở thành bác sĩ y khoa ở Đại học Bordeaux và làm việc trong chức vụ Medecin des Hospitaux, Chef de Service du Centre Hospitalier de Dinan bởi nghị định 3 octobre 1994 của chính phủ Pháp. Cường đã sống đời hạnh phúc bên vợ con trước khi từ giã cõi tạm này bởi chứng bệnh ung thư.

Ở Saigon, đúng một năm sau, văn sĩ Trùng Dương “lạc đường vào văn chương” với tác phẩm đầu tay: “Mưa Không Ướt Đất” cũng là một thông điệp nối tiếp cho bài hát buồn “Demain tu te maries”. Kể từ đó, Trùng Dương như một ngôi sao lạ trên vòm trời văn học ở miền Nam Việt Nam trước 1975.

Tôi vừa kể câu chuyện thật đằng sau một cuộc tình. Xa mặt thường có những rủi ro đi đến... cách lòng! Buồn vì lỡ làng nhưng phải chăng đường nhân duyên và định mệnh của con người đã có sẵn khi vào đời? Tin như thế, sẽ giúp chúng ta chấp nhận số phận nếu không may gặp trắc trở trong tình trường...

Cao Đắc Vinh