Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

NHÌN LẠI NHỮNG BIẾN CỐ QUA CÁC NĂM TỴ TRÊN THẾ GIỚI


MUỜNG GIANG

            Chỉ mới nhìn lại hai con giáp gần nhất của năm Tỵ (1989,2001), ta thấy không biết bao nhiêu là biến cố đã xảy ra mãnh liệt và dồn dập đến độ gần như long trời lỡ đất, làm thay đổi cục diện thân phận và vị trí địa dư của nhiều quốc gia trên thế giới.

            Năm Kỷ Tỵ (1989),Trung Hoa vẫn nằm dưới sự cai trị của đảng cộng sản, người dân cả nước sống còn khốn khổ lầm than gấp ngàn vạn lần thời bạo chúa Tần Thủy Hoàng. Thế giới bên ngoài nhìn vào xã hội bên trong nước Tàu, giữa hàng rào kẻm gai họng súng và khối lượng lao động khổng lồ với giá mạt rệp, nên mắt nhắm tai ngơ mặc cho Trung Cộng cứ đổi mới kinh tế để cùng hưởng lợi, trong lúc vẫn giữ nguyên chế độ chính trị thời Mao Trạch Đông, cho dù không biết bao nhiêu đời tổng thống Mỹ từng đến Bắc Kinh để giao dịch với Tàu đỏ.

            Nhưng người Trung Hoa hơn ai hết đều  hiểu rõ sự thay đổi đời sống vật chất dưới chế độ cộng sản, chỉ là bình phong che đậy sự độc tài khủng bố bên trong. Do đó vào tháng 5/1989 đã phát sinh phong trào đòi quyền sống của tuổi trẻ Trung Hoa bừng dậy như sóng triều, khiến cho bạo chúa Đặng Tiểu Bình và thủ tướng Lý Bằng phải dùng xe tăng đại pháo đàn áp dã man người biểu tình, gây cảnh máu nhuộm Thiên An Môn, ngàn năm bia miệng.

            Thảm cảnh trên đã làm cho cả thế giới bàng hoàng vào những ngày đầu tháng 6 năm Kỷ Tỵ (1989), từ các tin tức nóng bỏng liên quan được báo chí đăng tải, nhất là tại Hoa Kỳ. Sau này nhiều người đã đặt câu hỏi, phải chăng bạo lực dã man vừa xảy ra tại Thiên An Môn, đã làm bừng tỉnh giấc ngủ trầm kha của người dân Đông Âu, khi báo chí thế giới phơi bày trước mắt họ những hình ảnh một cách thảm khốc. Ngoài ra cảnh tượng tàn sát ngay chính đồng bào mình của đảng cộng sản Tàu tại Thiên An Môn, vô hình đã biến thành một cơn lốc dữ dội, đẩy bánh xe lịch sử của năm 1989 từ Trung Hoa chuyển nhanh khắp thế giới. Cuối cùng cuộc cách mạng đòi dân chủ, quyền sống đã thành công tại Ba Lan, một nước cộng sản chư hầu của Liên Xô, qua cuộc bầu cử ngày 4/6, mở đường cho sự sụp đổ dây chuyền các quốc gia trong khối Đông Âu và chính tại thành trì Lê-Mác Mạc Tư Khoa sau đó.

            Mười hai năm trước , ngày 9 tháng 11 năm 2001, Tháp Bắc bị khủng bố tấn công bằng phi cơ phản lực Boeing 767 đã sụp đổ hoàn toàn vào lúc 10 giờ 30. Tháp Nam cũng bị tấn công tương tự và sụp đổ lúc 10 giờ, đánh dấu một ngày kinh hoàng và đau thương nhất trong lịch sử nước Mỹ, chỉ sau vụ Nhật tấn công lén Hạm Đội Mỹ tại Trân Châu Cảng (Honolulu) năm 1941. Đây là nổi kinh hoàng và bi thãm nhất chưa hề có trong lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ, đã từ trên trời ập xuống hai tòa tháp đôi (World Trade Center) được coi là biểu tượng sức mạnh của tài chánh và kinh tế Mỹ, nằm trong khu Manhattan, đã phát nổ và thành biển lửa. Lúc đó là 8:45 sáng khi chiếc Boing 767 đầu tiên, đâm vào tòa tháp Bắc của khu thương mại..tới 10 giờ 30 trưa, tòa nhà này hoàn toàn biến thành đống gạch vụn. Thời gian kéo dài đúng 105 phút !.

            Sau này qua những tài liệu, báo chí được phổ biến từ trong cũng như ngoài nước Mỹ, đã làm cho dân chúng Hoa Kỳ phải sững sốt khi biết chắc là 19 tên “ Khủng Bố “ đã vào Mỹ từ lâu để chuẩn bị kế hoạch giết người đồng loạt, mà chúng gọi la “ tử vì đạo “ khi biến thân xác của chính mình thành những quả bom người. Ngày hành động 9-11 được quyết định vào những ngày cuối tháng 8-2001 qua email, 19 tên khủng bố được mua vé máy bay trước, từ hạng nhất đến bình thường, để chúng có thể ngồi khắp máy bay tiện bề hành động.
           
            10:05am, tòa nhà phía Nam sụp đổ hoàn toàn, khói lửa bao kín bầu trời New York. 10:10 am, một trong năm cánh của Ngũ Giác Đài sụp đổ, đồng thời một chuyến bay mang số UA93 của hảng United Airline, cũng bị bọn khủng bố cướp, đã nổ ở trên bầu trời gần khu rừng kế Pittsburgh (Pennsylvania) trước khi đâm vào Tòa Bạch Ốc hay Viện Capital (tòa nhà Quốc Hội). Do trên FAA ra lệnh cho tất cả các chuyến bay xuyên Đại Tây Dương tới Hoa Kỳ, đều phải hạ cánh trên đất Canada, cùng lúc ban lệnh di tản 4700 nhân viên đang phục vụ tại trụ sở Liên Hiệp Quốc.

            10:28am, tòa nhà phía Bắc tại WTC đổ từ trên cao xuống dưới đất, biến thành đống gạch vụn. 10:48am, FBI xác nhận một Boeing của hảng United Airline, từ New Jersey dến San Francisco chở 38 hành khách và 7 phi hành đoàn, đã rớt tại một khu rừng gần Shankville (Pennsylvania), khi muốn đổi hướng tới Maryland, để đâm vào Camp David là nơi nghĩ mát của các tổng thống Mỹ.

            11:18am, American Airline chính thức xác nhận “ Hai chuyến bay bị Không Tặc, chiếc một mang số AA 11 tù Boston đi Los Angeles đâm vào Tòa Nhà Bắc WTC. Chiếc thứ hai mang số AA 77 từ Hoa Thịnh Đón đi Los, đâm vào Ngũ Giác Đài “. Không một người nào sống sót trên hai chuyến bay, gồm 139 hành khách và 17 phi hành đoàn. Hảng United Airline cũng xác nhận bị Không Tặc cướp hai Boeing “ chiếc một mang số UA 175 đâm vào Tòa Nhà Nam WTC từ Boston đi Los. Chiếc hai mang số UA93 từ Newark đến San Francisco, rớt tại Pennsylvania “. Người trên hai chuyến bay đều thiệt mạng, gồm 94 hành khách và 14 phi hành đoàn. Mười chín (19) tên khủng bố khát máu gốc Trung Đông, trên các máy bay bị cướp, đều tan xác.

            1:04pm, trên đài truyền hình trong Căn Cứ Không Quân Barksdale (Louisiana), Tổng Thống G.W.Bush “ tuyên bố nước Mỹ sẽ săn lùng và trừng phạt đích đáng, những tên có liên quan tới vụ khủng bố, tận hang ổ “. Chính phủ Liên Bang sẽ hổ trợ các địa phương, cứu trợ các nạn nhân trong cuộc tấn công của bọn khủng bố. Ngày thứ hai 12-9, sau khi kiểm nghiệm lại tât cả những cuộc điện đàm nhờ hệ thống nghe lén (Echelon), cơ quan FBI xác quyết “ thủ phạm cầm đầu cuộc tấn công lén vào đát Mỹ, chính là Osama Bin Laden “ .

             Tổng kết thiệt hại nhân mạng trong vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 hơn 7000 người. Theo công bố của Tòa Thị Chính New York vào ngày 16-9 với số thiệt hại như sau : 4972 người mất tích tại Trung Tâm Thương Mại (WTC), trong số này có 300 lính cứu hỏa và 70 cảnh sát, 184 ngưòi chết được xác nhận lý lịch, 266 hành khách và phi hành đoàn tử vong, trên các chuyến bay bị không tặc. Sáu tòa cao ốc quanh khu vực Trung Tâm Thương Mại, trong số này có Tòa Tháp Đôi (WTC) bị sụp đổ hoàn toàn thành đống gạch vụn. Riêng Ngũ Giác Đài, cơ quan đầu nảo của Bộ Quốc Phòng và Quân Lực Hoa Kỳ, nhờ được sữa chữa thêm kiên cố, sau vụ đánh bom tòa nhà Liên Bang tại Oklahoma city năm 1993 nên chỉ sụp một cánh phía tây, tiết kiệm được một số nhân mạng. Đặc biệt là hầm chứa số vàng thoi của Cơ Quan Buôn Bán Kim Loại (COMEX), gần 12 tấn trị giá hiện kim thời đó là 106 triệu Mỹ kim, bị chôn vùi trong đống gạch vụn tại WTC.

            Đây là một thảm họa lớn nhất của nước Mỹ, chỉ thua có trận Trân Châu Cảng năm 1941. Theo các chuyên gia hàng đầu của nước Mỹ, thì hành động khủng khiếp trên chỉ có những tổ chức thật giàu có và hoạt động chìm lâu ngay tại Hoa Kỳ, mới đủ khả năng thực hiện, vì ngoài việc cướp 4 phi cơ thương mại làm bom, chúng còn gài xe bom phát nổ gần trụ sở quốc hội và bộ ngoại giao Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn.

            Với hậu thuẩn của hơn 94% dân chúng trong nước + khối NATO và nhiều quốc gia khác ủng hộ, Hoa Kỳ cương quyết dùng quân sự để trả đủa bọn khủng bố và các nước đang chấp chứa chúng.Thổ Nhĩ Kỳ là một thành viên của NATO nên sẳn sàng cho Mỹ xử dụng các phi trường để phi cơ chiến đấu các loại của Hoa Kỳ tấn công vào sào huyệt của bọn khủng bố đang ấn núp trên lãnh thổ Afghanistan, còn Pakistan thì cho mượn không phận. Ngày 15-9, lần đầu tiên Tổng Thống Bush lên tiếng xác quyết “ Bin Laden và tổ chức Al-Qaeda là kẻ chủ mưu các cuộc tấn công vào nước Mỹ “. Ông ban lệnh trưng dụng 50.000 quân gồm 17.000 phi công, 7500 thủy quân lục chiến, 13.000 bộ binh và 15000 mọi quân binh chủng. Quốc hội chấp thuận ngân khoản 40 tỷ USD, dành cho việc cựu trợ nạn nhân bị khủng bố, phục hồi và quốc phòng.

            Bộ Tư Pháp đã tìm đủ danh sách 19 tên khủng bố tham dự cuộc tấn công (đã chết) và thêm 50 tên tòng phạm, trong số này có 25 tên gốc Trung Đông đã bị cơ quan INS bắt giữ. Riêng FBI đã tung hết lực lượng chìm nổi hơn 7000 nhân viên, để truy lùng bọn khủng bố khắp mọi nơi, từ trong nước đến hải ngoại.. Quả thật nước Mỹ đã thay đổi một lần nữa như đã thay đổi vào năm 1941, sau khi bị người Nhật tấn công lén tại Trân Châu Cảng (Honolulu).

            Hiện nhân loại chỉ mới bước vào ngưỡng cửa của năm Tân Tỵ (2013) nhưng đã có không biết bao nhiêu là biến cố kinh hoàng xãy ra hầu như khắp thế giới. Le lói nhất vẫn là Trung Cộng, từng ngày từng giờ trình diễn tàu chiến, hỏa tiển, bom nguyên tử ..để khủng bố và hù dọa VC, hòng nuốt trọn tất cả đảo lớn nhỏ và biển Đông. Cũng may màn kịch lố lăng trên sớm bị kéo màn vì thái độ kiên quyết xã láng của Nhật, Phi Luật Tân, Ấn Độ và Hoa Kỳ, làm cho hý trường Châu Á-Thái Bình Dương phải vãn hát sớm, vì khán giả gần như bỏ đi hết, chỉ còn VC ngồi lại. Và màn đấu võ mồm lại tiếp diễn, lái súng Mỹ, Nga, Do Thái..tha hồ hốt bạc. Tội nghiệp nhất chỉ có Ngư Dân VN bị đem con bỏ chợ, ngày ngày lãnh đạn thù của hải tặc Tàu đỏ..trước những trận cười hã hê khoái khẩu của CSVN lẫn kẻ thù..

            Những năm Tỵ từ trước tới nay luôn mang tai ương đến cho nhân loại. Không biết năm nay (Tân Tỵ 2013) , thiên đàng xã nghĩa VN có bị sụp đổ theo thời cuộc hổn loạn khắp thế giới, mà tụ điểm bất lợi ai cũng nhìn thấy rõ, đang hướng về Trung Cộng “ chỗ dựa vàng ròng “ của tập đoàn chóp bu Hà Nội !

Kỷ Tỵ (129) : Đế quốc La Mã đàn áp người Do Thái và Palectine. Cuối cùng người Do Thái bị đuổi khỏi thánh địa Jerusalem.
TÂN TỴ (381) : Đại hội Thiên Chúa Giáo lần thứ hai tại Constantinople, chính thức hoá niềm tin tôn giáo và đặt chủ nghĩa vô thần ra vòng pháp luật.
Kỷ Tỵ (429) : -Bộ tộc Vandal thuộc chũng tộc German từ Châu Âu, thiên di sang lục địa đen và lập một quốc gia tại Bắc Phi, có thủ đô Carthage vào năm 439.
Quý Tỵ (453) : Attila vua Hung Nô, một bộ tộc hùng mạnh ở phía tây nước Tàu đã chinh phục các nước từ Á sang Âu. Năm 453 Hung Nô đóng đô tại một tỉnh nằm trên sông Danube, miền Trung Hung Gia Lợi ngày nay. Đế quốc Hung tàn lụn sau khi bị liên quân người Visigoth, Franc và Giáo Hoàng Leo I.
Quý Tỵ (633) : Người Ả Rập bắt đầu cuộc viễn chinh mở rộng đế quốc Hồi Giáo. Các quốc gia Syria (636), Palestine (638), Ai Cập (642) và Ba Tư (651).lần lượt bị chinh phục, làm cho đế quốc lúc đó thêm to lớn và hùng mạnh.
Ất Tỵ (1245) : Đế quốc Mông Cổ tàn phá vùng Lưỡng Hà (Mésopotamie) và Armenia.
Quý Tỵ (1353) : Vương quốc Lang Xang hay còn gọi là xứ triệu voi, được thành lập tại Lào trên bán đảo Đông Dương.
Đinh Tỵ (1497) : Nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Vasco de Gama, dùng thuyền buồm đi vòng Châu Phi vượt qua Ấn Độ Dương đến bán đảo Ấn Độ tai Nam Á.
Tân Tỵ (1521) : Liên tiếp ba năm, Magellan đã thực hiện cuộc thám hiểm vòng quanh thế giới từ Đại Tây Dương tới Thái Bình Dương và dừng tại Phi Luật Tân rồi qua đời tại đó.
Đinh Tỵ (1557) : Người Bồ Đào Nha bắt đầu buôn bán với Trung Hoa khi tới Ma Cau.
Kỷ Tỵ (1689) :
-Ngày 18/1 sinh nhật của Charles Montesquieu, nhà văn, nà xã hội kiêm sử học Pháp. Ông cũng là người đặt nền móng về thuyết “ tam lập phân quyền “ trong tác phẩm Tinh Thần Lauật Pháp.
-Anh theo chế độ Quân Chủ Lập Hiến sau khi thông qua một đạo luật. Theo đó nhà vua chỉ có tính cách tượng trưng về nghi lễ, còn quyền hành do Thủ tướng và Quốc hội quyết định.
Quý Tỵ (1773) : Ngày 16/12 người Mỹ tại Boston quăng 343 thùng trà trên các tàu buôn từ Luân Đôn tới, để phản đối chính sách độc quyền và độc tài của thực dân Anh tại đây. Biến cố trên báo hiệu những chuyển biến chính trị sắp tới tại Bắc Mỹ.
Đinh Tỵ (1797) : Napoleon Bonaparte đánh bại liên quân Áo-Piemont (Bắc Ý) tại chiến trường Ý Đại Lợi.
Kỷ Tỵ (1809) : Ngày 12/2 sinh nhật của nhà Sinh học Anh Charle s Darwin (1809-1882), nguời đã đề xướng “ thuyết tiến hóa “ của vạn vật.
Quý Tỵ (1833) : Ngày 21/10 sinh nhật của nhà Hóa học người Thụy Điển Alfred Nobel. Ông là người đã phát minh ra chất nổ và cũng là người đã đặt ra các giải Nobel hàng năm bằng chính tài sản của mình sau khi qua đời (1893) cho tới ngày nay vẫn tiếp tục.
Đinh Tỵ (1857) : Ngày 11/5 nhiều quân nhân Ấn Độ nổi dậy chống thực dân Anh tại thủ đô Tân Đề Li và nhiều thành phố lớn khác trong nước, mở đầu cho phong trào cách mạng chống người Anh tại đây để, giành độc lập cho gđất nước mình. Biến cố trên thường được gọi là Xipay kéo dài tới năm 1859 mới tạm yên.
Kỷ Tỵ (1869) :
-Nhà Hóa học người Nga D.I.Mendeleey (1834-1907), phát minh Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học.
-Nhà Vật lý người Bỉ Zenobe Gramme (1820-1901) phát minh ra máy phát điện một chiều (dynamo) và động cơ điện (năm 1871).
-Ngày 7/8 thành lập đảng Công nhân Xã hội Dân chủ Đức, dưới sự lãnh đạo của A.Bebel và Wihelm Lisbneck.
-Ngày 17/11 khai thông Kênh đào Suez dài 161 km,  trên lãnh thổ Ai Cập, nối liền Hồng Hải và Địa Trung Hải.
Tân Tỵ (1891) : Ngày 25/10 sinh nhật Pablo Picasso (1881-1973). Ông là một họa sĩ đồng thời cũng là một điêu khắc gia nổi tiếng qua nhiều thập niên tới ngày nay, với những tác phẩm nghệ thuật có ảnh lớn đối với nền hội họa thế giới.
Quý Tỵ (1893) :
-Patric Laval giáo sư tại trường Đại Học Stockholm (Thụy Điển), người đầu tiên phát minh ra động cơ chuyễn vận bằng hơi nuớc với vận tốc 5 mã lực. Năm 1900 gia tốc thêm động cơ lên tới 30 mã lực tương đương 280 kilowatt.
-Ngày 3/10 Xiêm La thua trận phải ký với thực dân Pháp hiệp ước. Theo đó Xiêm hoàn trả phần lãnh thổ phía tây và các đảo trên sông Mê Kông cho Lào. Cũng từ đó Pháp chính thức thống trị toàn toàn thể bán đảo Đông Dương.
Ất Tỵ (1905) :
-Nhà Vật lý học người Đức gốc Do Thái Albert Einstein cho ra đời học thuyết Tương Đối. Năm 1931 Ông nhận lãnh giải Nobel vật lý.
-Ngày 9/1 công nhân Nga biểu tình trước cung điện đông của hoàng gia tại thành phố Peterbourg. Nga Hòang ra lệnh đàn áp đẫm máu, mở đầu cho thời kỳ trỗi dậy của phong trào cộng sản tại đây.
-Tháng 9, Tôn Trung Sơn (Dật Tiên) thành lập Trung Hoa Quốc Dân Đảng, dựa theo học thuyết Tam dân (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) và nhắm vào 4 mục tiêu : lật đổ Mãn Thanh, khôi phục Mãn Thanh, thành lập dân quốc và bình quân địa quyền.
-Ngày 14/6 binh biến trên chiến hạm Nga Potemkime, kéo dài tới ngày 25/6.
-Hạm đội Nga bị Nhật đánh bại tại eo biển Đối Mã. Nga phải ký hòa ước Porstmouth với Nhật. Theo đó, Nga nhường cho Nhật bán đảo Liêu Đông, hải cảng Lữ Thuận, đường sắt nam Mãn Châu, Triều Tiên và bồi thường chiến phí cho Nhật.
-Ngày 16/10 dân chúng Ân Độ tham gia phong trào đấu tranh đòi độc lập, chống thực dân Anh mưu toan cắt vùng Bengal ra khỏi lãnh thổ Ấn, qua hai khẩu hiệu Svadesh (đất đai) và Svaral (quyền tự trị) .
Đinh Tỵ (1917) :
-Ngày 1/2 Hoàng đế Đức Willhelm II ra lệnh cho tàu ngầm tấn công các thương thuyền và chiến hạm Tây phương trên Đại Tây Dương.
-Ngày 12/3 cộng nhân Nga lật đổ chế độ Nga Hoàng Nicolas II, thành lập chính phủ lâm thời  với thủ tướng đầu tiên là Lvov (3-1917).
-Ngày 6/4 Hoa Kỳ tham chiến bên cạnh Đồng Minh chống trục Đức-Áo-Hung tại Âu Châu trong Đại chiến thứ nhất (1914-1918).
-Ngày 24/4 Lenin đưa ra bản luận cương của đảng cộng sản Bonsovick.
-Tháng 7 Xiêm tuyên bố đứng về phe Đồng Minh (Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga) chống phe Trục (Đức, Áo, Hung,
-Ngày 26, đại hội lần thứ VI của đảng cộng sản Nga thông qua nghị quyết tổng khởi nghĩa chiếm chính quyền.
-Ngày 7/11, bùng nổ cách mạng tháng 10 ở Petrograd (Nga), mở đầu chủ nghĩa xã hội và thành lập nhà nước cộng sản Sô Viết Bolchevich do Lenin lãnh đạo.
Kỷ Tỵ (1929) :
-Ngày 29/1, ngày mở đầu “ cuộc khủng hoảng kình tế thế giới (1929-1933) “.Tại Hoa Kỳ, thị trường chứng khoáng sụt giá tới 80%, hàng triệu người gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng mất sạch. Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chánh lan rộng khắp thế giới, làm mất hơn 40 tỷđô la chỉ trong năm 1929.
-Ths1ng 12, Jawahartal Nehru lãnh đạo đảng Quốc Đại Ấn, tranh đấu đòi độc lập cho nước mình đang bị thực dân Anh thống trị.
-Fleming tìm ra chất kháng sinh Penicelline.
Tân Tỵ (1941) :
-Từ tháng 12/1940-6/1941, Đức tấn công và thôn tính các nước trên bán đảo Balkan gồm Hung Gia Lợi, Albanie, Nam Tư và Hy Lạp.
-Ngày 13/4, Liên Xô và Nhật ký hiệp ước bất tương xâm.
-Ngày 22/6, quân Đức tấn công sâu vào lãnh thổ Liên Xô, theo Hitler dự trù sẽ kết thúc 6-8 tuần.
-Ngày 29/7 Pháp và Nhật ký hiệp ước phòng thủ chung tại Đông Dương.
-Ngày 7/8 thi hào Ấn Độ Rabindranat Tagore (1816-1941) từ trần, để lại nhiều tác phẩm giá trị. Ông được giải Nobel văn chương năm 1913.
-Ngày 14/8, Tổng thống Mỹ F.Roosevelt và Thủ tướng Anh W.Churchill họp tại Terre Neuve để ký vào bản “ Hiến Chương Đại Tây Dương “. Theo đó thi “ không có sự thay đổi về lãnh thổ mà không có sự đồng tình của người dân ở đó. Xác nhận quyền tự lựa chọn chính thể, hợp tác quốc tế. Sau cùng là quyền được hưởng các nguồn lợi kinh tế và đi lại trên biển của mọi dân tộc “.
-Tháng 12, quân Đức bị chận đứng tại thủ đô Mạc Tư Khoa (Liên Xô), cũng là thời gian quân Đồng Minh bắt đấu các cuộc phản công vào phe Trục (Đức, Ý, Nhật) khắp các mặt trận.
-Ngày 7/12, Không quân Nhật bất thần tấn công Hạm đội Mỹ tại Trân Châu Cảng (Pearl Habor-Hawaii) , đồng thời mỡ cac cuộc không kích dữ dội vào các căn cứ qủa quân đội Hoa Kỳ tại Guam, Midway và Phillippine, bắt đầu thế chiến II tại Châu Á-Thái Bình Dương.
-Ngày 21/12, Thái Lan ký hiệp ước liên minh với Nhật, cho phép nước này đóng quân trên lãnh thổ cho tới khi kết thúc thế chiến.
Quý Tỵ (1953) :
-Ngày 5/3, J.Staline tổng bí thư cộng đảng Liên Xô chết (1879-1953).
-Ngày 18/6, thành lập nước Cộng Hòa Ai Cập do G.Nasser làm tổng thống.
-Ngày 26/7 Fidel Castro cầm đầu nhóm cộng sản đệ tam địa phương, tấn công pháo đài Moncada của chính quyền Bastista tại đảo quốc Cu Ba.
-Ngày 27/7, Hoa Kỳ và Trung Cộng ký hiệp ước ngưng bắn tại Bàn Môn Điếm. Theo đó, vỹ tuyến 38 sẽ chia đôi Triều Tiên thành hai nước : Bắc Cao theo cộng sản đệ tam quốc tế đóng đô tại Bình Những. Đại Hàn Dân Quốc đóng đô tại Hán Thành.
-Tháng 9, N.K.Khroushov lên thế Staline làm tổng bí thư cộng sản Liên Xô.
Ất Tỵ (1965) :
-Ngày 7/2, Hoa Kỳ ném bom Bắc Việt
-Ngày 21/2, lãnh tụ Hồi giáo người da đen tại Mỹ Malcolmx bị sát hại.
-Ngày 18/3, nhà vũ trụ người Liên Xô A.Leonov cùng với P.I.Belaiev, bước ra khỏi tàu vũ trụ Rạng Đông 2.
-Ngày 8/4, các tổ chức của cộng đồng các nước Âu Châu ký các hiệp ước về than đá và thiếc (LCSC lập năm 1957), nguyên tử lực (EURATOM 1957), kinh tế (EEC 1957). Cuối cùng các tổ chức trên đã liên kết thành Cộng đồng chung Âu Châu (EU) từ 1/1/1994.
-Ngày 28/4, 42.000 quân Mỹ đổ bộ vào Cộng Hòa Dominca để giúp nước này ngăn chận phiến quân cộng sản. Cuộc chiến kết thúc vào tháng 6/1966 toàn bộ quân Mỹ rút về nước.
-Ngày 16/5 Mao Trạch Đông phát động “ cuộc đại nhảy vọt “ trong vòng 10 năm từ 1965-1976, tại đại hội đảng khóa 9 của cộng đảng Tàu. Thực chất đây là cuộc tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm, địa phương và trung ương, qua danh từ hào nhoáng “ đại cách mạng văn hóa vô sản “ do nhóm tứ nhân bang chủ xướng, đã khiến cho hàng chục triệu người dân vô tội chết oan.
-Ngày 7/8, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua quyết định Vịnh Bắc Việt, thông qua việc đổ quân vào Nam VN giúp VNCH chống lại cuộc xâm lăng của Bắc Việt.
-Ngày 9/8, đảo quốc Singapore tuyên bố tách ra khỏi Liên bang Mã Lai Á để thành lập nước Cộng hòa Singapore do Jusib Bin Libac làm tổng thống và Lý Quang Diệu làm thủ tướng
-Ngày 30/9, đảo chính tại Indonesia do Untung và một tiểu đoàn phòng vệ tổng thống phủ. Cuộc đảo chính bất thành vì sự chống lại của giới chỉ huy quân sự và tướng Suharto. Hậu quả làm quyền hạn của tổng thống Sukarno bị thu hẹp phần nào. Ngày 13/3/1966 tổng thống Sukarto ký sắc lệnh trao quyền hành cho tướng Suharto.
-Ngày 28/11, Pháp phóng vệ tinh đầu tiên nặng 38kg, mang tên A-1 lên quỹ đạo.
Đinh Tỵ (1977) :
-Jimmy Carter nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ.
-Tháng 6, giải tán tổ chức Liên phòng Đông Nam Á (SEATO).
-Tháng 7, hai đảng cộng sản Lào và VC ký hiệp ước liên minh quân sự và hợp tác.
-Tháng 12, thành lập tổ chức APC (Arab Poeple Congress) đặt trụ sở tại thành phố Tripolie (Lybie).
-Hoa Kỳ và Panama ký thỏa ước , theo đó Mỹ sẽ trả kênh đào Panama cho chính phủ sở tại vào năm 1999.
Kỷ Tỵ (1989) :
-Tháng 1, G.Bush nhậm chức tỏng thống Hiệp Chũng Quốc.
-Ngày 7/1, Nhật hoàng Hiro Hito qua đời, kết thúc triều đại SHOWA (Chiêu Hòa) kéo dài 63 năm trong lịch sử nước Nhât cận đại. Ngày 9/1, Hoàng thái tử Nhật Bản Akihito 58 tuổi lên nối ngôi Nhật hoàng, mở đầu triều đại HEISEI (Bình Thành).
-Tháng 2, cuộc gặp gỡ không chính thức tại thủ đô Jakarta (Inndonesia), giữa 4 phe đang tham chiến tại Kampuchia (Sihanouk, Hun Sen, Sonsann và Khieu Samphon).
-Ngày 15/2, quân đội Liên Xô rút khỏi A Phú Hản.
-Ngày 25/4, thủ tướng Nhật Bổn N.Takeshita buộc phải từ chức vì bị tố cáo nhận hối lộ của công ty Recruit Co.
-Từ 17/4 – 4/6, sinh viên học sinh và dân chúng Trung Hoa, biểu tình đòi tự do và quyền sống  quyền làm người tại Quảng trường Thiên An Môn (Bắc Kinh). Đỉnh cao nhất trong cac cuộc biểu tình có lúc lên tới 1 triệu người. Đêm 3 rạng ngày 4/6 Đặng Tiểu Bình và thủ tướng Lý Bằng ra lệnh cho xe tăng, trọng pháo và bộ đội đàn áp cuộc biểu tình, gây thương vong cho hàng ngàn người. Tiếp theo một chiến dịch ruồng bắt những người biểu tình còn sống sót, gây kinh hoàng và phẩn nộ, chẳng những khắp nước Tàu mà còn khắp thế giới, đến nay bia miệng vẫn còn đàm tiếu, chê cười.
-Ngày 7/10, kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Cộng sản Đông Đức. Hai ngày sau bùng phát nhiều cuộc biểu tình tại Leipzip, Dresden..với mục đích “ Chúng ta là một dân tộc “, mở đầu cuộc thống nhất nước Đức theo chính thể tự do, dân chủ.
-Ngày 18/10, Hungari từ bỏ thiên đàng xã nghĩa, đổi tên nước là Cộng hòa Hungari. Năm 1990 Hung chọn ngày 18/10 làm ngày quốc khánh.
-Ngày 7/11, hội đồng bộ trưởng cộng sản Đông Đức từ chức.
-Ngày 10/11, cách chức tổng bí thư đảng cộng sản Bulgary là T.Jicov và bầu P.Mladenop lên thế chức trên.
-Ngày 3/12, toàn thể ban hấp hành trung ương đảng cộng sản Đông Đức từ chức.
-Ngày 16/12, biểu tình lớn tại thị trấn Timosoora, mở đầu cuộc khủng hoảng chính trị tại Roumani.
-Ngày 22/12, cánh cổng Brandenburg, phân chia hai vùng đông và tây Bá Linh, được mở rộng cho mọi người thông thương.
-Nhiều cuộc bạo động xãy ra tại Roumani, thủ tướng và nội các từ chức. Mặt trận cứu nguy tổ quốc được thành lập đòi giải thể chế độ cộng sản.
-Ngày 29/12, quốc hội Ba Lan thông qua việc sửa đổi hiến pháp, đổi tên nước là Cộng Hòa Ba Lan, khai trừ chủ nghĩa xã hội và từ bỏ đảng cộng sản.
-Ngày 29/12, Vasiley Haven được bầu làm tổng thống Cộng hòa Tiệp Khắc.
Tân Tỵ (2001) :
-Ngày 20/2, phát hiện đầu tiên tại Anh, chứng bệnh lỡ mồm long móng nơi lòai Heo. Sau đó bệnh lan tràn khắp Châu Âu, làm nhiều nước bị thiệt hại nặng về kinh tế.
-Trong cuộc bầu cử thủ tướng ngày 6/1, lãnh đạo đảng Likud là Sharon đã thắng đương kim thủ tướng Barack (Công đoàn).. Thủ tướng Sharon và nội các mới Do Thái chủ trương ám sát những nhân vật Palestine, khiến cho xung đột tại Trung Đông thêm leo thang. Thủ lãnh của nhóm Hamas bị trực thăng Do Thái bắn chết, mở đầu cho các vụ bom người của Palestin, làm cả hai phía thêm nhiều thương vong.
-Ngày 23/3, trạm không gian Nga đóng cửa và được phá hũy cho rơi xuống Thái Bình Dương. Nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ, Nga..thực hiện một trạm không gian mới để thay thế.
-Ngày ¼, cựu tổng thống Nam Tư là Milosevich, bị áp giải tới tòa án Quốc tế La Haye (hòa Lan chờ xét xử qua tội danh “ tội phạm chiến tranh “
-Sáng ngày 11/9, hai trong số bốn chiếc máy bay của hàng không Mỹ, bị bọn không tặc cướp đâm vào tòa tháp đôi tại Trung tâm Thương mại Quốc tế New York. Tòa tháp đôi bị sụp đổ hoàn toàn, số nạn nhân thiệt mạng được công bố chính thức trên 3000 người.
-Một chiếc máy bay thứ ba đâm vào Ngũ Giác Đài. Chiếc cuối cùng bị rớt và bốc cháy tại một khu rừng thuộc tiểu bang Pennsylvania.
-Biến cố trên làm Hoa Kỳ thay đổi xu hướng chống khủng bố quốc tế, từ đơn phương sang liên minh. Hoa Kỳ cũng cáo buộc Bin Laden và tổ chức Hồi giáo cực đoan Al-Qaeda là thủ phạm đã gây nên những bi thương chết người trên đất Mỹ.
-Ngày 7/10, liên quân Mỹ-Anh mở cuộc không kích vào lãnh thổ Afghanistan đang do Taliban thống trị và cho phép Bin Laden ẩn trốn.
-Ngày 13/11, thủ đô Kabul thất thủ. Hai tháng sau, cứ điểm cuối cùng của Taliban là Kandahar đầu hàng liên quân Mỹ-Anh, chế độ Taliban cáo chung, người dân và đấy nước Afghanistan được giải phóng hoàn toàn và trở thành một nước Cộng Hòa tới ngày nay.
-Ngày 11/12, Trung Cộng chính thức được thu nhận vào tổ chức Thương Mại Quốc Tế WTO, sau 15 năm tiến hành các thủ tục đàm phán với các nước liên hệ. Ngày 27/12, Mỹ cho Trung Công quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn, có hiệu lực từ 1/1/2002.Đây là phương tiện đã giúp Tàu đỏ một sớm một chiều đột nhập vào nền kinh tế toàn cầu, dùng đô la và quyền lực mua chuộc, lấn ép các nước kể cả Hoa Kỳ. Tệ nhất là sản xuất hàng loạt những sản phẩm chứa toàn chất độc hại, làm nhân loại điêu đứng mỗi khi chạm mặt với bất cứ thứ gì có ghi “ made in China, made in Repuclic of China ..”.

            Tóm lại 2001 là năm mang đầy chuyện buồn phiền đến cho nước Mỹ, chẳng những ngoài phố mà còn dính líu tới hậu cung (Tòa Bạch Ốc). Đầu tiên là cuộc tranh cãi về phiếu bầu tổng thống, giữa hai ông G.Bush và Al Gore. Cuối cùng sau nhiều lần kiểm phiếu lại tại tiểu bang Florida, qua phán quyết của Tối Cao Pháp Viện “ G.W.Bush đắc cử Tổng Thống “. Tuy vậy chuyện vẫn chưa yên vì ông mục sư da đen Jeese Jackson hô hào xuống đường cho tới khi ông này bị báo chí Mỹ đưa ra hũ mắm Jackson “ lấy tiền của dân “ nuôi bồ nhí ..

            Ngày 20/1 G.W.Bush chính thức bước vào Tòa Bạch Ốc với cương vị Tổng Thống Hoa Kỳ. Thời gian này, ông bà cựu TT Bill Clinton mua được một biệt thự nguy nga tại New York nhưng chưa sắm đồ đạc. Sẳn dịp Bạch Cung chưa có chủ mới, ông bà Clinton liền dọn hết những món đồ quý giá thuộc tài sản quốc gia, đem về nhà mới tại New York. Nội vụ đổ bể và được báo chí lúc đó gọi là “ Sofagate “. Sợ Tổng Nha Kế Toán mở cuộc điều tra, nên ông bà Clinton phải trả cho công quỹ 86.000 USD. Tuy nhiên số tiền này không đáng là bao nếu đem so với những bức tranh treo tường trị giá bạc triệu.

            Vẫn chuyện dài ông bà Clinton, ngày ra đi TT W.Bush có cho mượn chiếc Air Force One nhưng khi máy bay từ New York về lại Hoa Thịnh Đốn, thì toàn bộ những vật dụng trang bị trên máy bay coi như không cánh mà bay. Cũng từ những vụ bê bối trên, kể luôn vụ Monicagate, người ta mới khám phá thêm “ hai giờ trước khi rời phòng Bầu Dục “, ông Clinton đã ký lệnh ân xá cho 176 phạm nhân trọng tội, trong đó có em ruột mình là Roger Clinton và một số thân tín như Susan McDougal ở tù vì buôn lậu ma tuý. Nhưng quan trọng hơn hết là Clinton đã không thèm cho Bộ Tư Pháp biết, khi tự ý ân xá tỉ phú Marc Rich lúc đó đang đào tẫu tại Châu Âu vì tội buôn lậu vũ khí, ma túy, rữa tiền và trốn thuế..Nhưng tất cả rồi cũng trôi theo thời gian vào quên lãng..vì báo ch1 lúc đó đang nhắm vào mục tiêu chính là tổng thống mới đắc cử G.W.Bush mà thôi.

            Sau biến cố  11/9, Tổng thống G.W.Bush từ tỉ lệ ủng hộ lúc đầu là 57% đã lên đến 87%,  khi quạn đội Hoa Kỳ và Đồng Minh chiếm thủ đô Kabul, lật đổ và đánh đuổi phe Taliban, Al-Qaeda và trùm khủng bố Osama Bin Laden ra khỏi Afghanistan, giải phóng nước này sau hơn một thập niên bị Taliban đô hộ. Tiếp theo là chiến dịch giải phóng Iraq và Somalia. Tất cả đều thành công tốt đẹp nhưng tiếc thay người Mỹ và thế giới tự do đã làm công chuyện vô ích, khi đã tốn không biết bao nhiêu xương máu và tiền bạc để giải phóng các dân tộc trên. Đến lúc thành công, thì Trung Công lại là nước đầu tiên nhảy vào ký các hợp đồng khai thác dầu mõ, khoáng sản béo bỡ..mà không hề đóng góp một hào xu nào vào Quỹ LHQ để giúp cho các nước trên.

            Quả thật năm Tỵ nào trên thế giới cũng lắm chuyện buồn !

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Cuối Giêng 2013
MƯỜNG GIANG

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Nhật Trường - Trần Thiện Thanh

  Tiểu sử

Trần Thiện Thanh sinh năm 1942 tại Phan Thiết. Ông đến Sài Gòn năm 1958 và chẳng bao lâu giọng hát trau chuốt của ông được giới yêu nhạc Sài Gòn yêu mến.
Trần Thiện Thanh nguyên là giáo viên trung học, tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan năm 1965, phục vụ tại Cục Tâm lý chiến Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1965 cho đến cuối tháng tư năm 1975. Ông làm việc tại Ðài Phát thanh và sau đó Truyền hình Quân Ðội, từng là Trưởng ban văn nghệ của Đài và sau năm 1968 ông còn phụ trách thêm chương trình phóng sự chiến trường.
Ngoài ra, ông còn điều hành trung tâm phát hành nhạc và thu băng tên là “Tiếng Hát Đôi Mươi”. Đầu thập niên 1960, Nhật Trường lập ban Tứ Ca Nhật Trường gồm 3 nữ ca sĩ: Như Thủy (em gái của ông), Vân Quỳnh và Diễm Chi ("nữ hoàng" của phong trào du ca chuyên hát nhạc Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu, Miên Đức Thắng, Bùi Công Thuấn) hát phụ họa cùng với ông.
Trong những năm cuối thập niên 1960, Hùng Cường, Chế Linh và Nhật Trường thường mặc quân phục lên sân khấu để hát nhạc lính. Ông hoạt động rất nhiều với các đài phát thanh và đài Truyền hình Việt Nam thời đó. Trong các phim kịch với đề tài người lính, Nhật Trường hay ca diễn với Thanh Lan.
Đầu thập niên 1970, ông thực hiện một số nhạc cảnh về Đại úy Nguyễn Văn Đương trong đó ông đóng vai người lính còn Thanh Lan đóng vai người vợ hậu phương Nguyễn Thị Lệ. Lúc đó, Nhật Trường và Thanh Lan thường hát chung với nhau. Đây là một tiết mục thu hút nhiều khán giả xem TV thời kì đó và loạt nhạc cảnh này cũng được thu thành phim với tên Trên đỉnh mùa đông.
Hai chủ đề lớn trong sáng tác của ông là tình yêu và tình lính. Ông sáng tác nhiều nhạc về lính, nhưng nhạc lính của ông thường không có thù hận, gay gắt hoặc kích động, thúc quân hoặc u uất, bi thảm mà nhạc của ông thường trong sáng vui tươi làm thi vị hóa và lãng mạn hóa đời lính gian khổ.
Sau 1975, ông nằm trong danh sách những nghệ sĩ bị Nhà nước CHXHCN Việt Nam cấm hoạt động. Tới năm 1984, Trần Thiện Thanh được phép hoạt động lại. Trần Thiện Thanh từ chối làm việc dưới chế độ mới mặc dù trong những năm ít xuất hiện trên sân khấu, ông vẫn soạn nhạc.
Năm 1993, ông di cư sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình, ODP. Sau một thời gian sống tại Mỹ thì ông kết duyên với nữ ca sĩ Mỹ Lan.
Trần Thiện Thanh qua đời vào ngày 13 tháng 5 năm 2005 tại nhà riêng ở thành phố Westminster, Quận Cam do bệnh ung thư phổi.



Anh Không Chết Đâu Anh 

 


Biển Mặn



Trần Thiện Thanh sáng tác khoảng 200 ca khúc, trước 1975 và cả sau này:

  • 16 trăng tròn [Chú thích 1]
  • Ai nói yêu em đêm nay
  • Anh nhớ về thăm em
  • Anh không chết đâu anh [Chú thích 2]
  • Anh về (viết chung với Tấn An)
  • Anh về với em
  • Bảy ngày đợi mong
  • Bà mẹ Trị Thiên
  • Biển mặn [Chú thích 3]
  • Bắc Đẩu [Chú thích 4]
  • Bay lên cao đi anh
  • Bảy thế kỷ tình yêu
  • Bóng nắng
  • Chị Ba Hàng Xanh [Chú thích 5]
  • Chuyện hẹn hò (Thanh Trân Trần Thị) [Chú thích 6]
  • Chuyện về anh
  • Cho anh xin số nhà
  • Chờ đông
  • Chuyện một người đi
  • Cô bạn học
  • Con đường buồn chung thân
  • Chân trời tím (Anh Chương - Nguyễn Văn Hạnh)
  • Chiếc áo bà ba
  • Chủ Nhật này trẫm nhớ ái khanh không? [Chú thích 7]
  • Chiều mưa anh về (viết chung với Thu An)
  • Chiều trên phá Tam Giang (thơ Tô Thùy Yên)
  • Chuyện tình Mộng Thường [Chú thích 8]
  • Chuyện tình TTKH
  • Dành cho em đó
  • Đầu năm đi lễ
  • Đám cưới đầu xuân
  • Đời còn nhiều gian dối
  • Đôi ngã đôi ta
  • Đồn vắng chiều xuân
  • Độc hành
  • Đôi tiếng tự do (viết chung với Châu Kỳ)
  • Đừng hỏi tại sao
  • Gặp nhau làm ngơ
  • Giấc ngủ trên đồi Xanh [Chú thích 9]
  • Giây phút tạ từ
  • Goá phụ ngây thơ (thơ Hà Huyền Chi)
  • Giây phút tái ngộ
  • Goá phụ ngây thơ (thơ Hà Huyền Chi)
  • Gọi tên anh
  • Giọt cà phê đầu tiên
  • Hạnh phút nhỏ nhoi
  • Hiện diện của em (thơ Hữu Phương)
  • Hoa chiều (Anh Chương)
  • Hoa trinh nữ
  • Hàn Mặc Tử
  • Hàn Mặc Tử 2
  • Hãy hứa yêu em
  • Hãy trả lời em đi anh (viết chung với Nhật Bằng)
  • Hoa nở về đêm
  • Hai sắc hoa Tigôn
  • Hãy trả lời em (Anh Chương)
  • Không bao giờ ngăn cách
  • Khi người yêu tôi khóc
  • Lâu đài tình ái (thơ Mai Trung Tĩnh)
  • Lời tình viết vội
  • Lời cho người yêu nhỏ
  • Màu mũ anh màu áo em (viết chung với Trần Thiện Thanh Toàn)
  • Một ngày gần đây
  • Một đời yêu anh
  • Mùa xuân lá khô
  • Một vì sao nhỏ
  • Mùa đông của anh
  • Một lần cuối
  • Một lần bay thấp
  • Một người nằm xuống
  • Ngại ngùng
  • Ngày anh đi
  • Ngày đầu một năm (Anh Chương)
  • Người bên lề cõi sống
  • Người chết trở về
  • Người hát một mình
  • Người ở lại Charlie [Chú thích 10]
  • Người xa người
  • Người yêu của lính (Anh Chương)
  • Người chết trở về
  • Nỗi lòng Thanh Trúc (thơ Kim Tuấn)
  • Ở giữa muộn phiền
  • Phép nhiệm màu
  • Phút giao mùa [Chú thích 11]
  • Rừng lá thấp [Chú thích 12]
  • Sao anh không nói
  • Sư Đoàn 1 Bộ binh hành khúc
  • Trái đắng (Nhật Trường)
  • Tình thư của lính (Anh Chương)
  • Tạ từ trong đêm
  • Tâm sự Mộng Cầm
  • Từ đó em buồn
  • Tình có như không
  • Tâm sự người lính trẻ (Anh Chương)
  • Trên đỉnh mùa đông
  • Trong lần tái ngộ
  • Trời chưa muốn sáng
  • Thạch Sanh
  • Tìm một vì sao nhỏ
  • Tình đau ngàn nỗi
  • Tình đầu tình cuối (viết chung với Trần Thiện Thanh Toàn)
  • Tình đẹp Hậu Giang
  • Tình hận người vượt biển
  • Tình yêu thứ nhất
  • Tình yêu, rừng già & chúng ta
  • Tuyết trắng (Anh Chương) [Chú thích 13]
  • Từ nửa vòng trái đất
  • Từ dạo xa em
  • Trại cấm
  • Vĩnh biệt em
  • Vết đạn thù trên tường vôi trắng
  • Xin em đừng hỏi
  • Yêu
  • Yêu người như thế đó


ASIA 61

Phạm Duy- Bà Mẹ Gio Linh - Thái Thanh / Tuấn Ngọc - Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui



Bà Mẹ Gio Linh Phạm Duy / Thái Thanh



Phạm Duy 
  http://www.saigonocean.com/nghenhacPhamDuy/PD.htm

Phạm Duy (5 tháng 10 năm 1921 - 27 tháng 1 năm 2013[1]) tên thật Phạm Duy Cẩn là một nhạc sĩ, ca sĩ, nhà nghiên cứu nhạc của Việt Nam. Với hơn 70 năm sự nghiệp, ông được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của nền Tân nhạc với số lượng sáng tác đồ sộ và đa dạng về thể loại. Nhạc của ông thường kết hợp những yếu tố của âm nhạc cổ truyền, dân ca Việt Nam, với các trào lưu phong cách hiện đại, trong đó có những ca khúc đã trở nên quen thuộc với người Việt. Ngoài sáng tác, Phạm Duy còn có nhiều công trình khảo cứu về âm nhạc Việt Nam có giá trị. Ông cũng từng giữ chức giáo sư nhạc ngữ tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Mặc dù vậy, các quan điểm nhìn nhận về Phạm Duy còn gây nhiều tranh cãi.

Khởi sự đời nhạc trong gánh hát Đức Huy với vai trò ca sĩ hát lưu động. Từng tham gia Kháng chiến chống Pháp một thời gian trước khi vào miền Nam để tiếp tục tự do hoạt động âm nhạc. Phạm Duy là một tên tuổi lớn và đầy ảnh hưởng tại miền Nam Việt Nam với những hoạt động tích cực giành cho cả âm nhạc lẫn chính trị, cho đến sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, khi ông vượt biên sang Hoa Kỳ.

Năm 2005, ông về Việt Nam định cư và từ đó, một số ca khúc của ông mới bắt đầu được cho phép phổ biến trở lại. Tính cho đến nay, có khoảng 100 ca khúc được cấp phép lưu hành, trong số khoảng một nghìn sáng tác của Phạm Duy.


Nhạc phẩm


Để xem đầy đủ danh sách các sáng tác của Phạm Duy, xem Nhạc Phạm Duy.

  • Áo anh sứt chỉ đường tà
  • Bà mẹ Gio Linh
  • Bà mẹ phù sa
  • Bên cầu biên giới
  • Bên ni bên nớ
  • Bao giờ biết tương tư
  • Cây đàn bỏ quên
  • Chiều về trên sông
  • Con đường cái quan
  • Chỉ chừng đó thôi
  • Còn chút gì để nhớ
  • Dạ lai hương
  • Đạo ca
  • Đường chiều lá rụng
  • Đưa em tìm động hoa vàng
  • Giọt mưa trên lá
  • Giải thoát cho em
  • Giết người trong mộng
  • Giờ thì em yêu
  • Giọt chuông cam lộ
  • Gọi em là đóa hoa sầu
  • Hạ hồng
  • Hẹn hò
  • Kỷ vật cho em
  • Kỷ niệm
  • Minh Họa Kiều
  • Mộ khúc
  • Mẹ Việt Nam
  • Ngày trở về
  • Nha Trang ngày về
  • Ngày xưa Hoàng Thị
  • Ngày đó chúng mình
  • Ngày em hai mươi tuổi
  • Ngày sẽ tới
  • Ngày tháng hạ
  • Ngày trở về
  • Ngày xưa
  • Nghìn năm vẫn chưa quên
  • Nghìn thu
  • Ngồi gần nhau
  • Ngọn trào quay súng
  • Ngụ ngôn mùa đông
  • Ngựa hồng
  • Người lính bên tê
  • Người lính trẻ
  • Người tình
  • Người tình già trên đầu non
  • Người về
  • Người việt cao quý
  • Ngậm ngùi
  • Nha Trang ngày về
  • Nhạc tuổi xanh
  • Phố buồn
  • Quê nghèo
  • Rong ca
  • Tâm ca
  • Thiền ca
  • Thông điệp mùa xuân
  • Thương ca chiến trường
  • Tình ca
  • Tình hoài hương
  • Tiếng thu
  • Tổ khúc Bầy chim bỏ xứ
  • Trường ca Con đường cái quan
  • Trường ca Hàn Mặc Tử
  • Trường ca Mẹ Việt Nam
  • Tục ca
  • Về miền Trung
  • Vần thơ sầu rụng
  • Quán bên đường
  • Quán Thế Âm
  • Răn
  • Rồi đây anh sẽ đưa em về nhà
  • Rong khúc
  • Ru con
  • Thu ca điệu ru đơn
  • Thu chiến trường
  • Thương ai nhớ ai
  • Thương tình ca
  • Thuyền viễn xứ
  • Tiễn em
  • Tiếng bước trên đường khuya
  • Tiếng hát to
  • Tiếng hát trên sông
  • Tiếng hát trên sông Lô
  • Tiếng hò miền Nam
  • Tiếng sáo Thiên Thai
  • Tiếng thời xưa
  • Viễn du
  • Xin em giữ dùm anh
  • Xin tình yêu Giáng sinh
  • Xuân
  • Xuân ca
  • Xuân hành
  • Xuân hiền
  • Xuân thì
  • Xuất quân
  • Yêu em vào cõi chết
  • Yêu là chết trong lòng





Tập nhạc đã in



  • Những điệu hát bình dân, Nhà xuất bản Đất Mới - Thanh Hoá, 1950.
  • Tình ca, tự xuất bản - Sài Gòn, 1969.
  • Một mẹ trăm con, Bộ Thông Tin - Sài Gòn, 1962.
  • Trường Ca Con đường cái quan, Tập san Sáng dội miền Nam - Sài Gòn, 1960 và Quảng Hoá - Sài Gòn, 1970.
  • Mười Bài Tâm Ca, Lá Bối - Sài Gòn, 1965.
  • Ngày đó chúng mình yêu nhau - An Tiêm - Sài Gòn, 1968.
  • Gìn vàng Giữ ngọc, Sài Gòn, 1971
  • Nghìn trùng xa cách, An Tiêm - Sài Gòn, 1968.
  • Hát vào đời, An Tiêm - Sài Gòn, 1969.
  • Vòng tay thế giới, Quảng Hóa - Sài Gòn, 1969.
  • Giết người trong mộng, Trí Dũng - Sài Gòn, 1970.
  • Ca khúc cho ngày mai, Quảng Hóa - Sài Gòn, 1970.
  • Cho nhau riêng nhau một đời, Khai Phóng - Sài Gòn, 1970.
  • Giọt lệ cho tình ta, Chân Mây - Sài Gòn, 1970.
  • Mười bảy tình ca bất tử Thương Yêu - Sài Gòn, 1971.
  • Đạo ca, Văn học sử - Sài Gòn, 1971.
  • Nhi đồng ca, Cục Tâm lý chiến - Sài Gòn,1971.
  • Kỷ vật chúng ta, Gìn vàng Giữ ngọc - Sài Gòn, 1971.
  • Thương ca chiến trường, Gìn vàng Giữ ngọc - Sài Gòn, 1971.
  • Chiến ca mùa hè, Tiên Rồng - Sài Gòn, 1972.
  • Con đường tình ta đi, Gìn vàng Giữ ngọc - Sài Gòn, 1973.
  • Tuyển tập nhạc tiền chiến (trong đó có nhạc Phạm Duy), Kẻ Sĩ - Sài Gòn, 1968.
  • Tuyển tập 20 năm nhạc tình (trong đó có nhạc Phạm Duy), Khai Phóng - Sài Gòn, 1970.
  • Hoàng cầm ca, Hội văn hoá Việt Nam tại Bắc Mỹ - Hoa Kỳ, 1984.
  • Thấm thoát mười năm, Hội văn hoá Việt Nam tại Bắc Mỹ - Hoa Kỳ, 1984
  • Tủ sách Cành Nam và Tạp chí Xác Định - Hoa Kỳ, 1985.
  • Mười bài rong ca, PDC Productions, Midway City, USA, 1988
  • Mười bài tâm ca, PDC Productions, Midway City, USA, 1990
  • Bầy chim bỏ xứ cành vàng - Westminster, CA USA, 1990
  • Một đời để yêu (30 tình khúc), Nam Á - Paris, Pháp, 1989
  • Vườn thơ cánh nhạc (30 bài thơ phổ nhạc), Nam Á - Paris, Pháp 1989
  • Tình si (30 tình khúc), Nam Á - Paris, Pháp, 1992
  • Tình ca quê hương (30 bài ca quê hương), Nam Á - Paris, Pháp, 1992
  • Lịch sử trong tim (30 bài ca kháng chiến), Nam Á - Paris, Pháp, 1992
  • Hát trên đường về (Đạo ca, Rong ca, Thiền ca), Nam Á - Paris, Pháp, 1992
  • Niềm vui còn đó (Bé ca, Nữ ca, Bình ca), Hồng Lĩnh - Westminster, CA, USA, 1994
  • Tạ ơn đời, Hồng Lĩnh - Westminster, CA, USA 1994 (Có thêm ngoại ngữ)
  • Trường ca Mẹ Việt Nam (Việt-Anh-Pháp), Phủ Đặc ủy Chiêu hồi - Sài Gòn, 1960 và Lá Bối, 1967
  • Trường ca Mẹ Việt Nam (Việt-Pháp), Nam Á, Paris, Pháp, 1985
  • Dân ca - Folk Songs (Việt-Anh), USIS - Sài Gòn, 1968.
  • Hoan ca (Việt-Anh) DU CA - Sài Gòn, 1973.
  • Hát trên đường tị nạn (Việt-Anh) ĐÔNG PHƯƠNG - Santa Ana, CA USA1979.
  • Mười bài ngục ca (Việt-Anh) NGUYỄN HỮU Hiệu - Arlington, VA USA1980.
  • Hai mươi bài ngục ca (Việt-Anh) Hội VĂN HOÁ Bắc Mỹ - Arlington, VA USA 1980.
  • Ngục ca (Việt-Anh-Pháp), Quê Mẹ - Paris, 1982. PDC Productions - Midway City, CA, USA 1989
  • Dân ca - Folk song - Chant populaire (Việt, Anh, Pháp), PDC Musical Productions - Midway City, California, USA, 1980.
  • Trường ca Con đường cái quan (Anh-Việt), PDC Musical Productions, Midway City, California, USA, 1980



Tiểu sử

Nhạc sĩ Phạm Duy, tên thật là Phạm Duy Cẩn, xuất thân từ một gia đình văn nghiệp. Trong hồi ký của mình, ông viết:[2]

Tôi ra đời tại nhà hộ sinh ở số 40 Rue Takou (phố Hàng Cót) Hà Nội vào lúc 1 giờ 15 sáng ngày 05 tháng 10 năm 1921, theo âm lịch là ngày mùng 5 tháng 9 (nhuận) năm Tân Dậu. Trước đó vài giờ, mẹ tôi còn đang ôm bụng ngồi đánh tổ tôm với mấy bà bạn và với Bác Hàn Làng Vẽ.
Mẹ tôi vừa ù xong ván bài tổ tôm thì dở dạ và người nhà vội vàng đưa vào nhà đẻ. Do đó, khi tôi lớn lên, mỗi lần gặp Bác Hàn là bác nhắc tới chuyện ván bài tổ tôm và gọi tôi là thằng Tôm. Ai ngờ bây giờ về già, tôi cũng trở thành một thứ Uncle Tom.
Cha là Phạm Duy Tốn thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền Văn học Mới hồi đầu thế kỷ 20. Anh là Phạm Duy Khiêm, giáo sư thạc sĩ, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp, văn sĩ Pháp văn, tác giả những cuốn Légendes des terres sereines, Nam et Sylvie, De Hanoi à Lacourtine...
Sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 (5 tháng 9 năm Tân Dậu) tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học tiểu học tại trường Hàng Vôi, học không được giỏi và thường bị phạt. Đến khi 13 tuổi (1934) vào được lớp nhất, ông học giỏi lên dần, thành một trong những học sinh ưu tú của lớp, nhất là môn đọc thơ tiếng Pháp.[2]
Năm 1936, vào học ở trường Thăng Long, một trọng điểm trong thời kỳ kháng chiến. Thầy dạy ông có Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Tuyên, Phan Anh, Khuất Duy Tiến; còn trong đám bạn cùng lớp có nhà thơ Quang Dũng.
Năm 1940, nghe lời bè bạn, ông thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương, học thầy Tô Ngọc Vân, chung lớp với Bùi Xuân Phái, Võ Lăng... nhưng ông không có năng khiếu nhiều và không ham vẽ cho lắm. Thời kỳ này ông ca hát nhiều hơn là vẽ tranh.
Năm 1942 ông có sáng tác đầu tay là phổ nhạc bài "Cô hái mơ" của Nguyễn Bính.[2]

... 1942, Cô Hái Mơ, ấn phẩm đầu tiên của Phạm Duy. Ta thử xem nhà soạn nhạc trẻ măng của chúng ta đã phổ nhạc bài thơ đẹp đẽ của Nguyễn Bính như thế nào. Câu nhạc đầu, xuống bậc, với hơi điệu trầm tĩnh và mênh mông, dẫn chúng ta vào cảnh về chiều mơ mộng của thi sĩ. Rồi thì cái nhìn của nghệ sĩ ngước lên ánh trời và ta được hưởng một nét nhạc rất phạm duy lúc bấy giờ đã mềm mại và uyển chuyển. Nhưng chính phần thứ hai của ca khúc mới biểu lộ tất cả sức tưởng tượng và nhạc hứng của chàng nghệ sĩ, tất cả sự táo bạo và coi thường ước lệ của ông. Đoạn nhạc này, với nhạc tính nhanh nhẹn và hơi mạnh mẽ hiển nhiên là đoạn nhạc của một nhà soạn nhạc có cảm tính trẻ. Nhưng trong trường hợp Phạm Duy, trẻ không có nghĩa là vụng về hay do dự, bởi vì cần phải ghi nhận lối viết rất vững vàng, lối chuyển câu rất hợp lý, cần nhất là phải ghi nhận sự khoái vượt khó của chàng trẻ Phạm Duy. Và những khó khăn ở trong đoạn này thì vô số : nào là tiết điệu khá phức tạp của nét nhạc, nào là những nhịp ngoại (syncopes) và những thanh trình (intervalles) khó hát, những nốt móc kép (double croches) hiểm hóc, những chuyển biến đột ngột từ hơi trưởng qua hơi thứ, tất cả những khó khăn chứng tỏ rằng lúc đó chàng nghệ sĩ của chúng ta đã có lỗ tai đặc biệt tinh tế và một khiếu nhạc tuyệt vời. Lại còn mấy phách -- với lời cô chửa về ư ? và hay cô ở lại -- cũng tuyệt diệu nữa, ở đây, Phạm Duy đã chuyển biến được giọng nói của ngôn ngữ mẹ đẻ thành ra nhạc ngữ dễ yêu và ngộ nghĩnh. Nhưng rủi thay, những sự kỳ diệu trên đây đã chẳng quyến rũ nổi cô hái mơ nọ, và bài hát kết luận, trong sự thầm nhắc lại hai đoạn đầu... sự buồn bã đó đã có tính cách rất phạm duy qua lối chuyển bán cung đặc biệt
—Georges Etienne Gauthier, báo Bách Khoa, Saigon năm 1970
Năm 1944, ông thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi rất nhiều miền trên đất nước, từ Bắc chí Nam, khiến ông mở mang tầm mắt, ngoài ra tự nhiên cũng trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong việc phổ biến tân nhạc đến các vùng. Thời kỳ hát rong, Phạm Duy được gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông... và nhất là nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành bạn thân thiết.
Sau đó ông khởi sự con đường âm nhạc của mình với việc trở thành ca sĩ trong gánh hát Đức Huy, đi diễn lưu động từ Bắc qua Trung vào Nam trong những năm 1943-1945. Ông là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần.
Năm 1945, xảy ra nạn đói, Phạm Duy rời nhà cũ đi lang thang nhiều nơi, sau đó ông theo kháng chiến. Trong thời Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Phạm Duy trở thành cán bộ văn nghệ của Việt Minh và là một trong những nhạc sĩ thành công nhất lúc đó. Thời kỳ này, bên cạnh tài năng được khen ngợi, thì xu hướng lãng mạn của Phạm Duy bị cho là tiêu cực, nhiều bài hát của ông bắt đầu bị xét duyệt, cấm đoán. Sau do không chịu sự quản thúc ngặt nghèo, ông đã rời bỏ Việt Minh về thành[cần dẫn nguồn]. Từ đó tác phẩm của ông bị cấm phổ biến trong vùng kiểm soát của Việt Minh, cũng như ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Năm 1949 ông lập gia đình với ca sĩ Thái Hằng.[3]
Năm 1951, ông đưa gia đình về Sài Gòn.[3]
Năm 1953, ông qua Pháp học về âm nhạc, tại đây quen với giáo sư Trần Văn Khê. Về lại miền Nam, ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong ban hợp ca Thăng Long. Nhạc Phạm Duy phổ biến rất rộng rãi ở miền Nam (mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng gọi là "bàng bạc khắp mọi nơi"[4] thời bấy giờ). Thời gian này ông cũng có những hoạt động trong ngành điện ảnh.
Từ sau 30 tháng 4 năm 1975, ông và gia đình cư ngụ tại Thành phố Midway, Quận Cam, California.
Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký, khi hoàn tất chia làm 4 cuốn.
Năm 1999, vợ ông là bà Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Sau năm này, lần đầu về thăm quê hương sau 25 năm lưu lạc, ông gặp gỡ nhiều bạn cũ ở Việt Nam.
Tháng 5 năm 2005, ông trở về Việt Nam, mua nhà sống tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cùng các con trai Duy Quang (ca sĩ), Duy Cường. Tháng 7 cùng năm, có 9 nhạc phẩm của ông được phép lưu hành ở Việt Nam; tháng 11, được phép lưu hành thêm 10 tác phẩm nữa. Tính đến nay (tháng 8 năm 2007) đã có hơn 40 tác phẩm của Phạm Duy được phổ biến tại Việt Nam, tính cả các đoản ca trong "Trường ca con đường cái quan".
Ông qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 27 tháng 1 năm 2013, một tháng sau cái chết của con ông là ca sĩ Duy Quang.[1] Lễ động quan cử hành ngày 3 tháng 2 và ông sẽ yên nghỉ tại Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương.