Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Hồi ký: Tôi Tìm Tự Do (Kỳ 22)





Hu Nguyên SàiGon-Times Úc Châu
 LI NG: Tôi là Nguyn Hu Chí, sinh ra và ln lên Min Bc, tng có hơn mt năm phi đi nón ci, đi dép râu, theo đi quân Vit Cng xâm lăng Min Nam. Trong nhng năm trước đây, khi cuc đu tranh bo v chính nghĩa ca cng đng người Vit t nn cng sn ti Úc còn minh bch, ln ranh quc cng còn rõ ràng, tôi hoàn toàn tin tưởng và sn sàng đi phó vi mi âm mưu, thế lc ca cng sn. Nhưng gn đây, có nhng du hiu rõ ràng chng t, nhng thế lc chìm ni ca cng sn ti Úc đang tìm cách xóa b ln ranh quc cng, đng thi thc hin âm mưu làm suy yếu sc mnh đu tranh ca người Vit hi ngoi. Trong hoàn cnh đu tranh ngày càng khó khăn đó, tôi thy mình ch có th đi tiếp con đường mình đã chn khi được quý đc gi hiu và tin tưởng. Vì vy, tôi viết hi ký này, k li mt cách trung thc cuc đi đy đau kh, ut c và ân hn ca tôi khi sng trong chế đ cng sn, cũng như nhng nguy him, may mn khi tôi tìm t do.... Trong hoàn cnh vô cùng khó khăn trên nhiu phương din, li phi va duy trì t báo, va tham gia các sinh hot cng đng, va tìm cách "mưu sinh, thoát him" gia hàng chc "ln tên đường đn", nên hi ký này có rt nhiu thiếu sót. Kính mong quý đc gi thông cm b qua, hoc đóng góp nếu có th.

Sau khi nhn li Đi uý Hiu, sut thi gian kế tiếp nhiu năm tri, tôi đã liên tc viết bài và trc tiếp đc nhng bài viết đó trong nhng chương trình phát thanh hướng v Min Bc. Tôi nói rõ h và tên tht ca tôi, quê quán ca tôi, nhng k nim kinh hoàng tôi đã tri qua trên đường xâm lăng Min Nam, nhng s thc tôi đã chng kiến, nhng lun điu tuyên truyn ca cng sn đã bp bm như thế nào. Tôi cũng mô t tt c nhng nim xúc đng ca tôi khi được chng kiến cuc sng t do, sung túc ca người dân Min Nam....
 Tôi không biết nhng bài viết ca tôi kết qu như thế nào, nhưng tôi biết chc mt điu, nhng chương trình phát thanh đó đã đến tai nhiu người trên đt Bc. Có hai bng chng rõ ràng đ tôi nói như vy. Bng chng th nht là vào tháng 5 năm 1975, khi tr li Min Bc, tôi đã nghe bn bè k v nhng chương trình phát thanh có bài viết ca tôi. Bng chng th hai, sau 30-4-1975, trong mt lp hc "ci to" ti Vũng Tàu, chính cán b cng sn đã đích danh mang tên ca tôi, Nguyn Hu Chí, cùng quê quán ca tôi, ra nguyn ra. Trong s nhng người phi ngi hc tp "ci to" hôm đó, có người cháu rut gi tôi bng cu, trước Vũng Tàu, và hin đang sng Úc. Lúc đó, tôi đã b cng sn bt vô tù, đến khi tôi vượt ngc được thì c gia đình người ch cùng vi người cháu đã vượt biên thành công và đnh cư Úc. Câu chuyn này mãi đến khi tôi vượt biên sang Úc, gp li người cháu, mi được nghe k.
 Trong nhng ngày tháng Trung Tâm Chiêu Hi Th Nghè, qua mt s người bn, tôi được biết, bên B Chiêu Hi cn tuyn dng nhng người v chiêu hi làm thuyết trình viên. Mc đích là đ chính nhng người chiêu hi tng là b đi Min Bc, hoc là nhng người vô bưng theo "Mt Trn Gii Phóng", k li nhng s thc mt thy tai nghe bên phía cng sn. Qua đó, quân dân cán chính ca Min Nam hiu rõ k thù cng sn như thế nào, và biết rõ cuc chiến đu ca người dân Min Nam nhm chng cng sn xâm lăng, có hào quang chính nghĩa ra sao.
 Biết được tin này, lp tc tôi np đơn xin làm thuyết trình viên. Vì ông anh r tôi lúc đó làm cnh sát, phòng căn cước, tng thường xuyên ra vô Trung Tâm Chiêu Hi ch tôi v nhà Võ Di Nguy Phú Nhun, nên ông thường khuyên tôi c gng thi vô thuyết trình viên. Theo yêu cu ca ban tuyn dng thuyết trình viên lúc by gi, mi ng viên phi thuyết trình mt đ tài, trước mt ban giám kho. Tôi nh ngày y tôi chn đ tài "Nhân Văn Giai Phm trên đt Bc". Trong s nhng v giám kho ngi nghe tôi thuyết trình hôm đó có ông Võ Đi Tôn, mt người đàn ông tôi thy có phong đ hào hoa như mt tài t xi nê. Thi đim đó, tôi không ng, trong cuc đi trôi dt ca tôi sut my chc năm v sau, li có nhiu duyên hnh ng vi ông Võ Đi Tôn. Và tôi có th nói, k t khi đt chân lên Min Nam t do, trong s nhng người đ li trong tôi nhiu k nim, nhiu nh hưởng, trên nhiu phương din, ông Võ Đi Tôn là người đu tiên tôi được tiếp xúc, được hc hi, và cho đến nay, ông vn có nhng nh hưởng to ln và âm thm đi vi đi sng tinh thn và lý tưởng ca tôi.

Hôm đó, tôi nh là tôi trình by trong khong na tiếng đng h, và sau đó, tôi được chm đu. Tôi đinh ninh vi ngh thuyết trình viên, tôi s được đi đây đó trên 4 vùng chiến thut. Nhưng không ng, trong bui l mãn khóa chiêu hi, tôi được yêu cu đc mt bài cm tưởng trước mt quan khách, trong đó có ông Trn Trường Khanh, Trưởng phòng Thông tin Quc ni thuc Nha Công Tác. Khi nghe tôi đc, thy tôi có ging Bc đc, nên ông Trn Trường Khanh xin cho tôi chuyn sang Phòng Thông Tin Quc Ni đ làm xướng ngôn viên.
 Tuy thích làm ngh thuyết trình, nhng phn tôi rt kính trng ông Trn Trường Khanh, phn thy điu kin làm xướng ngôn viên quá thoi mái, nên tôi ưng thun. Ông Khanh cho tôi biết, mi tun tôi ch cn đến Đài Phát Thanh Sàigòn 2 ln và Đài Quân Đi 2 ln đ thu âm, mt ln 4 chương trình và mt ln 3 chương trình. Mi chương trình khong 1 tiếng, nhưng phn vic ca xướng ngôn viên ch khong 10 đến 15 phút. Còn li là ca nhc, kch, truyn truyn thanh... Ngoài ra, tôi cũng phi đến Đài Truyn Hình VN mt, hay hai ln (tôi không nh rõ) đ thu chương trình cho B Chiêu Hi. Sau này, Nha Công Tác chuyn v 172 Hin Vương, mi tháng, vào Th Hai đu tháng, tôi phi ghé li đ chào c.
 Thi gian đó, tôi còn quá tr nên sng rt ngây ngô, không có mt đnh hướng gì rõ ràng cho cuc đi. Mc dù gi làm vic có không đy 10 tiếng đng h trong sut mt tun l, nhưng phn ln thi gian còn li ca tôi đu dành đ "ngn" sách. Hu hết ti các thư vin ca B Thông Tin đường Phan Đình Phùng, Thư vin ca các đài phát thanh, Thư vin Quc gia, ri nhà sách Khai Trí, các tim sách cho thuê... tôi đu tìm cách làm quen đ được mượn sách hay coi cp.
 Cũng vì sng ngây ngô và đam mê đc sách như vy, ri mt phn cũng do làm xướng ngôn viên quá thoi mái, không có đòi hi gì nhiu, li không có điu kin tiếp xúc, gp g vi nhân viên ca B, nên tuy làm vic B Chiêu Hi, tôi hiu biết rt ít v cơ cu t chc và các hot đng ca B. Vì vy, khi viết đến B Chiêu Hi, nơi tôi làm vic gn 3 năm tri tính đến ngày 30-4-1975,  tôi đã email cho ông Võ Đi Tôn, đ nh ông giúp đ. Sau đây là nhng ý kiến đóng góp quý báu ca ông Võ Đi Tôn, tôi xin được đăng nguyên văn đ quý đc gi thy rõ s sáng sut và lòng nhân đo ca chính ph VNCH, cùng s thành công đc bit ca B Chiêu Hi, trong cuc chiến tranh Vit Nam.
 Tng Thng Ngô Đình Dim ban hành quyết đnh thành lp Chương Trình Chiêu Hi vào ngày 17 tháng 4 năm 1963, theo đ ngh ca Cơ Quan Nghiên Cu Vit M và Vin Tr M (USOM). Ý kiến tiên khi do Sir Robert Thompson, chuyên viên Tâm Lý Chiến ca cơ quan Anh quc vin tr cho VNCH đ xướng. Chương trình được phát trin mnh, đt kết qu tt, và được nâng cp thành mt B trong chính ph Vit Nam Cng Hòa t năm 1968. Ngân sách dùng cho B Chiêu Hi do ngân sách Vin Tr M đài th

  - B Chiêu Hi phi hp hot đng vi B Tng Tham Mưu QLVNCH, B Quc Phòng, các Quân Binh Chng, B Thông Tin, Cơ Quan Thông Tin M (JUSPAO), Cơ Quan Vin Tr M (USOM), C Vn M,  Tng Cc Chíến Tranh Chính Tr QLVNCH, Cc Trung Ương Tình Báo, Cc An Ninh Quân Đi, Tng Nha Cnh Sát Quc Gia, S Công Tác thuc Nha K Thut B Tng Tham Mưu, Chiến Dch Phượng Hoàng, các Đài Phát Thanh/Truyn Hình Quân Đi và Quc Gia, Đài Gươm Thiêng Ái Quc, Đài M Vit Nam, Báo Chí......
 - Bn nhc “Tung Cánh Chim Tìm V T m...” được dùng làm nhc hiu cho các Chương Trình Chiêu Hi.
 - Nhiu loi Truyn Đơn đã được thc hin đ ri xung các vùng VC, k luôn c loi Giy Thông Hành, có in quc kỳ VNCH và quc kỳ Đng Minh. Có c loi Truyn Đơn kêu gi giao np vũ khí có thưởng tin mt khi cán binh VC ra hi chánh, mang theo vũ khí. Ngay c quân đi Úc Đi Li tham chiến ti VN cũng có mt mu truyn đơn riêng dùng trong các chiến dch Tâm Lý Chiến đ kêu gi Hi Chánh trong các cuc hành quân (Xuân Đoàn T)...
 - Tính theo Tng Chi Phí Chiến Tranh VN, thì tng chi phí đ kêu gi mt cán binh VC ra hi chánh là: 14 m kim vào năm 1963, 250 m kim năm 1967, 350 m kim năm 1969 và 500 m kim năm 1970. Tính trung bình là chi phí 125 m kim cho chương trình kêu gi mt cán binh VC ra hi chánh trong chiến tranh VN, so vi hàng trăm ngàn m kim đ tiêu dit mt cán binh VC trong các cuc hành quân.
 - Tính cho đến tháng Tư năm 1975, đã có gn 200,000 cán binh VC (k c Mt Trn Gii Phóng Min Nam và quân chính quy Bc Vit) ra hi chánh, trong s này có 15,000 là b đi min Bc. Tng Nha Bưu Đin, phi hp vi B Chiêu Hi phát hành tem thư k nim 200,000 hi chánh viên quay v vi phía Quc Gia, vào năm 1974.
 - Trong tng s hi chánh viên này, đã có mt s đông tham d vào các cuc hành quân vi quân đi Dng Minh và QLVNCH, có hơn 700 hi chánh viên được tuyn m đc bit đ thành lp nhng trung đi tác chiên phi hp vi quân đi Đng Minh, gi là các Toán Vũ Trang Tin Đo “Kit Carson”, chuyên v Tình Báo, ch đim mc tiêu quân s, đc bit là các mc tiêu ti min Bc và đường mòn H Chí Minh, kết qu rt cao v mt quân s, tình báo.
 - Ngoài Trung Tâm Chiêu Hi Trung Ương ti Th Nghè, Gia Đnh, còn có tng côïng 47  trung tâm tnh. Bên cnh các trung tâm Chiêu Hi ln như ti Đà Nng, Pleiku, Biên Hòa, Cn Thơ.... còn có các Làng Hi Chánh ti các tnh ln min Nam và min Trung.
 B CHIÊU HI: B Chiêu Hi đt ti đường Lê Thánh Tôn, Saigon, trước mt B Tư Lnh Thy Quân Lc Chiến QLVNCH. Nha Công Tác, B Chiêu Hi, có cơ s riêng đt bên cnh B Chiêu Hi.  B Chiêu Hi gm có: 1) - Nha Qun Tr (hành chánh và ngân sách). 2) - Nha An Ninh Tình Báo. 3) - Nha Công Tác. 4) Các Trung Tâm Hi Chánh Trung Ương và Tnh.
 NHA CÔNG TÁC B CHIÊU HI: Nha Công Tác, B Chiêu Hi, có th coi là Nha ln nht thuc B Chiêu Hi, gm có các S- Phòng: - S Hun Chính - S Tuyên Vn - S Hun Ngh - Các Bit Đoàn Vũ Trang Tuyên Truyn - Các Đoàn Chuyên Viên Hun Chính (Thuyết Trình Viên) - Các Chương Trình Phát Thanh và Truyn Hình Chiêu Hi - Bit Đoàn Văn Ngh Trung Ương Chiêu Hi - Qun Tr mi công tác Chiêu Hi trong các Ty và Chi Chiêu Hi toàn quc - Các Làng Hi Chánh - Phi Hp Tình Báo - Quân S - Hun Luyn Vũ Trang / Hành Quân - vi các B/Cc QLVNCH và Đng Minh, Cơ Quan Quân S Hoa Kỳ, Vin Tr M và Phòng Thông Tin Hoa Kỳ (JUSPAO).
 Các v Giám Đc Nha Công Tác B Chiêu Hi đu được bit phái t B Tng Tham Mưu QLVNCH qua đm nhim chc v, đa s đu là Sĩ Quan Cp Tá, thuc ngành Tình Báo, Quân Báo. Vì l, ngoài các công tác chuyên môn v mt Tuyên Vn công khai (n loát các loi truyn đơn, báo chí như nguyt san QUÊ M), các chiến dch tuyên vn, các chương trình văn ngh, truyn hình, phát thanh (hàng tun trên Đài Truyn Hình Quc Gia và trên Đài Phát Thanh Saigon), các chương trình hi nhp Đi Sng Mi, tuyn dng ngh nghip..., còn có các công tác Mt v quân s và Tình Báo, xâm nhp các vùng mt khu Vit Cng, phi hp hành quân, đch vn.
 Vào năm 1972, Trung Tá Võ Đi Tôn bit phái t Quân Đi sang B Chiêu Hi và được c đm nhim Giám Đc Nha Công Tác, thay thế Đi Tá Phm Đăng Tn (Đi Tá Phm Đăng Tn hin nay Virginia, đang bnh nng). Cui năm 1972, Trung Tá Võ Đi Tôn, Giám Đc Nha Công Tác, hướng dn phái đoàn Hi Chánh Viên (10 người) sang công du Thái Lan trong 2 tun l đ thuyết trình v Thành Qu Chương Trình Chiêu Hi do Chính Ph Thái Lan mi.
 Trong Nha Công Tác, B Chiêu Hi, mt s đông các Hi Chánh Viên cao cp đã được tuyn dng gi nhng chc v quan trng, trong đó có cu Trung Tá B Đi Bc Vit là Lê Xuân Chuyên (b CS t hình vào ngàyu 30.4.1975), nhà văn Xuân Vũ (tác gi hi ký Đường Đi Không Đến - Vượt Trường Sơn - đã qua đi ti Texas năm 2002), các ca sĩ Đoàn Chính, Bùi Thin, và Bùi Công Tương làm Chánh S Tuyên Vn. (Còn tiếp...)

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

Ngược đãi sau 30/4 là bi kịch lịch sử


Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-04-22     
        
  04222015-discri-after-fall-saigon.mp3 Phần âm thanh Tải xuống âm thanh  
Hình ảnh người thương phế binh VNCH không được hưởng bất cứ quyền lợi gì. Cụ ăn mày Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Bùi Văn Thiệt, SQ 67/101890 TĐ3/TrĐ7/SD5BB KBC 4.737
Hình ảnh người thương phế binh VNCH không được hưởng bất cứ quyền lợi gì. Cụ ăn mày Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa Bùi Văn Thiệt, SQ 67/101890 TĐ3/TrĐ7/SD5BB KBC 4.737
RFA files photos            
   
Đánh dấu 40 năm chiến tranh Việt Nam kết thúc, một vấn đề lại được đem ra mổ xẻ, đó là có hay không câu chuyện phân biệt đối xử ngược đãi quân dân cán chính VNCH sau khi miền Bắc thống nhất đất nước và đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Công dân hạng hai trên đất nước mình
Sau khi chiến tranh Quốc-Cộng kết thúc vào ngày 30/4/1975, quân dân cán chính của chế độ VNCH chịu nhiều thống khổ và bị phân biệt đối xử. Tình trạng này chỉ được cải thiện vào cuối thập niên 1980 khi Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tiến hành đổi mới.
Theo nhà báo Lê Phú Khải, nguyên thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) tại Đồng bằng sông Cửu Long thì dùng các từ “ngược đãi” “phân biệt đối xử” là chưa chuẩn xác, vì thực tế nó ghê gớm và kinh khủng hơn thế rất nhiều. Từ Saigon ông Lê Phú Khải nhận định:
“ Đây là một đường lối sai lầm làm cho nhiều người khốn khổ, thậm chí có những người phải sống dở chết dở thì đây là bi kịch chứ không phải là ngược đãi, nó là bi kịch của cả một đất nước.”
Trong khoảng một thập niên kể từ ngày 30/4/1975,  nếu nói quân dân cán chính VNCH và gia đình của họ trở thành công dân hạng hai ngay trên đất nước mình thì cũng có nhiều phần đúng. Bởi vì chính sách của Đảng Cộng sản đã thay đổi tận gốc nền tảng xã hội ở Nam Việt Nam, quyền tư hữu đất đai không còn, các đợt cải tạo công thương nghiệp tư doanh đã quốc hữu hóa đồng loạt khối doanh nghiệp tư nhân dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ. Ngoài ra rất nhiều tài sản và nhà ở của sĩ quan cao cấp, viên chức VNCH bị tịch thu với những lý do mơ hồ như có nợ máu với nhân dân, hoặc bị chụp mũ là tư sản.
Đây là một đường lối sai lầm làm cho nhiều người khốn khổ, thậm chí có những người phải sống dở chết dở thì đây là bi kịch chứ không phải là ngược đãi, nó là bi kịch của cả một đất nước
nhà báo Lê Phú Khải
Những sai lầm chết người
Ông lê Phú Khải nhận thức từ hiểu biết qua công tác nhà báo của mình, ngay trong những năm đầu khi Miền Nam khởi sự được nếm mùi xã hội chủ nghĩa. Ông nói:
“ Ngoài Hà Nội tôi đã chứng kiến rồi, chứ trong Nam đương nhiên là như thế, người ta nóng vội đi lên chủ nghĩa xã hội không tưởng, cái chủ nghĩa xã hội mà ông Nguyễn Phú Trọng nói là đến cuối thế kỷ này chưa chắc đã hình thành đấy. Người ta muốn đi lên thì người ta phải cải tạo, đó là một sai lầm chết người cho nên bao nhiêu là chủ xưởng, chủ nhà máy là những người lao động giỏi, của cải của họ bị tich thu hết, công tư hợp doanh hết, đi vào làm ăn đưa cho những người không biết quản lý lên quản lý thì nó đã làm tan nát hết nền kinh tế từ năm 1975-1976 cho tới đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986, sau đó là đổ mới thì mới bắt đầu có khá lên được.”
 
Nhà báo Lê Phú Khải qua thời gian làm phóng viên, rồi thường trú Đài Tiếng nói VOV ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhớ lại một thời kỳ đảo điên ở miền Nam Việt Nam sau khi đất nước thống nhất. Ông nói:
“ Tôi chứng kiến nhiều lắm, ví dụ một ông chủ tiệm giày bị đuổi đi khai hoang ở Tây Ninh, nhưng khi ông thấy “đổi mới” cán bộ bắt đầu đi giày rồi, bắt đầu nhảy đầm rồi thì ông ấy kéo cả gia đình về; bây giờ ông lại có tiệm giày. Hay là ông chủ ô tô chẳng hạn, ông ấy bảo tôi có chiếc xe chở khách họ biến thành công tư hợp doanh, tôi biết công tư hợp doanh sau này dứt khoát sẽ phải trả lại tôi. Vì sao, ông ấy bảo họ đến lấy cái ô tô nhưng phụ tùng chả ông nào lấy, tôi để phụ tùng dưới gầm giường. Tôi biết mấy ông này ở nhà quê ra chẳng biết gì về ô tô, ô tô cũ phải có phụ tùng để sửa chữa. Y rằng sau này phải trả lại ô tô cho chủ cũ. Như vậy nói là ngược đãi là chưa đúng phải nói là đường lối sai lầm dẫn đến những bi kịch, những thảm họa của đất nước.”
Mặc dù hệ thống tuyên truyền của Nhà nước Việt Nam cố gắng viết lại lịch sử theo quan điểm chính trị chứ không phải những sự thật đã xảy ra, nhưng sự kiện hơn 100.000 sĩ quan và viên chức VNCH bị đưa vào các trại tù khổ sai được gọi một cách mỹ miều là tập trung cải tạo thì không thể nào chối cãi và nói khác đi được. Tất cả những quân cán chính VNCH bị đi cải tạo tập trung sau 30/4/1975 nói chung đều đã bị giam cầm cả chục năm, người ít nhất thì cũng từ 3 năm tới 5 năm.
Ông Nguyễn Ngọc Tiên, cựu Trung úy Quân lực VNCH từng bị tù cải tạo 6 năm và sau khi được thả lại bị thêm 2 năm tù về tội phản động phát biểu từ San Jose Bắc California Hoa Kỳ:
Người ta muốn đi lên thì người ta phải cải tạo, đó là một sai lầm chết người cho nên bao nhiêu là chủ xưởng, chủ nhà máy là những người lao động giỏi, của cải của họ bị tich thu hết, công tư hợp doanh hết, đi vào làm ăn đưa cho những người không biết quản lý lên quản lý thì nó đã làm tan nát hết nền kinh tế từ năm 1975-1976
nhà báo Lê Phú Khải
“ Lịch sử của thế giới chưa bao giờ thấy một chính sách gọi là cải tạo nào mà giống như chính sách cải tạo của những người cộng sản từ ở bên Liên Xô, bên Tàu hay Việt Nam. Đó chỉ là những hình thức ngược đãi tù tội để mà hành hạ những người mà đi ngược lại với chủ trương của họ. Chúng tôi không thấy một hình thức nào gọi là muốn đào tạo cho người ta tốt hơn mà giống như hình thức của họ hết.”
Ông Đỗ Mạnh Trường cựu viên chức VNCH đã bị cải tạo tập trung 8 năm và hiện định cư ở  Wesminster Quận Cam California phát biểu:
“Tôi đã nghe rất nhiều câu chuyện, những người ở Miền Nam có gia đình họ ở Miền Bắc vào thăm thì họ cũng khuyên câu đầu tiên là các bác các chú ráng cải tạo cho tốt để được về với gia đình. Nhưng mà sau một thời gian thì những người này không dám nói điều đó nữa, đó là sự ngụy biện hoàn toàn, bởi vì nếu không có áp lực của thế giới thì chắc chắn là tất cả cựu quân nhân dưới danh nghĩa đi tù cải tạo sẽ chẳng còn được mấy người mà về. Xin nhấn mạnh rằng cho đến năm 1979 có một số người được chở vào Thanh Phong Thanh Hóa để biến thành trại viên thay vì phạm nhân theo danh nghĩa họ nói. Họ đã được trả lại đồng hồ được phép đi ra khỏi trại mà không phải có tụi nó dẫn theo thì họ lại được khuyến khích là trong một thời gian ngắn nữa các anh sẽ đưa vợ con các anh ra ngoài này. Thử  hỏi giả sử chính sách đó kéo dài thì thế hệ hay giai cấp có còn hay không hay tất cả con cái chúng ta đã trở thành người Thượng hết chỉ sau một thời gian rất ngắn.”
Trong khi người chủ gia đình theo lệnh Chính quyền đi học tập cải tạo, thực chất là đi tù thì vợ con họ ở nhà trở thành công dân hạng hai, không thể xin việc làm, con cái những người sĩ quan, viên chức VNCH đi cải tạo bị tước đoạt cơ hội vào đại học. Vì chính quyền phân loại các thí sinh thi vào đại học thành 4 nhóm và mỗi nhóm còn chia tới 14 thành phần. Con “ngụy” thời đó gọi là như thế, muốn vào đại học phải có điểm thi nhiều gấp đôi con cán bộ đảng viên mới có thể trúng tuyển, thí sinh đại học thời đó từng chế câu “học tài thi phận” thành “học tài thi lý lịch”. Một sự thật không thể chối cãi là sau khi đất nước thống nhất, đã chẳng có hòa hợp hòa giải gì, mà ngay trong giáo dục cũng đã phân biệt đối xử giữa con cán bộ và con “ngụy quân-ngụy quyền.”
Lịch sử của thế giới chưa bao giờ thấy một chính sách gọi là cải tạo nào mà giống như chính sách cải tạo của những người cộng sản từ ở bên Liên Xô, bên Tàu hay Việt Nam. Đó chỉ là những hình thức ngược đãi tù tội để mà hành hạ những người mà đi ngược lại với chủ trương của họ
Ông Nguyễn Ngọc Tiên
Nhà báo Lê Phú Khải nhận định:
“ Không chỉ ở miền Nam mà ở miền Bắc trước kia gia đình trí thức tiểu tư sản, địa chủ tư sản còn bị phân biệt đối xử nữa là sau này ‘giải phóng miền Nam thống nhất đất nước’. Cho nên việc thi vào đại học rồi đối xử không công bằng giữa các thành phần là chuyện hiển nhiên ai cũng thấy… Chuyện phân biệt đối xử lấy giai cấp công nông làm gốc rồi phân biệt đối xử với các giai cấp khác là sai lầm từ gốc rồi, cái này là có thật…mấy ông sử gia chẳng qua là bồi bút thôi, nói để vui lòng bè đảng để thăng quan tiến chức thôi. Chứ bản thân tôi là gia đình toàn cán bộ, thậm chí là cán bộ cao cấp của Đảng, nhưng khi ở Hà Nội ở xóm tôi mấy ông về hay đi xe máy, xe đạp do vậy xã nó phê cho là gia đình tư sản thế là 2 năm trời tôi không được vào đại học. Bản thân tôi đã chịu cái cảnh đó cho nên cái đó là có thật chứ không phải người ta bịa ra.”
Sau chiến thắng 30/4/1975, nếu không bỏ lỡ một thập niên u mê đem chính sách cải tạo năm 1954 ở miền Bắc vào áp dụng ở miền Nam, thì có lẽ Việt Nam đã tiến xa hơn nhiều và nếu đảng Cộng sản thực tâm muốn hòa hợp hòa giải thì đã không có làn sóng vượt biển tìm tự do kéo dài từ giữa năm 1975 đến 1990. Nhiều người đã tìm được bến bờ tự do nhưng hàng trăm ngàn người không may đã vùi thây đáy biển.
40 năm sau khi kết thúc cuộc chiến, ở đâu là nỗi vui mừng của người chiến thắng và ở đâu là tiếng thở dài u uất của người dân Việt.




Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015

Đi tìm "bà sơ" đã đổi đời cho tôi.

Julie Davis, hay Nguyễn Thị Thanh Trúc, và cậu con trai.
CREDIT COURTESY OF JULIE DAVIS

Vào những ngày cuối cùng trước khi Sài Gòn rơi vào tay người cộng sản, chính phủ Mỹ đã tổ chức những chuyến không vận đưa các trẻ em mồ côi ra khỏi Việt Nam. 

Các chuyến không vận trong Chiến Dịch Babylift (trong đó có một chuyến gặp tai nạn ngày 4 tháng 4 năm 75, làm chết 138 người, trong đó có 78 trẻ) đã đưa trên 3.300 trẻ đến các các nước phương Tây, đa số đã đến Mỹ.

Trang mạng của đài phát thanh KUOW, thành phố Seattle, tiểu bang Washington có mục để cho độc giả kể lại câu chuyện độc đáo của đời mình.

Hôm thứ Ba, mục này có bài nói về bà Julie Davis, một trong những trẻ  mồ côi thuộc Chiến Dịch Babylift, kể lại chuyến bà về thăm lại Việt Nam cách nay 10 năm.


Trẻ tại Trại mồ côi Ghềnh Ráng ờ Quy Nhơn trước khi có Chiến Dịch Babylift. Bà Julie Davis tin rằng bà là đứa trẻ đang nhìn vào ống kính.
COURTESY OF JULIE DAVIS

Khi chiếc Boeing 747 chở tôi và cả trăm bạn khác cất cánh khỏi Sài Gòn, tôi mới một tuổi. (Có thể là máy bay C-5 của Không quân Mỹ. ND) Chúng tôi được đưa đến Seattle, Houston, và Minneapolis.

30 năm sau, tôi trở lại tìm trại mồ côi, nơi mà mẹ tôi đã bỏ tôi lại sau khi tôi chào đời.

Trại nằm ở thành phố Quy Nhơn. Bề ngoài, trại này hầu như không thay đổi, nhưng bây giờ không nuôi trẻ mồ côi nữa. Tôi nghĩ thầm, thôi rồi, chuyến đi của tôi coi như chấm dứt.

Nhưng trên đoạn đường trở ra, chiếc xe tôi thuê đi chậm chạp trên mấy con đường lồi lõm. Người dẫn đường của tôi nhất định dừng lại ở vài căn nhà, xuống xe để hỏi trong xóm xem có ai biết chỗ ở của người nữ tu Công giáo tên là Sơ Emilienne không.

Sở dĩ tôi biết được Sơ Emilienne là nhờ nhận được các tài liệu mà cơ quan cho nhận con nuôi cung cấp. Nếu không có xơ, chẳng bao giờ tôi có dịp được không vận ra khỏi Sài Gòn. Có điều lạ lùng là trước khi về Việt Nam, tôi chẳng hề có ý tưởng tìm sơ. Tôi đoán hoặc là sơ đã qua đời, hoặc là đã rời Quy Nhơn từ nhiều năm trước.

Cuối cùng, chiếc xe tắp vào một con hẻm nhỏ và dừng lại trước một cánh cửa sắt lớn. Người hướng dẫn nói với tôi đây là nhà dòng mà sơ Emilienne đã từng tu.

Và chúng tôi đã gặp sơ.

Một phụ nữ dáng người nhỏ nhắn xuất hiện. Người hướng dẫn cho bà biết tên Việt Nam của tôi, Nguyễn Thị Thanh Trúc.

Vừa nghe đến tên này, bà biết ngay tôi la ai. Quá xúc động, bà ôm lấy tôi như thể con bà.
Julie Davis và Sơ Emilienne trong cuộc trung phùng năm 2003.
CREDIT COURTESY OF JULIE DAVIS

Bà luồn cánh tay bà vào cánh tay tôi, nhất định không buông. Những ký ức của năm 1975 trở về với bà như mới ngày hôm qua.

Sơ cho biết tôi đã được đưa thẳng từ nhà hộ sinh đến trại mồ côi, khi đó tôi vẫn còn dây rốn và mẹ tôi đã kiệt sức. Chính sơ đã cắt dây rốn cho tôi và lấy họ Nguyễn của sơ đặt họ cho tôi.

Sơ còn cho biết từ năm 1975 tới giờ, đã có bốn hoặc năm trẻ xuất thân từ Trại mồ côi Ghềnh Ráng trở về tìm sơ và từ nhiều năm qua, sơ thắc mắc tại sao tôi không về, sơ còn lo có lẽ tôi cũng chẳng bao giờ về.

“Sơ không hiểu chuyện gì đã xảy ra cho con, con bây giờ ra sao, có ổn không, có gia đình chưa?”

Sơ còn mong có ngày tôi trở về sống với sơ tại nhà dòng. Sơ sẽ tìm việc cho tôi. Sơ sẽ ấm lòng biết bao nếu tôi ở cùng sơ.

Sơ Emilienne có nhiều cảm xúc hơn tôi, có lẽ vì sơ có quá nhiều kỷ niệm để nhớ. Vào năm đó, sơ đã là một người lớn, và miền Nam đã trải qua một giai đoạn đau thương. Phải chia tay những trẻ mình đã nuôi và đã trải nghiệm những đau khổ vật chất và tinh thần của chiến tranh quả là thảm thương.

Trước ngày Sài Gòn thất thủ, sơ Emilienne quả thực có xin được di tản cùng với các đứa bé. Ngày sơ chia tay với chúng tôi, sơ khóc và nói sơ không thể nào theo chúng tôi được.

Sơ nói vẫn còn nhiều trẻ đau yếu bị bỏ lại, vì không đủ sức khỏe để chịu đựng suốt chuyến bay. Sơ không muốn bỏ chúng.

Tôi biết ơn sơ vô cùng. Sơ đã năn nỉ hết nơi này đến nơi khác để chúng tôi có cơ hội ra đi. Sơ đã hy sinh cơ hội dành cho sơ.

Sơ và tôi trao đổi địa chỉ email và hứa sẽ viết cho nhau, sơ dặn nhớ gửi hình của tôi lúc còn nhỏ cho sơ xem.

Lúc xe rời chỗ ở của sơ, tôi thật buồn vì tôi biết là còn lâu lắm tôi mới trở lại nơi này, nếu không muốn nói sẽ chẳng bao giờ.

Chuyến đi Việt Nam cho tôi dịp để nghĩ về cách dạy dỗ con tôi, cách sống của tôi trong quãng đời còn lại? Có điều tôi biết chắc, tôi đã thay đổi cách suy nghĩ về tôi và quá khứ của tôi.

Từ nhiều năm qua, tôi có quá nhiều xấu hổ. Tôi xấu hổ vì mình là người Việt Nam. Tôi xấu hổ vì mình là đứa con nuôi.

Nhưng trở lại Việt Nam và gặp được sơ Emilienne đã thay đổi nhận thức của tôi về con nuôi, về nguồn gốc Việt Nam.

Lúc đầu, tôi cứ tưởng chuyến đi Việt Nam giúp tôi khép lại một chương trong cuộc đời, không bao giờ nghĩ rằng nó đã mở cho tôi một chương mới. Tôi không rõ trong tương lai, giữa tôi và Việt Nam sẽ tiếp tục ra sao, nhưng tôi biết chắc một điều, sau chuyến đi đó, tôi đã chấp nhận đồng thời mình vừa là một người Mỹ, vừa là một con nuôi, và quan trọng nhất, vừa là một người Việt Nam

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

ĐÁ NÁT VÀNG PHAI


Thẹn mình đá nát vàng phai (Kiều) 
kim thanh

    Giữa năm 1976, từ trại Long Giao, Nguyễn bị đưa ra Bắc, cùng với các thành phần "ác ôn, có nợ máu" gồm An Ninh, Tình Báo, Chiến Tranh Chính Trị, Bộ Binh, Cảnh Sát, Tuyên Úy – toàn thứ dữ dằn dưới mắt Việt Cộng. Gần ba ngàn người bị xếp như cá hộp dưới hai khoang hầm tàu chở than, nguyên là của Việt Nam Thương Tín được cải danh Sông Hương. Ai ở đâu là chết dí chỗ đấy, tiểu tiện phải bước qua những thân người nằm rũ liệt, nghe chửi thề inh ỏi khi lỡ đạp lên bụng một ông khó tính, mới đến được cái thùng gỗ nhỏ đặt ở cầu thang. Nước uống và lương khô được thòng dây xuống, y như cảnh trong một phim buôn bán nô lệ đã xem đâu rồi. Hai ngày sau cập bến Hải Phòng. Xe lửa và molotova bít bùng dàn chào sẵn để rước về các vùng biên giới, như Yên Bái, Lao Kay... Bạn bè lạc nhau từ đây. Nguyễn đi Hoàng Liên Sơn. Cửa toa đóng kín, khiến hai ông trung tá chết ngộp, xác vứt bên đường. Ngồi xe hơi thì bị trẻ con ném đá, và những bà già Bắc kỳ tốc váy chửi rủa tục tằn, với sự đồng lõa của bọn cán bộ. 
    Hoàng Liên Sơn với rặng Fansipan trùng điệp. Những ngày vào rừng, lên núi đốn tre, chặt gỗ, giơ tay vóc từng nắm sương la đà dày đục, nếm thử thấy tê buốt – như môi hôn phút chia lìa vội vã. Những đêm lạnh cóng phải đứng ngủ cho bớt run rẩy trong chiếc chăn đơn cũ mục. Trên đường lao động, Nguyễn gặp lại bằng hữu thất tán từ các chiến trường xưa, không hẹn mà bị "gom bi" đầy đủ. Nhìn nhau cười như mếu, thấm thía lời huênh hoang của một tên cán bộ: "Các anh có mà chạy đằng giời!" Thỉnh thoảng lên núi Nguyễn và đồng tổ đội gặp một nhóm Biệt Kích, bị bắt từ thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, đang lao động tự giác, không có vệ binh canh giữ. Họ nhìn đám tân tù binh, vẻ thương hại, lắc đầu thông cảm, nhưng cũng có anh không dằn được bực tức, lớn giọng: 
“ĐM, mấy cha làm ăn, đánh đấm thế nào mà bây giờ kéo nhau ra đây cả lũ?” "Cả lũ" im lặng, xấu hổ, nghe xót xa bởi lời trách móc không sai. Nói thế, nhưng khi thấy bọn Nguyễn lóng cóng không buộc chặt nổi bó nứa, họ ùa đến ân cần phụ giúp, hướng dẫn tận tình, hoặc chia cho sắn luộc và bánh in khô Trung cộng.
    Sức khỏe suy sụp dần. Sau một lần khiêng gỗ té xỉu giữa đường, Nguyễn được chuyển vào đội Rau Xanh, gồm toàn bô lão – còn gọi là đội "sứt cán gãy gọng." Vì còn trẻ và tạm lành lặn, chàng bị nhường ngay chức trưởng tổ phân, ngày ngày phải hốt đủ mười chuyến phân bắc, tức phân người, "có chất lượng" giao cho tổ khác đem ủ thẳng dưới các luống khoai, hoặc chế biến thành nước tưới rau. Lúc đầu thấy hãi hùng, muốn nôn oẹ, rồi ráng nhập thiền để mất đi cảm giác, ý niệm, nhìn nhưng chẳng biết đó là gì nữa. Hết phân bắc đến phân chuồng (trâu bò), cũng tởm không kém, rồi phân xanh (lá ngâm mục).          
    Mới đầu, đa số còn phát biểu linh tinh lắm. Hệ thống ăng ten chưa được thiết lập qui mô. Trong đội Rau Xanh có ông Đại úy Cảnh sát già gân Hoàng Bá Linh. Ông Linh là người Quảng Bình, hay Quảng Trị, trực tánh, ưa kể chuyện tiếu lâm và chuyện chế độ cũ, nói năng rất “phản động”, thuộc loại điếc không sợ súng. Trong một buổi học tập của đội, ông đã phát biểu, lên án “bọn CTCT ngụy” như sau: 
“Bọn ngụy tuyên truyền rất bố láo bố lếu về Bác Hồ vĩ đại, vô vàn kính yêu của ta, ví dụ họ nói nguyên văn như ri, tổ cha thằng già Hồ Chí Minh là tên giết người bán nước, làm tay sai cho thằng Xịt Ta Lin và thằng Mao Xếnh Xáng... Họ xuyên tạc bộ đội anh hùng của ta nguyên văn như ri, là chúng nó ốm đói quá, bảy thằng Việt Cộng đu một cọng đu đủ mà không gãy... Thật là mất dạy hết sức!”, v.v... Và cứ thế ông nói dai, nói dài, nói lớn “nguyên văn như ri, như ri”, với giọng nặng trịch, nhừa nhựa thuốc lào. Tất cả sĩ quan cải tạo xanh mặt, cản không được, ngồi im, lo lắng cho ông. Phải hơn hai phút sau thằng cán bộ quản giáo mới hiểu ra, lên tiếng cắt ngang, hầm hầm quát bảo ông im ngay. Nó ức lắm, nhưng lúc ấy vì quá bất ngờ chưa biết kết ông vào tội gì. Hôm sau, ông bị dẫn đi “làm việc” khá lâu, rồi bị biệt giam một tháng. Ra khỏi phòng biệt giam, ông tiếp tục mở máy, như cũ, cười hề hề:“Tui đâu ngán thằng mô” 

    Sau tám tháng, cả trại bị “biên chế” đi Sơn La, ở chung với tù hình sự, loại "đầu gấu" chuyên giết người, hiếp dâm, trộm cướp. Một vùng đèo heo hút gió, nước độc rừng thiêng, gần Điện Biên Phủ, qua hết dãy núi cao là sang đất Lào. Quanh năm chỉ thấy mây trời lơ lửng và đám người Mán, người Mèo tiếng nói líu lo, mỗi lần xuống núi mặc áo quần sặc sỡ, đàn ông thổi kèn mở đường, đàn bà gồng gánh theo sau. Cùng trại có các linh mục, cảnh sát, sĩ quan đủ binh chủng, vài nhà văn quân đội như, Nguyễn chỉ còn nhớ, Thảo Trường, Văn Quang và Phan Lạc Phúc. Có nhị vị cựu và đương kim Đại tá Linh mục Tuyên úy Lê Trung Thịnh và Đinh Cao Thuấn. Nguyễn nằm kế bên Trung tá Đặng Bình Minh, phi đoàn trưởng trực thăng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, mùa đông được anh cho một áo jacket nhà binh rằn ri cũ. Cách Nguyễn hai người là Trung tá Vũ Hoài Đức, chỉ huy phó trường ĐH/CTCT, người hiền lành, đạo đức y như Đại tá Chỉ huy trưởng Nguyễn Quốc Quỳnh. Ở một đội khác có một cựu tùy viên của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, đeo kính trắng, tôi quên tên. Ai nấy thiếu ăn, xác xơ, bắt đầu thấm đòn độc của Việt Cộng: chủ trương cải tạo bao tử, nghĩa là bắt đói triền miên, để chế ngự ý chí, và cả tư cách nữa! Lao động vinh quang là trồng lúa, sắn, ngô, khoai trên những thửa đất hoang, khô cằn sỏi đá. 
                                                            
    Hơn hai năm sau, Trung Cộng uy hiếp biên giới, Việt Cộng lo sợ, vội vàng chuyển tất cả về Vĩnh Phú mà chúng gọi là miền trung du, đất tổ Hùng Vương. Hùng Vương đâu chả biết, chỉ thấy toàn núi rừng thâm u và bộ mặt kinh niên hắc ám của các cai tù, và những thằng Ăng Ten, Trật Tự, Thi Đua ngu ngốc làm khổ đồng đội còn hơn chính kẻ thù. Trại rộng thênh thang chia làm bảy khu, gọi là K, cách nhau trung bình năm, sáu cây số, nằm tít phía sau thung lũng sông Hồng. Từ Sài Gòn ra Vĩnh Phú thăm chồng, các bà "vợ ngụy" xem như chặng đường thánh giá mới, phải vượt rừng băng sông, đi đủ các loại xe, kể cả xe trâu và xe đạp ôm. K7 gần nhất, giam riêng các biệt kích. Ở giữa, một K dành cho các thiếu niên phạm pháp, đa số về tội ăn cắp –có đứa chỉ mới tám tuổi. Nguyễn ở K1, xa nhất, tuốt sâu trong núi.
    Tại Vĩnh Phú, có anh bạn trường Đại Học CTCT Đà Lạt, Nguyễn Ngọc Nhung, Đại úy phòng Khảo Hạch, kiếm đâu ra được chức thủ kho dụng cụ lao động, cũng nhàn. Một hôm, Nhung kể, một tên công an vẻ phách lối đến mượn cái xẻng. Theo thủ tục phải ghi tên vào sổ. Thủ kho, người Bắc, lịch sự hỏi:
    - Xin cán bộ cho biết quý danh.
    Tên nọ không hiểu "quý danh", há mồm, ngơ ngác, suy nghĩ một hồi, rồi đột nhiên sừng sộ:
    - Anh vi phạm lội qui. Ai cho anh lói tiếng lước ngoài hử?
    Nhung sửng sốt, á khẩu. May phước, nhờ các bạn tù xúm vào thông dịch giùm, anh mới thoát nạn, sau khi bị xỉ vả tận tình.
   
 - Giờ lày mà còn ôm chân đế quốc, lói tiếng nóng... 
    Còn Nguyễn về đội Nông Nghiệp. Phải lội vào một thửa ruộng bỏ hoang từ bao đời để luân phiên kéo cày thay cho trâu bò. Nước bùn đen đặc quánh, đỉa bơi lổn ngổn, thò chân xuống thấy ghê rợn – làm chàng nhớ những đầm lầy cũng kinh khiếp dưới địa ngục mà thi hào Dante phải vượt qua với Virgile, trong La divina Commedia. Ba hôm sau, một số đội viên – có Ðại úy Cảnh sát Phạm Bá Ðiềm, bạn thân từ Sơn La – lên cơn sốt cấp tính, chỉ hai ngày là hôn mê, rồi chết. Người sống sót rụng dần lông chân. Phải mất thêm vài mạng nữa, đội mới có lệnh "giải thể."
    Thửa ruộng lại bị bỏ hoang, Nguyễn trở về đội Rau Xanh, như hồi ở Hoàng Liên Sơn, lại vào tổ phân, lần này giao cho thợ bón kiêm chuyên viên tưới là phi công Air Vietnam Nguyễn Hữu Trí, trung tá biệt phái. Nói chuyện mới biết Trí bay đường Hồng Kông và Tokyo, có chuyến với Bội Trân, em gái Nguyễn, mà anh tả đúng hình dáng, nên chàng tin lắm. Chim bằng gãy cánh, Trí tiếc nhớ trời xanh, giờ giải lao ngước nhìn lên cao, uất ức, thở dài.

    Tết đầu tiên tại Vĩnh Phú, trại được nghỉ lao động ba ngày, và tự do đi lại các khu vực. Nguyễn tìm đến dãy nhà giam riêng "bò lục" (tiếng lóng chỉ đại tá) để thăm Ðại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, vị chỉ huy trưởng kính thương của trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt  –nơi mà chàng được phục vụ gần ba năm trong chức vụ Trưởng khoa Nhân Văn Xã Hội và Sĩ quan Phụ khảo cho đến ngày tan hàng. Nguyễn thấy ông cũng vừa bước ra sân, nơi đang diễn nhiều trò vui do tù sáng chế để giết thời gian và nỗi nhớ nhà. Ông nhận ra chàng ngay. Chung quanh rất đông người, và dĩ nhiên ăng-ten được rải đầy. Gặp ông, chàng mừng quá, nói lớn:
    - Chào bác, bác vẫn khỏe chứ ạ?
    Ông nắm tay chàng một lúc lâu, và chậm rãi nói, giọng xúc động:
    - Cám ơn anh, tôi vẫn khỏe. Còn anh thế nào, có bệnh hoạn gì không? Tôi biết anh ở đây lâu rồi, mà không gặp được.
    Nguyễn cố nuốt những giọt lệ làm nghẹn cổ họng, xót thương cho phận vàng phai và đá nát. Cho đất nước bất hạnh. Cho cả chính mình. Hồn bỗng rưng rưng, thầm gọi tên một thời yêu thương và thù hận tưởng đã chết theo cùng với mùa xuân tang tóc và những giấc mơ phai. Một thời vì ông chợt hiện về nguyên vẹn. Như mới hôm qua...    
    Sài Gòn, đầu tháng 5, 1975. Hai ngày sau khi đứng nhìn từ một góc đường Lê Văn Duyệt, uất hận và nước mắt lưng tròng, những chiếc xe tăng chở đầy Cộng quân vào thủ đô, nghe tên nằm vùng Trịnh Công Sơn hớn hở ca mừng chiến thắng, kêu gọi nối vòng tay lớn, và chạy tới chạy lui dò la tin tức người thân, bạn bè ai còn ai thoát, tôi tìm được địa chỉ của Đại tá Nguyễn Quốc Quỳnh và đạp xe đến thăm cùng với hai cựu SVSQ khóa 4, Nguyễn Gia Hưng và Nguyễn Dự, bất ngờ gặp lại trên đường. Phu nhân và cô con gái, vì quen mặt hồi ở Ðà Lạt, tiếp tôi không e dè. Ðại tá Quỳnh ra phòng khách, áo sơ mi bỏ trong quần tây, chân đi săng đan. Trông ông mệt mỏi, có vẻ chán nản, dù bề ngoài vẫn giữ phong cách nho nhã, lịch sự cố hữu. Chúng tôi không nói gì nhiều. Có lẽ trước thảm họa chung ai cũng có nỗi ưu tư riêng, cùng nặng nề như nhau. Suốt ba hôm liền, tôi bị hối hận dày vò, tự trách đã vụng suy, khí khái hão, không nghe lời cô em tiếp viên đưa gia đình lên chuyến Air Vietnam cuối cùng, khiến tất cả đành phải ở lại, một số dắt díu nhau trở về Nha Trang để thấy cửa nhà, tài sản rơi vào tay bọn cách mạng 30 –hạng khố rách áo ôm trước kia đã chịu ơn ba mẹ tôi, nay trở mặt, gán lên đầu ông bà đủ thứ tội. Còn Ðại tá Quỳnh, tôi không biết ông đang tiếc gì, nghĩ gì, vì suốt buổi chỉ nghe ông lặp đi lặp lại:
    - Không thể ngờ nhanh như thế!
    Ðâu phải một mình ông. Không ai ngờ, kể cả Dương Văn Minh, tên tướng thiếu tài, khờ dại, được sinh ra chỉ để phản bội, và bọn "hàng thần lơ láo" tại dinh Ðộc Lập trưa ngày 30/4. Kể cả lũ vượn người khoác lác ở Bắc bộ phủ. Kể cả tên đồng minh Kissinger xảo quyệt, tác giả của cái gọi là hiệp định Paris quái gở bán đứng miền Nam, người được báo chí Mỹ bơm lên như nhà ngoại giao vĩ đại, nhưng thực chất chỉ là một tên trí thức cơ hội chủ nghĩa và đầy ảo tưởng, chưa tiêu hóa kịp những bài học bang giao quốc tế ở trường Harvard. Kể cả anh tướng hai sao và ba hoa nọ đã thề thốt ở lại để ăn mắm tôm cà pháo với đồng bào, vậy mà vào phút chót nhờ có trực thăng riêng mới vọt ra được hạm đội Mỹ. Không thể ngờ nhanh như thế!  Tôi chỉ biết gật đầu, đồng ý với ông. Cuối cùng, tôi cất tiếng hỏi:
    - Ðại tá có ý định sẽ làm gì ?
    Ông lưỡng lự vài giây, rồi trả lời:
    - Tôi chưa biết sẽ phải làm gì. Nhưng ở hoàn cảnh nào tôi cũng chấp nhận những gì tệ hại nhất sẽ xảy đến cho tôi.
    Như là mặt trái của bổn phận và vinh quang, tôi hiểu như thế qua những lời chậm rãi, đắn đo của ông. Những lời tôi nghe quen từ đâu rồi bỗng mang một ý nghĩa cao đẹp, phi thường trong bối cảnh bấy giờ. Những lời đã theo tôi suốt tám năm đày ải, và cùng với hình ảnh của Guillaumet, viên phi công lâm nạn lầm lũi bước lê trên cát sa mạc, không chịu ngồi chờ chết, trong “Terre des hommes” của Saint-Exupéry học lúc trẻ, đã khích lệ, vực tôi đứng dậy để tiếp tục sống còn. Tôi cảm động, và khi từ biệt, siết chặt tay ông, khẽ nói:
    - Có một điều Ðại tá nên chắc chắn là dù ngày mai ra sao tôi sẽ không bao giờ quên Ðại tá và những gì Ðại tá đã làm cho tất cả chúng tôi.
    Và cho riêng tôi. Ông là một chỉ huy trưởng nhân hậu, có đức có tài, hơn ai hết, đã làm tôi thấy yêu thích và kiêu hãnh với đời quân ngũ bất đắc dĩ. Một chỉ huy trưởng quả cảm và xứng đáng, có tinh thần trách nhiệm cao độ –quyết ở lại với thuộc cấp cho đến phút cuối, mặc dù ông có một người con rể là đại tá không quân Mỹ và đủ phương tiện để tẩu thoát một mình như đám tướng tá tham sinh úy tử kia đã tranh nhau đào ngũ trước khi tai họa giáng xuống. Quả vậy, chín giờ sáng 30/4, tại Tiểu đoàn 50 CTCT, đường Phan Ðình Phùng, bấy giờ là bộ chỉ huy tiền phương của trường Ðại học CTCT, ông vẫn chỉ thị các sĩ quan hiện diện và sinh viên sĩ quan các khóa tiếp tục chiến đấu và phòng thủ, để rồi, cuối cùng, phải buông súng, bất lực trước mệnh nước. Tôi không bao giờ quên được khẩu lệnh cuối cùng, ngắn ngủi, thật buồn bã của ông cho ban tham mưu, sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng:
    - Phát hết lương khô và cho anh em tan hàng!
    ... Thế rồi, mỗi người chia một nẻo. Ông cũng đi trình diện "cải tạo" ở một nơi nào đó. Tôi bị tống vào Long Giao để gặp lại gần toàn bộ sĩ quan Ðại Học CTCT, trong số có người bạn thân, Đại úy Đỗ Huy Hoàng, chủ bút tờ Ức Trai của trường. Những chiều lao động về rảnh rỗi, tôi mò sang đội của Hoàng, hoặc Hoàng sang tôi, để tâm sự vụn cho bớt nhớ nhà. Nhất là bớt tức. Có cái gì uẩn ức, hằn học nằm trong tiềm thức của mỗi tên tù. Đau xót và căm giận còn hơn bị tình phụ. Nhưng không biết tức ai. Lãnh đạo hèn nhát đã cao bay xa chạy. Thù hận Cộng Sản thì chẳng ai dám hé môi nói với ai. Cuối cùng, chỉ có Thượng Đế nghe đủ những lời ta thán, chửi thề vu vơ. Trong câu chuyện, chúng tôi điểm mặt từng người quen, và khi biết toàn trường vào tù, cả hai cùng thở dài, ngán ngẩm. Tôi còn gượng chọc Hoàng:
    - Ức Trai hay Ức Gái gì rồi cũng chui vô rọ hết!
    Tại Long Giao, lúc ấy, tôi ở cùng đội, cùng tổ với Đặng Phùng Hậu, bác sĩ trưởng bệnh xá trường Đại Học CTCT, và một nhóm quân y. Cả tổ, vì tự ái, tự trọng, không ai than vãn về chuyện ăn uống, đói khát trong tù, kể cả sau này khi viết hồi ký. Hậu vui tính, kể đủ chuyện, nhờ vậy những ngày ảm đạm, bực bội qua khá nhanh. Mỗi tối, Hậu thì thầm nói chuyện với tôi về thời cuộc, và lần nào anh cũng lẩm bẩm kết thúc bằng câu:
    - Địt cụ, đau như hoạn, tức như bò đá!
    Bên dãy cấp tá có Lê Ân, thiếu tá văn hóa vụ trưởng của trường. Những lần thấy nhau qua hàng rào kẽm gai, ông lộ vẻ mừng rỡ, rồi lắc đầu nói, giọng Quảng lai Huế rất ”trademark” của ông:
    - Cháng gướm (chán gớm)!
    Trong câu chuyện, anh em thường hỏi về Ðại tá Chỉ huy trưởng. Không ai biết chính xác ông ở đâu. Có tin ông đã chết. Hoặc đang ở ngoại quốc. Hoặc trốn trong một khu rừng. Nhiều đêm trằn trọc, tôi khổ tâm vì dĩ vãng, cứ ám ảnh mãi, như cuốn phim quay lại, tự động, chậm chạp, lê thê. Nhớ không sót từng khuôn mặt, từng buổi giảng dạy, từng dịp lễ. Nhớ từng đêm Giáng sinh giá buốt và tiếng chuông nhà thờ ngân nga, từng buổi dạ vũ tưng bừng, mệt nhoài, từng con phố chìm trong sương mờ che khuất đường về...  

    Bây giờ Đại tá Quỳnh đứng đó, bên Nguyễn, giữa một ngày xuân héo hon. Người gầy nhom, gương mặt hốc hác, má trũng sâu. Nhìn lại hình hài mình, chàng thấy đâu hơn gì. Chỉ một thoáng mơ, bỗng hiện về trong đáy hồn rời rã cả khung trời yêu thương Ðà Lạt và kỷ niệm rực rỡ của tháng ngày cũ có hạnh phúc còn thơm hương mimosa, có tình yêu chưa biết nói lời phản trắc, có một Ðại tá Quỳnh uy nghi trong quân phục đại lễ gắn cấp hiệu cho sinh viên các khóa, nay còn đâu! Mới có bốn năm vật đổi sao dời mà cả hai đã trở thành thảm hại đến thế ư? Ông mặc bộ treillis bạc màu, chân đi dép râu, sau lưng viết chữ Quỳnh thật to bằng mực tím. Thấy không ai để ý Nguyễn bèn hỏi rất khẽ:
    - Ðại tá nghĩ sẽ có ngày về không?
    Ông lấy tay che một bên tai, có vẻ chú ý lắm mới nghe lọt hết. Và trả lời nhanh, chắc ngại bọn ăng-ten cứ lượn qua lượn lại trước mặt:
    - Tôi nghĩ là rất khó lòng, mặc dù vẫn cố hy vọng. Ðiều quan trọng là anh gắng giữ gìn sức khỏe tốt để có sức chịu đựng. Gặp anh em khác cho tôi gửi lời thăm!
    Một thằng sà tới. Nguyễn vội nói lớn:
    - Bác được thư gia đình thường chứ?
    Ðại tá Quỳnh chưa kịp đáp thì hắn đã gay gắt bảo Nguyễn, giọng trọ trẹ:
    - Tôi lưu ý anh, không được quan hệ với các anh đại tá.
    Chàng phản pháo liền:
    - Nhưng anh là ai? Hôm nay ngày Tết được miễn!
    Thằng nọ mặt hầm hầm, lớn tiếng:
    - Tôi ở trong ban Trật Tự. Ðề nghị (tiếng Việt Cộng có nghĩa "yêu cầu") anh chấm dứt quan hệ linh tinh.
    Chàng quay sang Ðại tá Quỳnh :
    -Thôi xin từ giã bác, chúc bác mạnh khỏe, bình an trong năm mới.
    Rồi nhìn thẳng mặt thằng Trật Tự, giận dữ bỏ đi. Nguyễn gặp Ðại tá Quỳnh được một tháng thì hai đội bò lục –đội trưởng là Lê Ðình Luân và Dương Hiếu Nghĩa– chuyển xuống K5, cách đó độ sáu cây số, cùng với các linh mục tuyên úy mà bọn Công an đặc biệt căm thù.  

    Rồi một hôm, mẹ tôi lặn lội đến thăm, có Bội Trân hộ tống. Lần đầu được phép, sau năm năm chờ đợi. Mất ba ngày đường trên hai chuyến xe lửa từ Nha Trang ra Hà Nội, từ Hà Nội lên Ấm Thượng. Qua sông Hồng bằng phà máy, tới K1 bằng xe trâu. Tại nhà tiếp tân, lúc đó khá đông người, ba mẹ con ôm nhau khóc, rồi nói cười, mừng mừng tủi tủi, trước những cặp mắt cú vọ của lũ vệ binh và quản giáo. Mẹ thút thít, xoa nắn hai cánh tay và ngực tôi, như lúc nhỏ tôi từ Sài Gòn về quê Nha Trang nghỉ hè, chê con gầy quá, tội con quá! Mẹ bạc gần nửa mái đầu, da sạm nắng, tay nổi gân xanh. Suốt năm, Bội Trân nói, mẹ đi thăm nuôi "mệt nghỉ" rồi lo tìm đường cho con vượt biên, làm sao mà không già yếu cho được. Ba ông con trai lớn và một chàng rể tương lai đi cải tạo bốn nơi khác nhau, cô con gái út bị bắt ngay trên ghe nhỏ, giam tại A30. Chưa đứa nào thoát được, mẹ tiếp lời, trừ Thể Trân ra riêng, vì cả nhà bị chúng nó theo dõi sát nút.
    Bội Trân đẹp như trước kia, nổi bật giữa phòng tiếp, dù thôi trang điểm. Nhưng tóc cài hờ hững, mắt buồn vời vợi, mất hết vẻ hồn nhiên, tinh nghịch cố hữu, khiến tôi ngậm ngùi tưởng đến những mỹ nhân tự thuở xưa hương sắc không phai giữa gió đời vùi dập, kiêu sa trước nghịch cảnh, như các nhân vật nữ trong những vở kịch cổ Hy Lạp. Em kể, và mẹ lắng nghe, thỉnh thoảng gật gật đầu, phụ họa:
    - Nhà mình tịch thu được chúng nó trả một nửa, nửa kia làm trụ sở thanh niên phường. Ba làm rẫy, mẹ lén nấu rượu chuối cho ba uống thay Martel. Em phụ bán nước mía với em Huyền Trân. Chị Thể Trân đến được Mã Lai với chồng con. Chị vẫn nhắc chuyện anh cho cậu em chồng hai quả trứng vịt lộn trong kỳ thi ở trường Chiến Tranh Chính Trị và ông Ðại tá chỉ huy trưởng hiền từ của anh. Chị nói anh ngang tàng, đôi lúc chị tức anh lắm, nhưng vẫn thương anh, hơn bất cứ ai, bởi anh là mẫu người của đàn ông, có chết cũng không than van, cầu khẩn, lúc nào cũng hào hùng, kiêu hãnh, giống như con chó sói bị thương trong bài "La mort du loup" của Vigny mình học năm nào đó... Anh nhớ không, hồi nhỏ, một lần anh đánh lộn với mấy thằng lối xóm chuyên chận đường chọc ghẹo tụi em, bị chảy máu mũi, mắt sưng vù, mà anh vẫn cắn răng chịu đau, không khóc, lại còn bị ba mắng cho nữa...
    Tôi lắc đầu, cười buồn. Ôi, xa rồi kỷ niệm, nhắc làm chi hỡi em? Và đổi đề tài:
    - Kha bây giờ ra sao? Có khoẻ không em?
    Kha là hôn phu của Bội Trân, phi công A37, dưới tôi hai lớp tại Jean-Jacques Rousseau. Sắp cưới thì mất nước. Vì Bội Trân ở lại, Kha cũng không đi.
    Nghe tôi hỏi, Bội Trân chớp mắt, buồn rầu nhìn ra sân. Bầu trời thấp, đục, giăng mây xám, như sắp đổ mưa. Gió rừng tuôn qua vách nứa ngập gian nhà trống trải, không cửa, lạnh từng cơn. Em thì thầm:
    - Mẹ và em đã ghé thăm Kha ở Hà Nam Ninh trên đường lên anh đây. Cũng tàn úa, như anh, như mọi người, sức khỏe giảm sút nhiều... Em sẽ chờ anh ấy, bao lâu cũng được.
    Tôi quay sang mẹ, bùi ngùi nói:
    - Tất cả đều do lỗi của con. Phải chi ngày đó con biết nghe lời em đưa gia đình...
    Mẹ ngắt lời:
    - Cả nước đều lầm, đâu phải riêng con. Chuyện cũ, thôi đừng nghĩ đến nữa.
    Bội Trân tiếp:
    - Nhưng có thế này em mới được về "phục viên" ở hẳn với ba mẹ chứ!  Em vẫn thương anh và hãnh diện vì anh.
    Mẹ và em nói đủ thứ chuyện, nhưng không đề cập đến một tin tôi chờ mà ngại không dám hỏi. Dường như hiểu ý, lúc mẹ quay qua tiếp một bà đồng hành ngồi cùng bàn, Bội Trân nắm bàn tay tôi, siết chặt, và khẽ nói:
    - Lệ Ngà đã lấy chồng. Hai năm sau khi anh ra đi. Em đâu ngờ!
    Tự dưng tôi buột miệng, không chút mỉa mai:
    - Hai năm là còn khá thủy chung đấy chứ em!
    Tôi tưởng sẽ phải đứng tim, ngất xỉu. Nhưng lạ quá, chỉ thấy buốt nhói một chút như kim châm. Có lẽ vì đã chuẩn bị đón nhận sự thật quá lâu, từ năm năm rồi. Một thiên thu. Chợt nhớ một anh bạn Thiết giáp vừa vào Long Giao mấy tháng đã nhận được thư vợ xin anh cho phép "bước thêm một bước nữa" và ký vào tờ đơn ly dị và giấy nhường tài sản kèm theo, và cả đời tôi không quên được giọng cười khinh bạc của anh sau khi viết trả lời: "Nhất trí. Cho cô hết. Nhưng khuyên cô không nên bước, mà nên chạy cho nó nhanh." Tôi không được như anh ta. Bởi vô vàn kỷ niệm ngát hương ngày mới yêu ùa về, thay nhau vỡ như bong bóng. Lệ Ngà. Bạn học thân thiết của Bội Trân. Tà áo thiên thanh và dòng tóc buông lơi trong nắng sớm phi trường Liên Khương, những lần em bay lên gặp anh. Lệ Ngà. Những chiều đi dưới mưa lất phất qua những đồi thông, em hát nho nhỏ bài “Le jour où la pluie viendra... Ngày mà mưa đến, sẽ có bao nhiêu là giọt kim cương cho tình ta...” Những ly rượu Bordeaux sóng sánh ngọt lịm môi em trong quán L’eau Vive và bản "Appassionata"  trên phím dương cầm thánh thót như từng giọt lệ rơi, thiết tha như lời tuyệt vọng gọi người tình về. Những vòng tay cuống quýt tìm nhau trong hoàng hôn tím trên đồi Cù. Những lời thề nguyền yêu đương cho đến lúc đầu bạc răng long. Lệ Ngà. Hạnh phúc dối gian và ảo vọng phù du. Tôi nhắm mắt giây lâu, nghe vị đắng và cơn giận thấm dần xương tủy. Và thở dài nhè nhẹ, nhìn Bội Trân không nói. Ðâu phải tình cờ em nhắc đến con chó sói bị thương, cùng đường, của Vigny.
    Em tiếp, giọng buồn rưng rưng:
    - Không hiểu sao Ngà biết em sắp đi thăm anh. Ðến gặp em, lần đầu tiên sau mấy năm biệt tích. Em không nỡ đuổi. Khóc suốt buổi, nhưng không nói một lời gì về anh. Khi chia tay, chị ta nhờ em trao anh những phong chocolat Meunier mà chị ta nói ngày xưa anh rất thích, và cho em một số tiền làm lộ phí, nhưng dĩ nhiên em không nhận gì hết... Em biết tính anh quá mà!
    Tôi nói cám ơn em. Rồi cả hai im lặng, đuổi theo ý nghĩ riêng...
    Hai giờ trôi qua mau. Tên cán bộ vén tay áo xem đồng hồ, bảo tất cả chuẩn bị ra về, vác quà vào trại. Khi ôm hôn tôi từ biệt, lợi dụng tiếng ồn ào, Bội Trân nói một hơi, thật nhanh, qua màn lệ, bằng tiếng Pháp:
    - Ba dặn anh đừng tin bọn Cộng sản, đừng khai thật, khai sao lặp lại y như vậy, đừng tin các phong trào phục quốc, tất cả đều là cạm bẫy của Việt Cộng. Em nghe đài VOA và BBC nói các nghị sĩ, dân biểu Mỹ, và cả thế giới đang quan tâm đến số phận của các anh. Ðừng tuyệt vọng nghe anh. Nhớ đọc kinh, cầu nguyện nhiều xin Chúa và Ðức Mẹ che chở. Cả nhà chờ anh đó. Em thương anh. Em thương anh.  
    Mẹ và em về hơn hai tháng, Nguyễn được chỉ định vào đội Xây Dựng, có nhiệm vụ cất nhà ở cho tù, heo, và cán bộ, và bắc cầu qua suối cho dân. Lúc đầu chàng phụ tá cho Lưu Ninh, Thiếu tá Bộ Binh, trong tổ vữa (trộn hồ), và sau khi Ninh qua “khâu” lợp chàng được thăng chức tổ trưởng, và tổ phó là Ðào Văn Bảnh, Trung tá Bộ Tổng Tham Mưu. Bảnh tính tình điềm đạm, cởi mở, sau trở thành một trong những bạn tù thân thiết nhất. Không có tổ viên. Suốt ngày hai tên hì hục trộn hàng đống vữa lớn, nhỏ, để sẵn, chờ một toán đem xe cải tiến, do ông nhà báo Việt Tấn Xã Đinh Phụng Tiến chỉ huy, đến xúc giao cho các thợ xây. Trong đội, nằm cạnh chàng, có Ðại đức Nguyễn Long, quê Quảng Ngãi, lo nấu nước, làm tạp dịch. Ông hiền lành, thật thà, ưa giúp đỡ mọi người. Nhiều đêm, vài anh nổi hứng, oang oang kể chuyện đàn bà con gái, chơi bời trước kia. Ông cũng bị nghe, và lần nào cũng lầm rầm bên tai Nguyễn:
    - Mô Phật! Chơi chi mà chơi dữ rứa hè!
    Bữa nọ, một bà già khu gia binh cho đội một con chó con vừa chết. Một anh gốc Hố Nai xung phong trổ tài nấu rựa mận với muối, rau muống, và củ riềng –mọc đầy bên vệ đường. Mỗi người được chia hai miếng bằng ngón chân cái. Ai cũng "hồ hởi" ăn, trừ Ðại đức Long. Ông đi tìm Nguyễn, cho phần của ông, mặc dù quanh năm ai cũng thiếu chất thịt và ông chưa được thăm nuôi.    Ông nói:
    - Tôi còn tu. Anh ăn giùm cho!
    Một hôm, đội được điều động làm công tác "đột xuất" (bất ngờ) là ra "nghĩa địa", tức một bãi đất trống sát chân núi, làm cỏ và cắm mộ bia cho các anh em đã nằm xuống. Nguyễn đếm gần hai trăm mộ  –kỳ thực chỉ là những nấm đất vùi sơ với mảnh gỗ nhỏ ghi vội tên người chết. Trong số có vài ông tỉnh trưởng, trung đoàn trưởng. Có Trung tá Nguyễn Văn Năm, thuộc trường Ðại học CTCT, người hiền như Bụt, nổi tiếng về khoa bói toán, bấm độn, và một người quen biết từ trại Sơn La, Trung tá Ðặng Bình Minh –cả hai trúng nắng cùng một lúc ngoài hiện trường lao động, được chở về trại cùng trong một chiếc xe trâu, hôn mê và qua đời cùng một giờ. Anh em kể, vợ phi công Minh, một dược sĩ trẻ đẹp, mới thăm anh vài ngày trước, từ Hà Nội trở lại thăm tiếp khi anh vừa mất, được dẫn ra nghĩa địa, khóc như mưa, rồi cắt tóc để lại trên mộ cùng với một bài thơ. Nguyễn vừa giẫy cỏ vừa thầm khấn các anh phù hộ cho tất cả tai qua nạn khỏi và mau về sum họp với gia đình. Và thắc mắc không hiểu sao bữa nay bọn cai tù lại tử tế như vậy. Thì ra, về sau mới biết, có một phái đoàn cao cấp đến thăm trại.

    Cuối năm 1980, cả đội của Nguyễn được điều động đến K5 xây hội trường và khu gia binh cho công an. Tại đây, Nguyễn rất mừng được thấy lại Ðại tá Nguyễn Quốc Quỳnh, mỗi buổi sáng tập họp. Kỳ này, trông ông đỡ tiều tụy. Tết 1981, mẹ chàng và Bội Trân ra Vĩnh Phú lần thứ hai, với Huyền Trân, cô em út xinh đẹp vừa tròn mười tám. Chàng soạn một ít bánh mì khô, đường và mì gói, mấy viên thuốc cảm, bỏ vào một bọc ni-lông, chờ buổi chiều các đội đi tắm suối chung lẻn đến phía các "bò lục", gặp Ðại tá Quỳnh trao cho ông, nói:
    - Tôi mới được thăm, xin biếu Ðại tá.
    Hai tháng sau, đến lượt ông được thăm, và một buổi sáng Nguyễn đang đánh vữa thì đội của ông đi ngang. Ông gật đầu ra dấu cho chàng đến sát hàng rào kẽm gai và dúi vào tay một gói lương khô đủ loại. Thằng vệ binh thấy được, chạy tới khám.            Không có thư từ, mật hiệu, nó trả lại, mồm càu nhàu:
    - Quà với cáp linh tinh!
    Lúc này, tổ vữa làm việc gần bếp và giếng nước cơ quan. Một hôm, một trung sĩ công an còn trẻ, lạ hoắc, lén vệ binh, đến gần, run run hỏi nhỏ:
    - Các anh có B6, cho tôi xin một ít. Nhà tôi mới sinh bị phù (thủng) nặng.
    Việc xảy ra đột ngột, Nguyễn và Bảnh đưa mắt nhìn nhau, không đáp, sợ bị gài bẫy. Anh ta vội tiếp:
    - Nói thật đấy mà! Không tin, các anh cứ vào đây xem.
    Suy nghĩ một hồi, Nguyễn đánh liều đi theo anh ta, còn Bảnh ở lại canh chừng đống vữa và tên vệ binh. Vào nhà, thấy chị vợ da mét xanh, mặt mày, tay chân sưng húp, nằm bên đứa con đỏ hỏn, bé như con chuột. Chị ta nói thuốc bệnh xá cấp thiếu, và không có thức ăn bổ dưỡng.
    Hai anh chàng phân vân mãi. Ðối tượng giúp đỡ phải là bạn tù chứ, của đâu mà lo cho Công an! Nhưng hầu hết anh em đều đã được thăm nuôi, hoặc nếu chưa, đã được Bảnh, Nguyễn và bạn bè chia sẻ phần nào rồi. Cuối cùng, động lòng trắc ẩn, cả hai góp lại được chừng bốn mươi viên B6 để dành từ các lần tiếp tế, đã quá hạn, nhưng không còn gì hơn, và một hộp sữa đậc cho đứa bé, đem giấu dưới một gốc cây, làm hiệu cho anh ta đến lấy. Hai tuần sau, một buổi trưa, chị vợ đang nấu bếp cơ quan thấy hai chàng thợ vữa đến, vội tiến ra, nhìn trước nhìn sau, bảo:
    - Cảm ơn hai anh, hôm nay em đã đỡ nhiều. Có xuất cơm trắng và miếng thịt trâu bồi dưỡng em mang cho hai anh ở gốc cây kia. Nhớ xem chừng cán bộ bảo vệ, kẻo em bị kiểm điểm...
 
    Rồi từ đội Xây Dựng, Nguyễn được Linh mục Trần Thanh Cao, giỏi nhạc, đẹp trai, vui tính, có quen biết ngoài đời, bốc về đội văn nghệ mới thành lập do ông làm đội trưởng, để tỵ nạn lao động vài tháng, mặc dù chàng dốt đặc về ca nhạc kịch. Nhân tài, cũng cỡ chàng, biệt phái từ các đội. Có ba anh giả ba sơn nữ Phà Ca mang gùi, đeo vòng, lắc lư múa theo bài Tiếng chày trên sóc Bom Bo, trông xa, và vì vắng đàn bà lâu ngày, thấy cũng hấp dẫn không thua Thanh Nga. Có tổ cải lương với đầy đủ vai hề, đào thương, kép độc. Ðội được lệnh trình diễn giúp vui một phái đoàn thanh tra trung ương. Cha Cao cho Nguyễn vào ban hợp xướng, bè alto ngang phè phè. Ông khuyến khích các ca viên:
    - Ăn sắn và hút thuốc lào mà hát như vậy là được rồi!
    Một hôm, trại phó đến thăm. Ban hát đang tập một bài có nhắc tên Hồ Chí Minh và hang Pắc Pó, hay ao sen, ao cá gì đó, do cha Cao đặt hòa âm thành bốn bè, mỗi bè tập riêng. Hắn chăm chú nghe, vui vẻ, rồi bỗng nhăn mặt, gọi cha Cao lại, giận dữ quát:
    - Anh bôi bác Cách mạng đấy phỏng? Tên Bác kính yêu như thế mà... mà anh dám đổi nà Hô, Hố, Hộ, Hổ như thế thì... thì nà anh nếu náo thật!
    Cha phân trần, nhưng hắn gạt đi:
    - Bỏ, bỏ tất! Bè với không bè!
    Lần khác, hắn đến xem tập kịch. Hắn lại nhăn mặt, lại gọi cha Cao, chỉ tay về phía ông trung tá nhà văn trọng tuổi, bút danh Ký giả Lô Răng, đóng vai một cán bộ huyện. Nguyễn đứng gần cha Cao, nghe hắn bảo:
    - Thay anh kia cho tôi! Cán bộ cách mạng chúng tôi không bao giờ đi chân thọt! Anh có ý đồ phải không?
    Cha Cao ngẩn người ra, cứng họng. Bấy giờ, Nguyễn mới nhìn kỹ ông kịch sĩ xui xẻo. Quả thật, chân bước của ông hơi khập khiễng.
    Văn nghệ xong, đội giải tán trong sự tiếc nuối của các nghệ sĩ bất đắc dĩ. Cha Cao đi trồng mía. Nguyễn bị hoàn trả về đội xây, đánh vữa trở lại với Ðào văn Bảnh.

    Bất ngờ, lại bị “biên chế” nữa. Các sĩ quan cấp tá và tuyên úy một sáng sớm phải lên đường di chuyển về một nơi nào không rõ. Nguyễn ngồi trong hàng nhìn theo bóng Ðại tá Quỳnh và bạn bè, có cả Ðại đức Long và cha Cao, lầm lũi bước lên xe, mang theo những túi tư trang gọn nhẹ, như chính cuộc đời trống vắng, buồn tênh của đám tù nhân. Lần đó, chàng nghĩ khó còn gặp lại nhau, và tự dưng lòng nao nao như mất người thân thuộc. 
    Năm sau, đội Xây Dựng được trở về K1. Mỗi tối, khi cửa buồng giam đóng lại, từng nhóm tụm năm tụm ba nhỏ to nói chuyện, đánh cờ, uống nước trà, hoặc bàn luận thời cuộc từ những tin tức hiếm hoi, thường phóng đại, do các bà thăm nuôi cung cấp. Thời gian này, Nguyễn được nhóm thân hữu đặt biệt danh  "bình luận gia tin tức quốc tế". Một cách thành thật, tự tin, chàng phân tích theo chiều hướng có lợi, hợp với ước vọng của mọi người, trong khi thực tế có lẽ khác xa. Bọn cán bộ hình như về sau cũng muốn thả lỏng, miễn đừng ai phá phách, trốn trại, trốn lao động, hoặc công khai "phản động".  Những giàn ăng-ten bị bứng hết, và anh em có thể phát biểu vung vít, thoải mái, trong nội bộ từng nhóm. Bảy năm rồi còn gì! Ðau khổ đã thành thói quen. Nhớ vợ thương con cũng đã chìm sâu vào tận cuối hồn. Không còn những anh đêm khuya khóc rưng rức trong chăn của thời gian đầu xa gia đình êm ấm. Trái tim hóa thành đá hết rồi. Giờ đây, phản kháng, dưới hình thức nào đó, bùng lên từ sự chịu đựng câm nín dồn ép qua nhiều năm. Có người khai bệnh nghỉ lao động dài dài. Hoặc giả khùng chửi xéo chế độ. Hoặc còn đập cả vệ binh hỗn láo để rồi, dĩ nhiên, bị biệt giam và hành hạ dã man. Nguyễn bắt đầu để râu, làm tên quản giáo Vinh –nói ngọng, chữ tr thành t, chữ lthành n– rất ngứa mắt, bắt kiểm điểm, nên thấy hắn từ xa chàng lánh mặt.
    Trong buồng giam có một anh chuyên "chiếu phim", tức kể chuyện, thật hay và duyên dáng. Tối đến, tù nhân bu quanh, thay nhau rót trà, mời kẹo, đấm lưng cho anh ta, để được nghe kể đủ thứ chuyện, từ Cô gái Ðồ Long đến La valse dans l’ombre quaThần điêu đại hiệp. Một anh nữa, Trung úy Phạm Hữu Lý, xuất thân trường Ðại học CTCT, hát nhạc vàng rất mùi. Suốt một đêm giao thừa, Lý ca một hơi hơn một chục bản tình lâm ly, như Chiều mưa biên giới anh đi về đâu hoặc Xuân này nếu con không về, chắc mẹ buồn lắm, làm ai nấy mắt cay sè, muốn khóc. Bọn vệ binh gác cửa, đa số là thanh niên mới lớn, nghệt cổ ra nghe, thậm chí còn bảo  "anh lào đó hát nại" vài câu...

    Ðại tá Nguyễn Quốc Quỳnh và hầu hết các nhân vật trong "truyện" này kẻ trước người sau đã đến bến bờ tự do. Từ Rose City, thỉnh thoảng tôi gọi ông hay viết thư thăm hỏi. Đại úy Hoàng Bá Linh, Thiếu tá Lê Ân, Trung tá Đào Văn Bảnh đã mất sau khi ra khỏi tù, trong những hoàn cảnh khác nhau. Phi công Nguyễn Hữu Trí không rõ trôi dạt phương nào, cũng như cha Trần Thanh Cao và thầy Nguyễn Long.
    Mẹ tôi, đã ngoài tám mươi, vẫn còn nơi quê nhà, ở với Huyền Trân và chồng con. Ba tôi mất, không được gặp mặt. Những người em "cải tạo" về, lần lượt định cư tại các nước, trừ Kha chết trong tù. Bội Trân ở vậy, không yêu ai nữa, đúng theo lời thề hứa, trước khi trở thành một nữ tu dòng kín, giữa tuổi thanh xuân, làm nhiều con tim tan nát. Lệ Ngà yên ngủ giấc ngàn thu, sau một cơn bạo bệnh, trả hết cho dương gian những si mê và tình yêu mật đắng. Còn tôi, sau bao năm vật vã để vá lại mảnh đời rách mướp, đã bắt tay được với hạnh phúc – nhỏ nhoi so với nỗi đau ngút ngàn phải trải qua. Nhưng hồn vẫn chơi vơi theo kỷ niệm chỉ chực òa vỡ mỗi lần ở đầu dây tiếng mẹ và em từ bên trời cũ, hoặc Ðại tá Quỳnh từ Florida, vang lên.

     Nữ tu Marie-Amélie Bội Trân nhắc Nguyễn nên tha thứ, tha thứ, tha thứ, và nói tất cả chỉ là thử thách Chúa đã gửi đến. Nhưng đối với bạo quyền Việt Cộng, chàng nói, làm sao tha thứ cho được? Ðó là một bọn người gian manh, độc tài, chuyên chế, đã dìm cả đất nước vào cảnh lầm than, đói khổ, qua ba mươi năm, và bây giờ lại còn đốn mạt dâng đất, dâng biển cho quan thầy Trung Cộng, mối họa muôn đời của dân tộc. Hận thù, Nguyễn sẽ không bao giờ quên, mặc ai phỉnh gạt, kêu gào hòa giải hòa hợp. Vì chàng vẫn tin –theo như lời viên đại tướng tổng tài La Mã nói với Ben-Hur lúc còn là một tù nhân chèo thuyền (galérien) trong phim cùng tên, Ben-Hur– rằng hận thù cho sức mạnh, làm ta sống còn ■
 
 
Portland, cho Mùa Quốc Hận 2015

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên tìm kiếm tự do


 Trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên tìm kiếm tự do - One Young WorldVô cùng xúc động khi được nghe tiếng nói của một người đi tìm Tự Do:  "Yeonmi kể câu truyện về cuộc sống tại Bắc Triều Tiên của mình và kêu gọi hành động chống lại các vi phạm nhân quyền.  Yeonmi đã phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới trẻ Một 2014 tại Dublin."   Mời tất cả xem và phổ biến.