Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

Hinh Chup

Tranh Thủy-Mạc , là một loại hình hội-họa mà trong đó ‘Thủy là nước, ‘Mạc là mực.
Tranh Thủy-Mc được vẽ bằng mực nước, hay còn gọi là mực tàu trên giấy hoặc lụa. 
Các chủ-đề chính trong Tranh Thủy-Mạc thường là cây-cối, hoa-lá, phong-cảnh, chim-thú, con-người ...
NHƯNG , xin nhắc-lại một lần nữa , trên đây là những hình chụp , không phải Tranh Thủy-Mạc !
























 

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012

Ra đất Bắc


Huỳnh Ngọc Tuấn
- Trung thu này là đám cưới của Khánh Vy và Minh Đức, nhà của Đức ở thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Cũng như chuyến đi vào Sài Gòn trong dịp đám cưới Thục Vy, lần này chúng tôi cũng đi xe lửa cho rẻ tiền và an toàn. Đi xe lửa dễ chịu hơn đi xe ô tô vì được đi lại trên tàu, được ngồi uống trà, ăn cơm và trò chuyện cùng nhau.

Xe lửa VN vẫn còn rất thô sơ và lạc hậu, toa tàu cũ kỹ như của thời Đệ nhị Thế chiến, phòng vệ sinh bẩn thỉu, người ta xả xuống đường tất cả cho nên mỗi lần tàu dừng lại là cái mùi xú uế bốc lên ngộp thở. Nhưng khó chịu nhất là tiếng ồn, khi tàu tăng tốc thì như tiếng máy bay phản lực bay sát đầu rất kinh khủng, toa tàu thì rung lắc dữ dội, người nào lần đầu tiên đi tàu không khỏi phải sợ hãi.

Cả nhà tôi có 8 người, để tiết kiệm chúng tôi mang thức ăn theo. Buổi trưa chúng tôi ăn cơm với thịt xíu, buổi chiều ăn bánh mì chà bông, khuya thì ăn nhẹ bánh biscuit, hoặc uống sữa.

Chúng tôi hưởng được trọn vẹn cái không khí đầm ấm của một gia đình dù đang ở trên tàu trong một chuyến đi xa.

Một điều nữa đáng chê trách là thức ăn trên tàu không ngon và quá đắt, gấp 2 đến 3 lần bên ngoài. Chính vì vậy mà hành khách phải mang theo mọi thứ từ ổ bánh mì đến chai nước uống như một cách để tiết kiệm và phản ứng lại cách phục vụ bắt bí của tàu.

Sinh hoạt trên tàu sẽ vui hơn nếu giá cả hợp lý, và nhân viên phục vụ trên tàu cũng bớt buồn tẻ vì ế hàng, gần như bị tẩy chay.

Cơm trưa vừa xong thì tàu bắt đầu vượt đèo Hải Vân. Chúng tôi tập trung bên ô cửa để ngắm cảnh trời nước và mây núi Hải Vân, qua tấm lưới sắt nên cũng bớt đi nhiều sự thích thú.

Đã nhiều lần tôi qua Hải Vân nhưng tôi không thể cưỡng được sự cuống hút của vẻ đẹp hùng vĩ nơi đây. Ngồi trong tàu nhìn xuống dưới kia là biển và vực sâu, cây cối um tùm và những dòng suối nhỏ róc rách chảy giữa hai bờ lau lách. Bãi biển vắng lặng với những tảng đá to nằm chơ vơ bên bờ sóng vỗ không một bóng dáng du khách vãng lai và đối diện là vách núi cao sừng sững với những bờ đá chênh vênh tạo nên cảm giác hụt hẩng làm lạnh sống lưng, nhưng cảnh sắc nơi đây làm người ta vừa sợ vừa đam mê.

Tàu đã đổ dốc về hướng Thừa Thiên, bỏ lại Hải Vân phía sau với một chút nuối tiếc. Từ đây cảnh sắc hai bên đường đều đều tẻ nhạt.

Đi qua những làng mạc những cánh đồng hiu quạnh, trời đã về chiều, một cơn mưa nhỏ làm đất trời âm u, nhìn những con cò co ro từng bước chậm tìm mồi trên ruộng nước mênh mông trong lòng dâng lên một nỗi buồn mà chỉ có những ai đã từng trải qua sự nghèo đói rách nát của đất nước mới cảm nhận được. Mùa đông của những năm 70, 80, 90 của thế kỷ trước vẫn còn ám ảnh đến bây giờ, sự ám ảnh đó vẫn còn là hiện thực đó đây trên xứ sở này sau mấy thập niên “đổi mới”.

Một buổi tối trên tàu vui vẻ cũng qua dần khi đêm đã về khuya, cơn buồn ngủ làm nhiều người nằm co ro trên ghế, dưới gầm và cả đường đi.

Chúng tôi chế một ấm trà ngon và mang ra bánh ngọt, sữa vừa ăn vừa nói chuyện cho qua đêm… hết ấm trà này đến ấm trà khác.

5 giờ sáng tàu đến ga Hà Nội, tôi bước xuống sân ga với cảm giác bồng bềnh chơi vơi của một người sau một đêm không chợp mắt.

6 giờ sáng chúng tôi sang tàu đi Vĩnh Yên.

Chuyến tàu đi Vĩnh Yên sạch sẽ và thoáng người hơn tàu Bắc-Nam.

Tàu chạy chậm nên tôi có cơ hội nhìn kỹ cảnh sắc trên đường. Tàu chạy qua một cánh đồng rộng mênh mông và phì nhiêu với những ruộng lúa vàng rực, tôi nhận thấy người nông dân ở đây canh tác có vẻ khoa học và chuyên nghiệp hơn người nông dân Quảng Nam.

Tôi ngồi đối diện với một cô gái trẻ độ tuổi đôi mươi, cô ta ăn mai và mời tôi ăn cùng. Tôi cám ơn cô với một thoáng vui chợt đi qua trong tâm hồn mệt mõi.

Con gái đất Bắc đẹp dịu dàng và tinh tế biết ăn nói thưa gởi lễ độ với người lớn tuổi.

8 giờ sáng chúng tôi đến Vĩnh Yên, từ ga Vĩnh Yên đi hết 20 ngàn đồng taxi là đến nhà Đức. Chúng tôi được chào đón rất thân tình, tôi có cảm giác như ở nhà mình. Nhà của Đức khá đông người, 3 anh trai của Đức đã có gia đình và đã có con, cùng ở chung một nhà. Khác với nhà tôi buồn tẻ vì toàn người lớn, nhà của Đức rộn ràng tiếng trẻ con chơi đùa. Bố mẹ Đức ngoài công việc buôn bán họ còn trông nom 5 đứa cháu nội, họ chẳng bao giờ buồn vì chung quanh họ là 5 thiên thần bé nhỏ.

Tôi rất ấn tượng khi buổi cơm trưa hôm đó vừa xong, người lớn đang uống trà, một cháu bé trai sà vào lòng ông Hải (bố của Đức) lát sau cháu hỏi rất tự nhiên:

- Các ông ăn có ngon không?.

Tôi và mấy ông anh nhìn nhau cười vừa ngạc nhiên vừa thích thú:

- Cám ơn cháu, cháu ngoan lắm.

Buổi tối trước ngày Lễ cưới chính thức tổ chức các cụ bà trong làng trong họ đến chúc mừng gia đình và đôi bạn trẻ, các cụ ngồi ăn trầu và hát quan họ đến 10 giờ tối mới về.

Tôi nhận thấy các cụ bà đất Bắc coi việc ăn trầu không đơn giản là một thói quen như hút thuốc của các cụ ông mà nó là một nghi thức có phần thiêng liêng, họ mời nhau miếng trầu với tâm thức trân quý.

Dù sống trong chế độ CS rất lâu nhưng người đất Bắc vẫn giữ được cái nền nếp và lối sinh hoạt của ông cha truyền lại, thế mới biết cái chiều sâu của nền văn hóa Việt không dễ gì mai mộ.

Đám cưới của Khánh Vy và Minh Đức không hoành tráng nhưng trang trọng và thân tình. Sau khi tiệc tan mọi người vẫn còn ở lại để hát karaoke đến khuya mới nghĩ.

Tôi ngủ một giấc ngon với cảm giác bình yên và mãn nguyện.

Sáng hôm sau chúng tôi tổ chức chuyến du lịch lên vùng núi Tam Đảo.

Từ Vĩnh Yên đi Tam Đảo chỉ 24 km, con đường nhựa không lớn nhưng rất tốt và chạy trong một không gian đẹp như tranh, một bên là rừng thông cao vút, một bên là thung lũng sâu với mây mù lúc tan lúc hiện lúc dày đặc lúc mỏng manh như sương sớm mùa xuân.

Điểm đầu tiên chúng tôi dừng chân là một nhà thờ Công giáo do người Pháp xây dựng đã hơn trăm năm. Nhà thờ đẹp và hoành tráng tựa lưng vào vách núi trong một vùng xanh của mây ngàn và sắc lá.

Nhà thờ đóng cửa không một bóng người, không hoang phế nhưng lạnh lẽo, chỉ còn là một điểm dừng chân cho du khách thưởng ngoạn.

Chụp một vài tấm hình kỷ niệm với anh thợ chụp hình kiêm hướng dẫn viên du lịch tự nguyện. Anh ta thuyết trình và cho chúng tôi xem những bức hình của nhà thờ và cả vùng núi Tam Đảo này vào những năm 1930, 1940 của thế kỷ 20. Theo lời anh Tam Đảo trước đây có đến 280 ngôi biệt thự của người Pháp xây dựng theo kiến trúc phương Tây, nhưng đã bị triệt phá hoàn toàn trong thời chiến tranh chống Pháp vì chính sách tiêu thổ kháng chiến của Việt Minh. Đa số những biệt thự và khách sạn hiện nay xây trên nền móng củ, vẫn còn khá nhiều nền nhà củ cỏ mọc um tùm, Tam Đảo còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết.

Chúng tôi tiếp tục đi lên đến tận đỉnh của Tam Đảo. Ngồi dưới những tán cây cao và mát rượi ven đường nhìn toàn cảnh Tam Đảo đẹp rực rỡ trong ánh nắng trưa. Tôi tựa vào balcon cho vững, nhìn xuống vực sâu hun hút và chập chùng mây, thấy mình nhỏ bé và chơi vơi.

Ở đây trời đất giao hòa, nắng thu dịu dàng mơn trớn vuốt ve trên da thịt, không khí mát và trong như được lọc từ những tầng trời cao rót xuống. Chung quanh yên tĩnh không một tiếng chim, nguyên khí đất trời ngưng đọng trên từng đọt lá, tích tụ trong từng hơi sương.

Đường phố Tam Đảo sạch sẽ, lên cao xuống thấp, nhấp nhô uốn lượn, đẹp và thơ mộng qua từng góc đường, góc phố, từng vách đá từng hẻm sâu. Đẹp với những ngôi biệt thự khách sạn nhà hàng nhỏ nhắn xinh xinh.

Tam Đảo tạo cho du khách cảm giác mình đang ở một xứ sở thần tiên trong cổ tích, còn với tôi, tôi thấy nơi đây thân thuộc đến khó hiểu dù mới đến một lần, ước gì đất nước thái hòa, tự do tôi sẽ ở lại đây đến suốt đời, mặc cho cuộc đời dưới kia phồn hoa.

Theo hướng dẫn của anh thợ chụp hình chúng tôi xuống chơi thác Bạc.

Đường dẫn xuống thác Bạc đâu chừng 300 bậc đá, những bậc đá chạy dưới vòm cây và bên vách núi, dọc đường có nhiều quán ăn nhà nghỉ với lời mời chào rôm rả ân cần.

Thác Bạc là ngọn thác nhỏ và không cao lắm chỉ độ 20m, dòng nước trong vắt và mát lạnh như từ trong chiếc tủ lạnh khổng lồ của trời đất chảy ra.

15 phút ở thác Bạc với vài tấm hình lưu niệm rồi chúng tôi đi lên. Vào một quán ven đường để nghỉ và ăn trưa. Chúng tôi uống trà và nói chuyện trong khi chờ cô chủ quán nấu cho một nồi cơm với mấy dĩa su su luộc và xào.

Nhìn ra xa là thung lũng mờ sương có cảm giác như ngồi trong một chiếc lồng cheo leo bên vách núi.

Dù luyến tiếc cũng phải rời Tam Đảo.

Con đường đi xuống thênh thang vì vắng người, xe lướt nhẹ giữa rừng thông bạt ngàn vượt qua những vách đá dựng đứng những hẻm núi thẳm xanh, bỏ lại Tam Đảo phía sau với ước mơ một ngày trở lại.

Chúng tôi ghé qua Tây Thiên (một thắng cảnh của Vĩnh Phúc) nhưng không còn nhiều thời gian, cả đoàn quyết định đi một đoạn đường mà trước đây du khách vẫn đi để lên đỉnh Tây Thiên, nhưng từ ngày có cáp treo du khách không dùng con đường này nữa. Hàng quán, nhà nghỉ dọc đường giờ đây hoang vắng tiêu điều, chúng tôi là những du khách đơn độc trên con đường này, chung quanh chỉ có núi rừng, thỉnh thoảng chúng tôi đứng trước một cơ ngơi của ai đó với vườn cây ăn trái, nhà cửa khang trang nhưng vắng vẻ.

Con đường chạy dọc theo bờ suối, lòng suối gập ghềnh những tảng đá to đá nhỏ. Con đường này trước đây chắc là vui lắm, những cơ sở phục vụ cho du khách vẫn còn nguyên vẹn và khá tốt nhưng giờ đây không biết dùng để làm gì, tôi chia sẻ sự bùi ngùi nuối tiếc với những chủ nhân của những dịch vụ nơi đây.

Đến một hồ nước nhân tạo trong vắt, Hiếu và Lễ cởi đồ ra tắm, chúng tôi chụp một vài tấm hình ghi lại khoảnh khắc này và quyết định trở về trước khi trời tối.

Một chuyến đi tuyệt vời.

Sáng hôm sau tôi và hai ông anh được bố của Đức đưa đi thăm họ hàng và dự một buổi tiệc nhỏ trước khi trở về Quảng nam.

Gọi là bữa tiệc nhỏ nhưng khá thịnh soạn, bà cô của Đức đặt nhà hàng nấu hai con gà chọi với đủ món rất ngon. Món gà nấu thật khéo rất hấp dẫn.

Mọi người hỏi thăm nhau về sức khỏe, công việc và con cái, chúng tôi nói chuyện về thời cuộc đang diễn ra, về hội nghị trung ương 6, về lãnh vực ngân hàng. Nhiều người ở đây thông thạo về tình hình nội bộ của chế độ này hơn tôi. Câu chuyện chuyễn hướng khi một ông bác của Đức hỏi chúng tôi.

- Tôi hỏi các ông chuyện này nhé, chứ hồi còn Mỹ ngụy họ có bắt bớ đánh đập, bắn giết mình không, có để cho mình làm ăn không? Tôi nghe nói dân mình trong đó khổ lắm đi làm cũng có cảnh sát theo giữ, đang nói chuyện sinh hoạt trong nhà chúng nó xông vào đánh đập bắn giết bừa bãi, thế gia đình các ông sống làm sao được?

Chúng tôi thật sự kinh ngạc vì câu hỏi này, anh Minh của tôi chồm người ra khỏi ghế vì bị kích động tôi giữ anh lại và từ tốn trả lời ông:

- Hồi chế độ Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi sống rất sung sướng, xã hội văn minh có luật pháp, có dân chủ và quyền tự do công dân. Cảnh sát nếu muốn vào khám xét nhà phải có lệnh của Tòa, không có chuyện kiểm tra hộ khẩu, cũng không có hộ khẩu, ai muốn sống ở đâu cũng được, làm gì cũng được, báo chí tự do, sinh hoạt tôn giáo tự do, hoạt động chính trị cũng tự do vì chế độ đa đảng, không có một đảng nào toàn quyền lãnh đạo. Đến mùa bầu cử rất vui, ai ủng hộ đảng nào thì đi vận động cho đảng ấy. Không có chuyện cảnh sát đánh chết người một cách bừa bãi như ở chế độ này, tôi chỉ thấy người dân nổi giận đánh cảnh sát chứ không có chuyện cảnh sát đánh dân. Chúng tôi được chữa bệnh miễn phí, bác sĩ khám chữa bệnh chu đáo, không chu đáo cũng không được vì sẽ bị kiện, giới luật sư lúc đó quyền lực lớn lắm chứ không phải như bây giờ chỉ là thứ đồ trang sức rẻ tiền và vô giá trị.

Chúng tôi đi học không mất tiền, không giới hạn tuổi học, một người có năng lực 13 tuổi vào đại học vẫn được. Đời sống người dân rất cao, từ những năm 1970 chúng tôi đã xài TV, xe máy, radio casette, tủ lạnh, máy ảnh, từ Đà nẵng đi Sài Gòn bằng Boeing 737. Hàng hóa ngoài phố và chợ chất cao như núi, tôm cá không ăn hết, những thứ bây giờ là đặc sản thì đối với chúng tôi khi đó chỉ là thức ăn dân dã. Đại đa số dân chúng tôi không hề mong muốn mấy ông CS vào chiếm Miền nam, từ khi mấy ông CS cầm quyền chúng tôi như sống trong địa ngục, nên đã có hàng triệu người bỏ nước ra đi tìm tự do bất chấp rủi ro bắt bớ, chết chóc…. Đến bây giờ thì có đỡ hơn một chút về vật chất nhưng tự do và dân chủ thì vẫn không có, mình không được bầu ra người lãnh đạo của đất nước, tham nhũng và lộng hành là bản chất của chế độ này, nó sẽ tiếp tục hoành hành khi nào chế độ này tồn tại đừng hy vọng sẽ chống được tham nhũng và lộng hành, vì các bác cứ đặt câu hỏi ai tham nhũng, ai lộng hành thì sẽ có câu trả lời…

Hiện nay nước Mỹ đang trong cuộc vận động tranh cử, Việt Nam Cộng Hòa trước đây cũng có vận động tranh cử như vậy. Còn ở VN bây giờ có vận động tranh cử không? vì VN đang sống trong chế độ độc tài toàn trị, người lãnh đạo đất nước do đảng CS quyết định, người dân chỉ việc cúi đầu làm theo, ai phản đối sẽ bị thủ tiêu, bỏ tù.

Tôi nói một hồi lâu cố gắng để cho họ hiểu được sự thật như thế nào.

Ông bác của Đức ngã người ra ghế: Thế mà họ bảo dân miền Nam khổ lắm đói lắm, không đủ cơm ăn, áo quần để mặc, ăn cơm bằng gáo dừa, mo cau, bị bắn giết, bị hãm hiếp, tra tấn, có hỏi mới biết sự thật.

Một người chú của Đức nói: Giải phóng miền Nam là sai lầm, nếu miền Nam giải phóng miền Bắc thì bây giờ mình đã có nhà lầu ô tô.

Trở lại chuyện tham nhũng và lộng hành ông bác của Đức nói:

- Chỉ có chế độ dân chủ đa đảng thì mới hết tham nhũng lộng hành vì họ kiểm soát lẫn nhau.

Câu nói này từ miệng một người nông dân miền bắc làm cho tôi hy vọng, nhận thức của người dân mình không đến nỗi tệ quá, nếu có cuộc trưng cầu dân ý thì chúng ta - những người dân chủ - sẽ thắng VC ít nhất là 55/ 45 %.

Tôi ghé qua Hà Nội trong một tiếng đồng hồ để chờ tàu, chỉ đủ thời gian để chụp chung một tấm ảnh với Người Buôn Gió và một vài câu trao đổi với vợ chồng Nguyễn Lân Thắng.

Dạo một chút trên bờ hồ Gươm, nhìn ngắm Tháp Rùa, đi qua chổ vườn hoa Lý Thái Tổ nhớ lại những chủ nhật hào hùng trong không khí chống Trung cộng xâm lược, hình dung những con người chưa một lần gặp nhưng rất thân thương.

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

Cờ Vàng Trên Ðỉnh núi Everest




Thứ Bảy vào lúc 11h sáng, chúng tôi có mặt với một số đồng hương người Việt cùng với ông chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Trần Quang Đệ đến tham dự để gặp trực tiếp ông Craig Van Hoy, là một chuyên gia leo núi cũng là người đã cấm lá quốc kỳ cờ vàng 3 sọc đỏ trên đỉnh Everest vào ngày 17 tháng 05 năm 2004.
     Ngày 06 tháng 10 vừa qua tại thành phố Portland tiểu bang Oregon đã diễn ra buổi gặp gỡ thật thú vị giữa đại diện đoàn làm phim Hồn Việt, kiến trúc sư Huỳnh Lương Vinh và nhà trèo núi chuyên nghiệp ông Craig Van Hoy.  Cách đây 8 năm anh Huỳnh Lương Vinh đã thực hiện ước mơ để vận động đem lá quốc kỳ của VNCH được cấm trên đỉnh núi Everest còn được coi là “nóc nhà cao nhất trên thế giới”, vinh dự này không riêng cho kiến trúc sư Huỳnh Lương Vinh mà cho hơn 3 triệu Người Việt tị nạn cộng sản tại hải ngoại cũng như hơn 86 triệu đồng bào tại Quốc Nội đang bị đau khổ dưới chế độ gông cùm độc tài đảng trị của cọng sản VN.  
         Như qúi vị đã biết chưa có một triều đại nào hay một quốc gia nào khi đã không còn tồn tại trên thế giới thì lá quốc kỳ đó cũng coi như không còn trên bản đồ hiện thời; thế nhưng ngược lại với chính thể Việt Nam Cộng Hòa trước đây, một miền nam tự do bị cưởng chiếm bởi cọng sản Bắc Việt nhưng lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ đó vẫn ngạo nghễ tung bay trên toàn thế giới mà còn được vinh danh suốt hơn 37 năm qua theo luật pháp hiện hành của Hoa Kỳ và vẫn tiếp tục mãi bay trên các bầu trời cho đến ngày hôm nay. Với lý do này mà một nhóm người tự nguyện đã dầy công âm thầm đây đó khắp nơi đã gom nhặt tất cả những mẫu chuyện kỳ diệu về lá quốc kỳ để thực hiện một cuốn phim tài liệu sự thật phải trả lại cho lịch sử và bộ phim Hồn Việt sẽ được trình chiếu trước năm 2013 tới đây. Chúng tôi được biết đoàn làm phim Hồn Việt muốn ghi lại nguồn gốc lịch sử của Quốc Kỳ và Quốc Ca VN đã hiển nhiên có nhiều năm trước ngày thành lập đảng cọng sản VN so với lá cờ đỏ sao vàng của họ ngày nay.  Đây là điểm tụ là biểu tượng và là di sản của tất cả người Việt tự do tị nạn cộng sản trên toàn thế giới. 
Ông Craig Van Hoy nói:  Tôi rất hãnh diện coi đó là một kỳ tích đã thực hiện sự việc này, giờ đây tôi lại thêm sung sướng vì được hiểu thêm về cái ý nghĩa của lá cờ vàng này và sự biểu tượng cho cái di sản của tất cả người Việt tự do trên toàn thế giới”. Ông tiếp: ” Khi chinh phục được tới đỉnh núi cao nhất thì tôi phải trả cái giá nhiều cam go, tôi liền hiểu cái lá cờ chính nghĩa tự do của quí vị thì phải trả bằng cái giá như thế nào… Freedom is not FREE!”
Anh Huỳnh Lương vinh chia sẻ: “Năm 1975 tôi mới 17 tuổi, không hiểu gì về chiến tranh Việt Nam.  Như những gia đình người Việt tị nạn cọng sản khác tôi chưa hiểu tại sao thân phận mình lại là người tị nạn? tại sao người Việt lại mang theo cái cờ vàng này sang Mỹ?  sau một thời gian học hỏi và nghiên cứu tôi mới hiểu được cái ý nghĩa của lá quốc kỳ này mà ngày nay đã chính thức được xem là một biểu tượng là di sản của khối người Việt tự do ở khắp 5 châu…”   Anh tiếp: “Lá cờ vàng này không những phải được đặt ở trong lòng của mỗi người mà thực tế là phải được trân trọng ở 1 chổ cao qúy nhất, lúc đó anh Craig Van Hoy đề cập đến chuyến leo núi, nhân dịp ấy tôi đề nghị anh giúp tôi thực hiện ước mơ của mình và đương nhiên là anh đã vui sướng nhạn lời…Điều thú vị nhất ở trong tôi đây là lần đầu và lần đầu tiên duy nhất trong lịch sử , có 1 không 2 là lá quốc kỳ cờ vàng chính nghĩa của chúng ta được cấm trên đỉnh núi Everest”       
     Theo chúng tôi được biết phim Hồn Việt đã phải tốn rất nhiều thời gian, tài chánh và nhân lực mà đoàn làm phim đã vất vã vượt qua gần một năm nay.  Đoàn làm phim đang kêu gọi về sự hợp tác của tất cả người Việt khắp nơi hãy tiếp tay cho cuốn phim tài liệu quý giá này sẽ ra mắt ở nhiều tiểu bang trong tương lai.  Mọi người chụp hình lưu niệm và chia tay vào lúc 3 giờ chiều cùng ngày với trong long thật ấm áp.
Hoài Nam. 

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

Nhà sư trẻ gốc Việt trở thành “Cao tăng” Tây Tạng



Lati Rinpoche, trái, vị thầy được Ðức Ðạt Lai Lạt Ma giao nhiệm vụ dạy kèm các vị tái sinh, trong đó có Thầy Don, phải. 
Đây là điều đặc biệt vì nhà sư là người đầu tiên rời Hoa Kỳ qua Ấn Độ xuống tóc trong một tu viện Tây Tạng vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, khi mới 12 tuổi.
Đặc biệt hơn nữa, đây là người Việt Nam đầu tiên được truyền thừa trong lịch sử hơn ngàn năm của Phật giáo Tây Tạng.


Kusho Tenzin Drodon(cháu ruột của MC Nam Lộc và nhà văn Nhã Ca, chủ nhiệm nhật báo Việt Báo )
Sinh tại Quận Cam, ở miền Nam California trong một gia đình khá giả, lên tám tuổi, cậu bé họ Phạm đã muốn trở thành một Geshe Tây Tạng.
Mà Geshe là gì?
Geshe là học vị trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, tương đương với bằng Tiến sĩ về Phật học của Tây phương. Bình thường ra thì phải mất hai chục năm mới xong và nhiều người không xong nổi. Thế giới hiện chỉ có chừng 200 vị Geshe thôi.
Muốn được thành một Geshe thì phải thấm nhuần năm ngành học là Bát nhã ba la mật (Prajnaparamita), Trung quán luận (Madhyamika), Giới luật (Vinaya), A tỳ đạt ma luận (Abidharma) và Lý luận căn bản (Pramana Vidya).
Thấm nhuần ở đây là phải nhập tâm, bằng Tạng ngữ, trong vài chục năm tu tập gian nan, hầu có thể ứng đối tranh luận trong mọi tình huống về mọi chủ đề trong các cuộc khảo hạch thường xuyên và từ đó đi hoằng pháp cho nhân thế.
Đã vậy, từ thấp lên cao, học vị Geshe còn có bốn cấp là Dorampa, Lingtse, Tsorampa và cao nhất là Lharampa và trung bình thì phải sáu năm mới lên tới cấp tối ưu.
Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, Kyabje Lati Rinpoche, được Đức Đạt Lai Lạt Ma yêu cầu hướng dẫn chú bé gốc Việt họ Phạm
Vị cao tăng Tây Tạng đã hướng dẫn chú bé họ Phạm là một Lharampa Geshe, một hóa thân của danh tăng Gongkar Rinpoche.
Ngài được tôn là châu báu trong hàng Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, pháp danh là Kyabje Lati Rinpoche, hiện là cố vấn về Lý luận (Tsen-shabs) của đức Đạt Lai Lạt Ma. Môn sinh của Tulku Lati Rinpoche thường chỉ là những nhà sư được xác nhận là báo thân của một cao tăng, một vị đạo sư, một guru từ kiếp trước nguyện tái sinh để tiếp tục hạnh nguyện.
Và đức Đạt Lai Lạt Ma là người trực tiếp yêu cầu Tulku Lati Rinpoche dìu dắt chú bé.
Vì sao một chú bé sinh trong một gia đình Việt Nam tại Hoa Kỳ lại được nhận vào tu viện Tây Tạng, rồi được chính đức Đạt Lai Lạt Ma trao phó cho một vị cao tăng hàng đầu của Ngài việc hướng dẫn tu học đó?
Có lẽ phải đi từng bước để nhìn ra con đường học đạo của vị tăng người Việt này.
Với người Tây Tạng, đức Đạt Lai Lạt Ma là hóa thân của Đại từ Đại bi Bồ tát Quán Thế Âm. Việt Nam ta quen gọi vị Bồ tát ấy là Phật Quan Âm, vì vậy, nhiều người cũng gọi Ngài là Phật Sống Tây Tạng.
Người Tây Tạng tôn Ngài là "Kundun" với ý nghĩa ấy.
Trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, một Lạt Ma được coi là hiện thân của Phật, và Bồ tát nguyện tái sinh để cứu độ chúng sinh. Bậc hóa thân ấy được tôn là Tulku (" Chu cô" theo cách phiên âm Hán-Việt). Danh hiệu Lạt Ma chỉ được dành cho những người giảng dạy giáo pháp và có thẩm quyền thực hành nghi lễ của Phật giáo. Trong số những người được chứng nhận là Lạt Ma, những vị uyên thâm và cao quý nhất thì được tôn là Rinpoche (nghĩa là "vô cùng quý báu").
Trong hàng giáo phẩm và triều đình Tây Tạng, người ta thấy nhiều cao tăng được tôn vinh là Rinpoche.
Bây giờ, chúng ta có đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 - một vị Phật Sống - ủy thác cho một Tulku Rinpoche việc dẫn đạo cho một nhà sư trẻ của Việt Nam...
Nhà sư này phải có gì đặc biệt mà có lẽ người thường như chúng ta chưa thấy hết được.
Cách đây bốn năm, nhật báo Orange County Register đã gửi một phái đoàn gồm hai nhà báo Anh Đỗ và Teri Sforza cùng đoàn nhiếp ảnh và truyền hình qua tận Ấn Độ để làm loạt phóng sự bốn kỳ về chú tiểu họ Phạm này. Người ta có thể tham khảo loạt bài được biên tập và trình bày công phu dưới tựa đề "The Boy Monk" tại trang nhà của tờ báo trong bốn số ra ngày 19 đến 22 tháng Giêng 2003.
Từ ngày đó đến nay, việc tu học của nhà sư này đã có sự tăng tiến.
Một người Mỹ xuất gia sang Ấn Độ tu Phật giáo đã là hiếm, nhưng vẫn có. Một người sinh tại Mỹ - thuộc thế hệ thứ nhì vì cha mẹ là người Việt tỵ nạn - thì lại hiếm hơn. Đây lại là người Mỹ đầu tiên được nhận vào tu viện Tây Tạng Gaden Shartse, trong tỉnh Mundgod của tiểu bang Karnataka ở miền Nam Ấn Độ để được tu học thành Sa di. Tên Mỹ-Việt Donald Phạm đổi thành Konchog Osel.
Người thân thì gọi là Kusho. Konchog có nghĩa là hiếm quý, Osel là tịnh quang, ánh sáng trong lành, và Kusho là một cao tăng.
Thế rồi, sau khi khảo hạch thì chính Tulku Lati Rinpoche đã thỉnh đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ thọ giới Cụ túc cho chú tiểu sa môn. Có mặt trong buổi lễ cử hành vào đúng ngày Phật Đản còn có bốn vị Rinpoche khác.
Chú được ban pháp danh là Tenzin Drodon,
nghĩa là "Người nắm giữ Phật pháp" (Tenzin) "cứu độ chúng sinh" (Drodon).
Drodon là một pháp danh ít có trong hệ thống Tăng già Tây Tạng.
Ngày nay, Phật giáo Tây Tạng có một nhà sư dung mạo sáng rỡ, nói sành sõi tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Tây Tạng với phương ngữ quý phái của Kinh đô Lhasa, ở bên kia đỉnh núi tuyết ngàn trùng.
Vào mùa Xuân Đinh Hợi 2007, ở tuổi 21, Kusho sẽ thọ giới Tỳ kheo với đức Đạt Lai Lạt Ma, một điều kỳ lạ nữa. Trong lịch sử Tây Tạng, đây là người Việt đầu tiên được chính đức Đạt Lai Lạt Ma truyền thừa và truyền giới.
Có thể là sau này người ta mới được biết thêm rằng nhà sư trẻ cũng là hóa thân của một hành giả, nguyện tái sinh trong một gia đình Việt Nam tại Mỹ và tu học trong tu viện Tây Tạng tại Ấn vì lợi ích của chúng sinh.
Ba vị cao tăng đã lần lượt hướng dẫn nhà sư là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen tại tu viện ở Long Beach, là Lharampa Geshe Lati Rinpoche, một vụ Tulku tại tu viện Gaden Shartse ở Ấn Độ và đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14.
Bây giờ, chúng ta mới tìm hiểu về nhân vật này.
Vừa ra đời, Donald Phạm đã chững chạc như người lớn.
Chú bé là học sinh ưu tú, thích âm nhạc, viết văn, trượt nước và chơi Nintendo!
Là học trò giỏi tại trường Aliso Viejo Middle School , chú bé có đủ thứ game trong nhà và thừa điều kiện thành công trong một môi trường đầy cơ hội là Hoa Kỳ.
Ước nguyện ban đầu của chú là thành nhà văn hay bác sĩ.
Nhưng, khác mọi đứa trẻ cùng tuổi, chú ít nói, kín đáo nhìn mọi sự chung quanh và đặc biệt quan tâm đến người khác.
Cha mẹ chú là những người khá giả và chăm sóc kỹ lưỡng tâm hồn các con.
Mẹ chú sùng đạo từ khi còn ở Việt Nam .
Tại Hoa Kỳ thì cả gia đình thường đến ngôi chùa Tây Tạng ở Long Beach , do đức Đạt Lai Lạt Ma đặt tên là Thubten Dhargye Ling, để tu học Phật pháp.
Đây là một việc không dễ vì từ nhà đến chùa là 90 cây số và một tuần, gia đình lên chùa ba lần.
Donald vào chùa là có phản ứng khác lạ.
Tưởng đứa con lơ đãng nhìn quanh, bà mẹ ngạc nhiên vì chú nghe được hết và nói lại rành mạch những khái niệm rất lạ.
Thí dụ như hiện tượng "tâm viên ý mã" trong lúc thiền định!
Người lớn nghe đã thấy khó lãnh hội, huống hồ một đứa trẻ ở tuổi mẫu giáo!
Năm chú lên bốn, bà mẹ đọc báo thấy có tin là vị Đạo sư Lati Rinpoche sẽ đến thuyết pháp ở Los Angeles .
Quá mừng khi được cơ hội gặp vị cao tăng mà mình đã đọc lời giảng trong sách từ khi còn mang thai chú bé, bà dẫn chú đi nghe và năm đó Donald đã quy y với Tulku Lati Rinpoche!
Khi chú lên năm, cô em kém chú hơn một tuổi bỗng khóc òa vì làm vỡ cái đĩa.
Chú bé đứng cao hơn quầy bếp đã lên giọng trấn an:
"Đừng lo, đó chỉ là đồ vật thôi. Nếu chấp vào vật nhỏ như vậy thì khi chết, làm sao cái tâm bỏ được cái thân này?"
Rồi sau đó, thay vì là nhà văn hay bác sĩ, năm lên tám, chú muốn thành một Geshe!
Thấy con mình có ý đi tu để thành Geshe, bà mẹ trình bày với vị Hoà thượng trụ trì tu viện Phật giáo Tây Tạng tại Long Beach là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen, thường được Phật tử quý mến gọi là Geshe La.
Hoà thượng Geshe La khuyên là hãy kiên nhẫn tìm hiểu tâm tư chú bé đã.
Cho con vào chùa là chuyện thường tình ở Á châu và Tây Tạng, nhưng chúng ta đang ở tại Hoa Kỳ, trong một khu vực trù phú lịch sự.
Con đường tới chùa là một chặng đường khá xa cần phải tìm hiểu.
Mà cách tìm hiểu hay nhất là chính họ phải qua tận Ấn Độ thăm viếng một ngôi chùa Tây Tạng đủ lâu để thấy hết tận mắt.
Thày dạy, tu viện là một đại dương, có rất nhiều ngọc nga châu báu vật đấy nhưng cũng có cá mập.
Hãy tìm hiểu rồi mới quyết định cho chú bé.
Khi Donald Phạm lên chín, năm 1995, cha mẹ chú quyết định sang thăm tu viện, cách đó đúng là vạn dậm.
Bước đầu là từ California bay qua Ấn Độ, rồi đi xe buýt leo đèo băng suối tới một tu viện trong khu định cư của người Tây Tạng tại Mundgod, thuộc tiểu bang Karnatala ở miền Nam Ấn Độ.
Đó là tu viện Gaden Sharte của dòng Gelugpa Phật giáo Tây Tạng.
Khu vực định cư cho dân tỵ nạn thường không là một vùng đất trù phú thịnh vượng.
Sự nghèo khổ và thiếu thốn là quy luật chung. Huống hồ là nơi tu hành.
Người viện trưởng của Tu viện chính là ngài Tulku Lati Rinpoche mà gia đình họ Phạm đã đọc rồi đã gặp tại Los Angeles .
Phép sinh hoạt nơi đây là sự khắc khổ nghiêm ngặt. Mọi người thức giấc từ năm giờ sáng, chư tăng áo đỏ tụng kinh đến bảy giờ rồi ăn sáng.
Thực đơn khác hẳn bữa điểm tâm trong một ngôi nhà khang trang ở Laguna Niguel tại California . Bánh mì chấm trà có pha đường, bơ tẩm muối.
Sau đó là học ngôn ngữ và tranh luận đến trưa.
Quá ngọ là buổi học với các đạo sư cho đến chiều.
Cơm tối là cháo. Xong cơm là học tiếp về Phật pháp qua tranh luận, có khi đến nửa đêm...
Giáo trình đào tạo còn nặng hơn mọi trường tư thục ưu tú nhất của Mỹ!
Và không có các màn giải trí qua truyền hình, chơi game, nghe nhạc từ DVD... Cũng không có quà vặt, máy giặt máy xấy, nước nóng phòng riêng...
Làm sao cho con mình vào sống nơi đó?
Gia đình ở lại 6 tuần và chú Donald Phạm cho biết là muốn học đạo ở nơi đây.
Trường hợp của chú hiển nhiên đã được Geshe La và Tulku Rinpoche chú ý.
Phải tìm lời giải trong phép khảo chứng bí truyền của Tây Tạng.
Vị cao tăng thực hiện buổi lễ linh thiêng ấy chính là Tuku Rinpoche.
Lời giải là chú bé này là một đứa trẻ đặc biệt, sẽ vào chùa thành một vị sư Tây Tạng. Donald Phạm cũng cảm thấy như vậy.
Việc cháu Donald muốn đi tu đã gây nhiều phản ứng và tranh luận trong đại gia đình. Đầu tiên thì chị và em không muốn xa Donald.
Còn ông ngoại thì hoàn toàn không vui! Điều ấy cũng thật dễ hiểu.
Nhưng ý của chú đã quyết và cha mẹ cũng thông cảm và hỗ trợ nên mọi người quen dần với quyết định này.
Gần bốn năm trôi qua, rồi vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, cả gia đình Donald Phạm đã theo Hoà thượng Geshe La qua Ấn Độ. Chú sẽ ở lại nơi đây.
Tết Nguyên đán Kỷ Mão thì xuống tóc, trở thành Sa di Kusho Konchog Osel.
Tu viện có 1.500 người cùng học nhưng chú được chính đức Đạt Lai Lạt Ma ân cần phó thác cho vị Viện trưởng Tulku Lati Rinpoche trực tiếp hướng dẫn.
Mọi người ân cần gọi chú là Kusho-la.
Hai năm sau, Kusho được đưa lên Dharamsala, miền cực Bắc Ấn Độ, vào học viện Lý luận Phật giáo, Institute of Buddhist Dialectics.
Có 300 sinh viên, học viện này nằm gần thị trấn McLeod Ganj của Ấn.
Thị trấn được gọi là "Little Lhasa", trụ sở của Chính quyền Lưu vong Tây Tạng, và học viện IBD là nơi đức Đạt Lai Lạt Ma thường giảng pháp.
Trong học viện, tiểu Sa di Kusho là người trẻ nhất và được chú ý vì khả năng lãnh hội lẫn tranh luận.
Chú còn được khen là từ tốn khiêm nhường và thường trầm lặng trước mối quan tâm của truyền thông báo chí.
Nhiều người đã luận rằng Kusho có thiện nghiệp để trở thành sư, và có phúc duyên được hướng dẫn bởi những vị cao tăng để theo đuổi Phật học đến chỗ thâm sâu.
Ngày nay, Kusho đã thành một vị sư 21 tuổi, và Xuân này sẽ thọ giới Tỳ kheo với chính đức Đạt Lai Lạt Ma, thành Shakya Bikshu Tenzin Drodon.
Trong khi ấy, gia đình ở nhà cũng thay đổi.
Càng luống tuổi, ông ngoại của Kusho càng thấy ra hai lẽ.
Phần mình, thì đời người quả là hữu hạn.
Phần cháu ngoại Donald, thì việc cháu trở thành sư là một điều lành.
Đầu năm 2007, ông cụ lâm trọng bệnh và từ Ấn Độ, Kusho trở về thăm ông, có thể là lần cuối.
Hai ông cháu gặp nhau trong một cảnh ngộ cảm động.
Được hỏi về chuyến thăm viếng, nhà sư trẻ giải thích là vì muốn cầu nguyện cho tâm của ông ngoại được thảnh thơi, vững mạnh, và buông xả hết mọi ưu phiền.
Kusho không tin là mình có "thần lực" hay khả năng hộ niệm để ông "siêu sinh tịnh độ" như ta thường nói.
Cháu chỉ muốn gặp ông, hàn huyên để ông vui với tuổi già, có cái nhìn lạc quan tích cực về mọi chuyện.
Riêng mình, thì đứa cháu rất cảm động nghe ông nói, rằng mình mừng cho cháu đã đi tìm hạnh phúc trong sự tu tập, vì hạnh phúc thật là khi mưu cầu cho hạnh phúc của người khác.
Hai ông cháu đã hoàn toàn cảm thông và cùng nhìn vào một hướng.
Nói đến chuyện "thần lực" hay "hóa thân", đề tài kỳ diệu khi ta nghĩ đến Phật giáo Tây Tạng, Kusho cười hiền hoà và giải thích bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh: Không, chú không là hoá thân hay đang tu tập để có thần lực thi hành được những việc siêu nhiên.
Việc tu tập để tìm thần lực hay khả năng siêu nhiên là điều sai.
Nhưng, khi tu tập, Kusho thấy hay nghĩ "mình là ai?" Là một chú bé Việt Nam , một thiếu niên Mỹ hay một Sa di Tây Tạng - Là tất cả!
Ban đầu, khi ở trong Tu viện Gaden thì còn mơ hồ vì có lúc thấy mình là một thiếu niên Mỹ, một đứa trẻ Việt Nam , và nhất là khác lạ với chúng bạn người Tây Tạng chung quanh.
Thế rồi một cách tiệm tiến và nhẹ nhàng tự nhiên, chú thấy mình tách rời với tất cả những "hành trang" ấy của quá khứ mà cảm nhận ra một sự thể gì bao nhiếp tất cả. Một sự an nhiên kỳ lạ khiến mình thấy thư thái và tự do hơn.
Cảm giác gọi là "giải thoát" ấy xuất phát từ sự tu tập hay từ ý chí của mình?
- Có lẽ, phép tu tập giúp cho ý chí ấy thành vững mạnh hơn và quan trọng nhất, giúp cho mình thấy được cách suy nghĩ tích cực và nuôi dưỡng nghị lực tích cực.
Kusho suy nghĩ rồi nói bằng tiếng Anh: "Positive Energy"
Nhưng, trong tu viện Gaden hay trong học viện ở Dharamsala, Sa môn Kusho có biết hay được biết gì về thế giới bên ngoài không, về "đời sống thật" không?
Ban đầu, trong tu viện thì chỉ học về kinh điển và phép luận giải, chứ qua học viện tại Dharamsala thì các học viên đều có thể xem truyền hình và đọc báo để biết về những gì đang xảy ra trên thế giới.
Chính đức Đạt Lai Lạt Ma đã muốn các học viên chứng đắc Phật pháp bằng cách hiểu được cộng đồng và thế giới.
Ngoài ra, giáo trình của học viện chẳng khác gì nhiều nếu so với một Đại học tân tiến, học viên được giáo dục để biết về thế giới cũng như Phật pháp.
Sau khi hoàn tất khóa học rất dài tại Dharamsala, Kusho sẽ trở lại tu viện Gaden và lúc ấy mới lại sống như một vị tăng trong chùa.
Nhưng, khi biết rằng thế giới này "khổ" - vì nạn đói ở Phi châu hay khủng bố tại Trung Đông chẳng hạn - học viên nghĩ sao? Và muốn làm gì để giải trừ cái khổ ấy?
Nhà sư trẻ suy nghĩ giây lát mới giải thích. Trước hết, những tin tức ấy có giá trị "khích lệ", là yếu tố càng thúc đẩy học viên phải tu tập để góp phần giải trừ cái khổ.
Nhưng, nhìn từ các tu viện, cái khổ ấy có là một ý niệm trừu tượng xa vời của "chúng sinh" hay của người khác không?
Thí dụ như một bác sĩ vẫn có thể chữa chạy cho bệnh nhân sau khi học về những triệu chứng hay hậu quả của bệnh.
Một nhà xã hội cũng có thể học về khủng hoảng để góp phần giải quyết dù mình chẳng là nạn nhân...
Liệu cảm nhận về cái khổ này có là một khái niệm tách bạch xa vời vì không trực tiếp liên hệ đến mình ở trong chùa hay trong học viện?
Kusho tìm chữ diễn tả, cả Việt lẫn Anh, rằng sự hiểu biết về cái khổ ấy tác động rất mạnh vào tâm trí, nhưng theo hướng khác.
Ý thức về những vấn đề ấy khiến mình càng thêm tin tưởng vào Phật pháp và càng thôi thúc mình làm một cái gì đó để cứu giúp người khác.
Đây cũng là bước cần thiết để chứng nghiệm đức tin của mình.
Nếu tu học để thành sư mà không nghĩ đến việc giúp đỡ người khác thì là một sự lãng phí!
Phật giáo Tây Tạng rất chú ý đến việc tu dưỡng Bồ đề tâm, đến Bồ tát hạnh và coi việc giúp đỡ người khác là một bổn phận trọng yếu, một phần không thể tách rời trong đức từ bi của người Phật tử.
Nói đến người khác, Kusho có nghĩ đến người Việt và Phật giáo Việt Nam không?
Vị Sa môn trẻ này cám ơn mẹ cha là những Phật tử đã khuyến khích và giúp đỡ mình trên con đường học đạo.
Chính là tấm lòng yêu thương của bà mẹ đã khiến chú cố gắng tu tập để có thể làm tròn bổn phận với Việt Nam .
Vì vậy, sau giai đoạn tu chứng, nhà sư trẻ còn phải đi một bước rất xa là học hỏi thêm về Việt Nam và Phật giáo Việt Nam .
Phật giáo Tây Tạng theo Kim cang thừa (Varayana) của Đại thừa Mahayana, nhưng cũng áp dụng phép tu có đặc tính Mật tông và cả Bồ tát hạnh trong những giáo lý nền tảng của Phật giáo Nguyên thủy Theravada.
Vì vậy, trong giáo trình đào tạo và tu học, các học viên đều phải thấm nhuần những lý giải Tiểu thừa hay Nguyên thủy.
Sau này, Kusho sẽ học thêm về những đặc tính đa diện của Phật giáo Việt Nam và phải thông thạo tiếng Việt để tiếp xúc với Phật tử người Việt.
Một con đường rất dài... Khi viết, Kusho sử dụng cả hai tay, trái và phải, để viết chữ Tây Tạng hay tiếng Anh. Khi học, có lẽ cũng phải nhớ đến tương lai là tìm đến Phật giáo Việt Nam . Vả lại, chính đức Đạt Lai Lạt Ma đã căn giặn như vậy.
Hôm đó, sau khi được Ngài truyền giới, vị tiểu sa môn được đức Đạt Lai Lạt Ma gọi riêng ra chụp chung tấm hình.
"Con giữ tấm hình này cho quê hương con. Cho nước Việt Nam ".
Kusho treo tấm hình trong trai phòng tại học viện, như một nhắc nhở hàng ngày.
Việc nhà sư Tenzin Drodon này sẽ chứng đắc học vị Geshe có thể chỉ là thời gian vì tâm nguyện như vậy.
Nhưng, việc một người có tâm hồn và giáo dục Việt Nam được tu học thành nhà sư Tây Tạng mới là một hạnh ngộ hiếm hoi.
Lời khuyên của Tulku Lati Rinpoche là Kusho hãy cố gắng tinh tấn tu học để trở thành một sa môn đầy đủ Bồ tát hạnh là Bi, Trí, Dũng để hoằng pháp lợi sanh cho nhân thế.
Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rõ hơn trong từng buổi gặp gỡ: "Đừng quên Việt Nam . Lòng từ bi và trí tuệ của con sẽ giúp ích rất nhiều cho quê hương con."
Pháp danh Drodon quý hiếm này, có lẽ Ngài chọn cho Kusho để hướng tới trách nhiệm với Việt Nam .
Sông Mekong xuất phát từ vùng đất Kham đã tái sinh của hai vị cao tăng Tây Tạng là Gehse La và Tulku Rinpoche. Nơi con sông này đổ ra biển chính là Việt Nam .
Phải chăng, đức Đạt Lai Lạt Ma đã thấy vạn sự từ đầu nguồn tiền kiếp, mà chưa đến lúc nói ra?

Gởi Con Yêu Dấu / To Our Dear Child!


Phỏng dịch bài thơ “To Our Dear Child” của một tác giả vô danh.

HUY PHƯƠNG



Nếu một mai thấy cha già mẹ yếu
Hãy thương yêu và thấu hiểu song thân.

Những lúc ăn mẹ hay thường vung vãi

Hay tự cha không mặc được áo quần.
Hãy nhẫn nại nhớ lại thời thơ ấu
Mẹ đã chăm lo tã, áo, bế bồng.

Bón cho con từng miếng ăn, hớp sữa

Cho con nằm trong nệm ấm chăn bông.
Cũng có lúc con thường hay trách móc
Chuyện nhỏ thôi mà mẹ nói trăm lần.

Xưa kia bên nôi, giờ con sắp ngủ

Chuyện thần tiên mẹ kể mãi không ngưng.
Có những lúc cha già không muốn tắm
Đừng giận cha và la mắng nặng lời.

Ngày còn nhỏ con vẫn thường sợ nước

Từng van xin “đừng bắt tắm, mẹ ơi!”
Những lúc cha không quen xài máy móc,
Chỉ cho cha những hướng dẫn ban đầu.

Cha đã dạy cho con trăm nghìn thứ

Có khi nào cha trách móc con đâu?
Một ngày nọ khi mẹ cha lú lẫn
Khiến cho con mất hứng thú chuyện trò

Nếu không phải là niềm vui đối thoại

Xin đến gần và hãy lắng nghe cha.

Có những lúc mẹ không buồn cầm đũa
Đừng ép thêm, già có lúc biếng ăn

Con cần biết lúc nào cha thấy đói

Lúc nào cha thấy mệt, muốn đi nằm.
Khi già yếu phải nương nhờ gậy chống
Xin nhờ con đỡ cha lấy một tay

Hãy nhớ lại ngày con đi chập chững

Mẹ dìu con đi những bước đầu ngày.
Một ngày kia cha mẹ già chán sống
Thì con ơi đừng giận dữ làm gì!

Rồi mai này đến phiên, con sẽ hiểu

Ở tuổi này, sống nữa để làm chi?
Dù mẹ cha cũng có khi lầm lỗi
Nhưng suốt đời đã làm tốt cho con

Muốn cho con được nên người xứng đáng

Thì giờ đây con cũng chẳng nên buồn.
Con tức giận có khi còn xấu hổ
Vì mẹ cha giờ ăn đậu ở nhờ.

Xin hãy hiểu và mong con nhớ lại

Những ngày xưa khi con tuổi ấu thơ.
Hãy giúp mẹ những bước dài mệt mỏi
Để người vui đi hết chặng đường đời.

Với tình yêu, và cuộc đời phẩm giá

Vẫn yêu con như biển rộng sông dài.
Luôn có con, trong cuộc đời
Yêu con cha có mấy lời cho con.
Bố Mẹ của con
To Our Dear Child!  
On the day when you see us old, weak, and weary,
Have patience and try to understand us.

If we get dirty when eating,

If we can not dress on our own,

Please bear with us and remember the times,

We spent feeding you and dressing you up.

If, when we speak to you,

We repeat the same things over and over again,

Do not interrupt us. Listen to us.

When you were small,

We had to read to you the same story

A thousand and one times until you went to sleep.

When we do not want to have a shower,

Neither shame nor scold us.

Remember when we had to chase you

With your thousand excuses to get you to the shower?

When you see our ignorance of new technologies,

Help us navigate our way through those world wide webs.

We taught you how to do so many things,

To eat the right foods, to dress appropriately,

To fight for your rights.

When at some moment we lose the memory

Or the thread of our conversation,

Let us have the necessary time to remember.

And if we can not, do not become nervous,

As the most important thing is not our conversation,

But surely to be with you and to have you listening to us.

If ever we do not feel like eating, do not force us.

We know well when we need to and when not to eat.

When our tired legs give way

And do not allow us to walk without a cane,

Lend us your hand. The same way we did

When you tired your first faltering steps.

And when someday we say to you,

That we do not want to live any more, that we want to die,

Do not get angry. Some day you will understand.

Try to understand that our age is not just lived but survived.

Some day you will realize that, despite our mistakes,

We always wanted the best for you

And we tried to prepare the way for you.

You must not feel sad, angry nor ashamed

For having us near you.

Instead, try to understand us and help us

Like we did when you were young.

Help us to walk.

Help us to live the rest of our life with love and dignity.

We will pay you with a smile and by the immense love

We have always had for you in our hearts.

We love you, child.

Mom and Dad