Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

EM GÁI CỦA TRỜI

Chương 1
Sau 5 ngày bỏ nhà đi bụi thì cuối cùng tôi cũng chịu mò về nhà, vì hay tin ngoại tôi chống gậy đi tìm. Ngoại mắt không thấy đường, tai nghễnh ngàng rồi, vừa đi vừa gào tên tôi khắp làng khắp xóm. Nghe thằng bạn kể tới đó thôi tôi cũng không đủ can đảm ở cái chòi vịt nhà nó một thêm ngày nào nữa, sợ thì ít mà thương ngoại thì nhiều, ngoại nuôi tôi từ bé đến giờ, ngoại cưng tôi nhất.
Lần đầu tiên trong đời tôi dạt nhà vì cái lý do chẳng giống ai, đó là ba tôi lấy vợ khác sau hơn 10 năm gà trống nuôi... tôi. Đó là một phụ nữ người gốc Huế, bán bánh bèo lọc nậm ở chợ huyện, quen ba tôi trong một lần ba tôi tới tiêm thuốc cho mấy con heo nhà bả (ba tôi là bác sĩ thú y, gọi thế cho oai chứ chả có bằng cấp gì, toàn bị chúng nó gọi là “bác sĩ heo”). Sau đó thì bả hay ghé nhà tôi vì nhà tôi gần chợ, bả đi bán sẵn ghé luôn, thỉnh  thoảng có mua quà cho tôi, ban đầu thì tôi thích lắm, cho gì cũng lấy. Nhưng sau khi biết ba tôi chuẩn bị lấy bả làm vợ thì tôi vứt hết, vứt sạch. Thậm chí thấy bả tới nhà là tôi bỏ đi ra ngoài, không thèm chào như trước nữa.
Đến trước ngày cưới một hôm thì tôi bỏ đi, mọi người bận bịu quá nên chắc chả ai để ý đến tôi, khiến kế hoạch phá vỡ đám cưới của tôi sụp đổ. Cưới xong mới bắt đầu thấy có người í ới đi tìm. Ừ thì về nhà, chả ai dám nói gì, nói là tôi bỏ đi nữa, bây giờ tôi oai lắm, ai cũng sợ tôi, tôi dám bỏ nhà đi bụi cơ mà. Nghĩ thế nên tôi chả thèm chào hỏi ai, lầm lũi xuống bếp bới cơm rồi mang ra vườn ngồi trên khúc cây đổ ăn, ngấu nghiến như một con chó con đói lâu ngày, xong rồi thì lăn ra ngủ, mặc kệ.
Từ đấy tôi bắt đầu gắt gỏng, thỉnh thoảng còn bỏ ăn, bả gọi tôi không thèm thưa, trả lời thì luôn trống không và chưa một lần tôi gọi bả là mẹ. Tôi cố tình chống đối và tỏ ra khó chịu với mẹ ghẻ, mặc dù bả không làm gì tôi cả. Có lần tôi nghe trộm được bả nói với ba tôi là bả thương tôi như con đẻ, từ từ bả sẽ lấy được thiện cảm của tôi. Đừng mơ lừa được tôi nhé “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời mẹ ghẻ lại thương con chồng” Câu này tôi thuộc lòng từ lâu rồi, tôi thách đấy!
Cứ thế năm tháng sau trôi qua, bả vẫn lầm lũi tiếp cận và lấy lòng tôi, còn tôi thì ngày càng ngang ngạnh, có lúc tôi còn nói hỗn với bả. Ba tôi thì vốn hiền lành như khúc củi, ổng lại bị thọt một chân, chưa bao giờ ổng đánh tôi cả. Thế nên tôi càng được thể lấn tới.
Rồi một ngày bả dắt một con bé về, nó đen nhẻm, tóc đỏ quạnh như cháy, quần áo thì quê mùa. Đích thị là con bé nhà quê vì chỉ có bọn nhà quê mới thắt tóc bím 2 bên và mặc áo tay phồng, bọn con gái lớp tôi nó bảo thế. Nó khúm núm chào tôi, mặt có vẻ sợ hãi vì tôi trừng mắt nhìn nó. Ba tôi bảo nó là con riêng của “mẹ”, ở dưới quê với bà nội, vì học chưa hết học knên bây giờ mới chuyển tới ở được, bảo tôi từ đây chăm sóc bảo ban em học hành.
Tôi chả thèm nói gì, bỏ đi đá bóng, con riêng với chả con chung, rõ là rách việc.Từ ngày có nó tôi lại càng thêm khó chịu, nó đi ra đi vào, đụng cái này ngó cái kia. Cái gì cũng hỏi, cũng cầm lên lắc lắc thử, coi bộ mới thấy lần đầu. Sai nó ủi đồ thì nó lớ ngớ làm cháy mất cái áo đi học vì không biết vặn chỉnh nhiệt độ, bắt nó chép bài hộ thì nó chép ra cả lề vở (sau này tôi mới biết vở nó cuốn nào cũng thế, chép ra lề để tiết kiệm). Đến việc sai mở tivi nó cũng không biết cách, rõ là quê một cục. Tôi bực mình chửi nó: “Mày chưa xem tivi bao giờ à?” Nó đỏ mặt, nó bảo bà nội nó cũng có cái đài casset, nhưng mà chỉ có tiếng, không có hình người.
Tóc nó ban đầu tôi tưởng nó nhuộm, sau hỏi nó mới bảo là ở dưới quê đi chăn bò với lội ruộng nhiều nên nó bị cháy. Nghe thế tôi cười hô hố.. Vào năm thì nó đi học, nó học thua tôi hai lớp, tôi học lớp 8, nó học lớp 6. Trẻ em ở quê thì thường dậy thì muộn, đến lớp 10 tôi mới bắt đầu “lớn”, lớp 8 tôi vẫn còn còi cọc và trẻ con lắm, hầu hết con trai trong lớp tôi đều thế, chả riêng gì tôi. Nó còn thê thảm hơn tôi, gầy đét và còi cọc như con bé tiểu học, mới đầu nghe nó nói nó học lớp 6 tôi còn há mồm không tin.
Nhà có mỗi một chiếc Phượng Hoàng nên ba tôi bắt tôi phải chở nó đi học, mặc dù tôi cực lực phản đối. Mấy ngày đầu tôi phóng cái vèo đi trước, mặc kệ nó lủi thủi đi bộ theo sau. Mẹ nó thì đi bán từ sớm, ba tôi thì không đi xe đạp được với lại cũng chả có xe, thế nên nó phải cuốc bộ đến trường, mặc dù khá xa. Có lần quên tập, tôi chạy ngược xe về nhà thì thấy nó đang mồ hôi nhễ nhại, mặt mũi đỏ gay vì mệt, tôi lấy làm đắc chí lắm, nghĩ bụng: “cho mày chết đi con nhà quê”...
Một lần nó sốt mấy ngày liền do đi học nắng quá, nó vẫn giấu không cho ba tôi và mẹ nó biết vụ tôi không chở nó đi học. Thấy nó nằm rên hử hử trên giường, lúc tỉnh nó còn dặn tôi để quần áo đấy nó giặt, nó đang mệt quá không giặt được. Nghe nó lảm nhảm tự nhiên thấy hơi.. tội tội và có lỗi với nó.
Nó hết sốt và đi học lại thì tôi bắt đầu cho nó đi chung xe, ban đầu nó hơi ngạc nhiên, sau nó cũng lên, suốt cả năm học tôi chở nó, chưa bao giờ tôi thấy nó nói gì. Thỉnh thoảng có nghe nó hát nho nhỏ gì đó, tôi quay lại thì nó lại im. Nó là một đứa khá khó hiểu, mãi cho đến lúc nó đi xa mãi, tôi cũng chưa hiểu được nó, con em gái bé bỏng của tôi….
Chương 2
Sau vài lần bị bạn bè bắt gặp tôi chở con bé đi học, bọn trong lớp tôi ngay lập tức rêu rao cái tin động trời này vào lớp: “Thằng T có bồ rồi tụi bay ơi, thằng T có bồ rồi, bồ nó xấu như con ma lem”. Có thằng còn thề sống thề chết là thấy bọn tôi ôm nhau, đúng là chém gió một cách trắng trợn kinh tởm mà. Tôi thanh minh không được, điên máu gào toáng lên rằng đó là “em họ” tôi, đứa nào còn nói nữa thì cẩn thận ăn đấm. Thấy tôi làm dữ, bọn nó cũng chùn không nói nữa, nhưng tôi để ý bọn con gái nhìn tôi với ánh mắt rất đểu, thỉnh thoảng có đứa còn đưa tay bịt miệng cười hi hí. Thật là một nỗi oan động trời mà, tôi đẹp trai thế này, lại là con của bác sĩ... mà lại đi cặp bồ với một đứa đen đủi xấu xí như thế à, nghĩ sao vậy chứ, thật bực mình hết chỗ nói.
Hôm sau tôi quyết định không chở nó đi nữa, kệ cho nó đi bộ. Nó cũng không nói gì, cúi đầu lặng lẽ rảo bước khi thấy tôi phóng xe đi trước. Nhưng mà đi được một đoạn, ngẫm lại cái hôm nó ốm liệt giường, thều thào xin lỗi đến tội nghiệp vì không giặt được quần áo, nấu cơm cho tôi được, để tôi phải làm, nó nói như là nó có lỗi lắm ấy… Tôi quay xe lại, dù sao thì…
Từ xa xa tôi thấy nó đang lững thững đi, trông dáng nó bé tí teo như cục kẹo vậy, trên lưng là cái cặp to tướng. À mà không giống cục kẹo lắm, nhìn kỹ thì giống con rùa con hơn, một con rùa cả nghĩa đen và nghĩa bóng… Tôi bảo nó lên xe, nó im lặng bước lên, cũng lại chả nói gì. Nó như là bản sao của mẹ nó vậy, không bao giờ chống đối hay hỏi han điều gì, mẹ con nó như những người phụ nữ ở nhà thống lý Pá Tra ngày xưa…
Tôi đi đường tắt để tránh sự dòm ngó của bọn trong lớp, con đường vòng vo và vắng nhà cửa. Tôi chở nó chạy xe băng băng qua vườn điều, vườn cam, vườn mía, băng qua cả những ngày tôi phởn chí dừng xe lại trèo vào bứt trộm ổi cho nó ăn, nó ở ngoài trông xe mà mặt tái mét, băng qua cả những lần tôi điên tiết bỏ nó giữa đường cho nó đi bộ, làm nó bị trễ cả giờ kiểm tra, băng qua cả những hôm bị xịt lốp xe, hỏng xe, tôi thì dắt, nó đi phía sau phì phò đẩy hộ... Bây giờ thỉnh thoảng có dịp về quê tôi hay xách chiếc xe đạp ngày xưa đi ngang con đường ấy để tìm lại kỉ niệm, có những lúc giật mình buột miệng gì đó mà không thấy ai trả lời, tôi quay lại nhìn phía sau, không còn thấy cô em gầy gò của tôi hai tay bám chặt vào yên xe, mặt ngơ ngác thay cho câu hỏi nữa... Bất giác tôi không còn sức để đi tiếp, dừng xe lại… nước mắt chảy dài...
Ngày ấy bọn tôi hay có trò chơi gảy hình, hình Songoku và dũng sĩ Héc-man. Trong lớp tôi hầu như ngày nào cũng mở hội gảy hình trước giờ học. Tôi chơi dở tệ nên thường xuyên thua sạch, bao nhiêu tiền ba tôi cho mua sách vở bút mực tôi đều mua hình và cống nạp hết cho tụi bạn. Hôm đấy cay cú vì lời thách thức của thằng bạn quá mà hết sạch tiền, tôi chả biết làm sao cả. Ba tôi thì đi vắng chưa về nên không nói xạo để xin tiền được. Tôi đánh liều... Lục cặp của nó trộm tiền, vì tôi biết mẹ nó hay dấm dúi tiền cho nó mua mấy thứ linh tinh của bọn con gái. Định bụng khi thắng cuộc tôi sẽ bán hình lại lấy tiền rồi khéo léo bỏ vào trả lại cho nó như không có chuyện gì xảy ra. Ai ngờ đâu... tôi thua sạch sẽ…
Cả ngày hôm đấy tôi cứ lấm la lấm lét nhìn nó, tôi chỉ sợ nó méc mẹ nó hay ba tôi. Rồi thì ba tôi vặn hỏi, tôi sẽ lắp bắp, rồi thì lộ ra cả chuyện tôi không mua sách vở, rồi thì… lúc đấy thì chỉ có mà nhục hơn chết.
Nhưng mà quái lạ là tôi không thấy nó nói gì, tôi chắc chắn là nó đã biết vì tôi thấy nó soạn sách vở đi học, có lôi mấy thứ trong cái ngăn đựng tiền ra. Nhưng dù sao, tôi cũng thở phào nhẹ nhõm như vừa thoát được một kiếp nạn…
Mãi sau này tôi mới phát hiện ra một điều, nó là đứa con gái duy nhất trong trường đội nón lá đi học. Trước đây tôi tưởng điều đó là bình thường vì thấy cô, dì, hay những phụ nữ tôi quen đều đội như vậy. Nhưng khi nghe con gái trong lớp xì xào: “con bồ thằng T nó vẫn đội nón lá đi học đấy, đúng là gái dưới quê lên có khác” thì tôi mới chột dạ, như thế là nhà quê, là không hợp thời…
Tôi về nhà lôi nó ra hỏi: “Con kia, sao mày lại đội nón lá đi học, đây có phải như dưới quê mày đâu, mày không biết xấu hổ à?”. Nó lí nhí: “Tiền em dành được để mua nón hoa, em làm mất rồi”. Tôi đứng hình và hiểu ra ngay, thì ra những khi mẹ nó cho nó tiền mua quà, mua bút sách này nọ, nó đều tiết kiệm lại, vở nó viết ra cả lề, nó tính nháp ra chằng chịt cái bàn học vì sợ tốn giấy, trong khi tôi thì giật giấy trắng trong tập gấp máy bay phi ầm ầm, bộ đồ đi học của nó, cũng là được “thừa kế” của một người chị họ, sách giáo khoa của nó cũng là đi mượn về, nhiều quyển còn bị xé lam nham… Nó tiết kiệm từng đồng từng xu để rồi cuối cùng bị thằng khốn nạn như tôi ăn cắp mất…
Tôi đuổi nó vào rồi ngồi thẫn thờ một lúc, lần đầu tiên tôi nhận ra một điều là dù sao nó cũng là một đứa con gái, cũng biết xấu hổ khi bạn bè chê cười, cũng thích nơ kẹp tóc và nón hoa như bao đứa khác... Tôi thấy ân hận ghê gớm, tâm trạng nặng nề kéo dài mãi đến tận mấy hôm sau...
Chương 3
Những ngày tháng trẻ con vụng dại ấy rồi cũng trôi qua nhanh chóng, vẫn chiếc ngựa chiến ấy, tôi chở nó băng băng qua tuổi thơ, băng qua những ngày tháng cuối cùng của đời học sinh ở trường huyện, nhưng tôi không còn cố tình phóng nhanh để cho nó hoảng sợ nữa, tôi không còn bắt nó đi bộ một đoạn rất xa khi gần đến trường để tránh bị phát hiện nữa. Tôi chở thẳng nó vào trường, như thể một thằng anh trai chở em gái đi học. Ừ, nó là em gái tôi mà, lần đầu tiên trong đời tôi có em gái, nó lại ngoan và hiền như thế, có lý do gì để tôi bắt nạt nó hoài cơ chứ… Tôi nhận ra điều này, tuy muộn nhưng không trễ. Nó thấy tôi bắt đầu đối tốt với nó, không còn quát mắng nó như xưa nữa, không còn dọa đánh nó mỗi lần nó làm gì lớ ngớ nữa… Nó không nói gì nhưng nó nhìn tôi lạ lắm, không còn thái độ sợ sệt như trước đây nữa, hình như mắt nó có gì đó long lanh… Nếu nó là con cún con, tôi ắt hẳn nó sẽ vẫy vẫy cái đuôi bé tí…
Một ngày cuối năm lớp 9, tôi đang ngồi học trong lớp thì nó ở đâu chạy vào, nước mắt nước mũi tèm nhem: “Ba bị tông xe rồi anh Bi ơi, người ta đưa vô bệnh viện rồi…”

Tôi chở nó phóng như bay vào bệnh viện, sáng nay có người mang ô tô đến chở ba tôi đi vào xã chích ngừa cho gia súc, bảo là chiều sẽ về…
Vừa để nó xuống xe, tôi phóng như bay vào phòng cấp cứu, tôi biết nó ở chỗ nào vì bà ngoại tôi từng 2 lần nằm ở đây. Cô dì chú bác họ hàng tôi đứng chật ngoài phòng cấp cứu, ba tôi vốn hiền lành và tốt bụng nên được cả họ quý mến… Cô tôi thấy tôi đến thì chạy lại ôm chồm lấy tôi khóc nức nở. Tôi hoảng loạn mặt mày tái mét, miệng lắp bắp: “ba… ba con... sao rồi cô?” Cô không trả lời mà đưa tay lên bụm miệng rồi nấc càng mạnh... Tôi hoảng quá, chạy lại túm lấy anh tôi, chú tôi, bác tôi… gào toáng lên: “ba con sao rồi, ba con sao rồi…”. Không ai đủ dũng khí để nói gì với tôi, một thằng mất mẹ từ năm 3 tuổi... Họ sợ phải chính miệng thốt ra với tôi rằng: “Bi à, ba con mất rồi…”…

Từ ngày ba tôi mất, tôi biến thành một người hoàn toàn khác, không còn muốn quậy phá làng xóm nữa, không còn muốn đùa giỡn chạy nhảy nữa, tôi gần như là một cái xác không hồn… Bạn bè cũng nhìn tôi bằng ánh mắt khác, một ánh mắt đầy thương hại, lớp tôi còn tổ chức đến nhà tôi ”thăm và chia sẻ” với tôi, tôi biết thế nên trốn sang nhà ngoại, tôi chẳng cần ai thương hại hết, tôi chẳng cần ai hết, tôi chỉ cần ba tôi mà thôi… ba ơi…
Con em gái tôi, từ dạo đó cũng trở nên ít nói hơn. Hằng ngày tôi vẫn chở nó đi học, vì tôi chỉ còn vài tháng ngắn ngủi nữa là hết cấp 2 rồi, dù sao thì như ngoại tôi nói, tôi phải cố học để ba mẹ tôi ở dưới suối vàng được yên lòng...
Cô tôi sang nhà nói chuyện với mẹ kế của tôi về việc để tôi qua nhà cô ở, cô sẽ nuôi và chăm sóc tôi. Tôi ở trong buồng nghe mẹ kế nói, chậm rãi và từ tốn bằng giọng Huế khá nặng, rằng bà thương tôi như con, ba tôi mất rồi nên bà phải có trách nhiệm nuôi nấng tôi nên người, bà nhất định không để tôi phải khổ…
Từ đấy mẹ kế tôi nuôi tôi và em gái bằng gánh hàng chợ nắng đắt mưa ế, bằng những buổi sáng dậy sớm tinh sương để nặn nặn gói gói chiên chiên xào xào. Tôi nghe hai mẹ con họ thì thầm, để tránh gây ồn “cho anh Bi ngủ... “, tôi nghe con em kể chuyện đi học ở trường, tôi nghe họ nói đến những gì cao xa và tốt đẹp lắm... Chiếc đèn Hoa Kỳ treo ở bếp in bóng hai người phụ nữ bé nhỏ ấy vào tường, in cả vào những giấc mơ của tôi sau này, giấc mơ có mùi hành phi thơm phức… Con bé em tôi từ dạo đấy phải dậy sớm để phụ mẹ nên bị thiếu ngủ, có lần tôi chở nó đi học, quay xe lại nhìn thì thấy tay nó vẫn bám chặt yên, nhưng mắt thì đã nhắm nghiền từ lúc nào, lông mi nó dài và cong lắm…
Nhiều lần tôi áy náy quá, cố dậy theo để phụ làm bánh, nhưng mẹ kế nhất quyết không cho, nằng nặc bảo tôi đi ngủ, bà nói rằng chỉ còn vài tháng nữa là thi chuyển cấp 3 rồi, tôi nhất định phải đậu trường chuyên trên tỉnh, cứ học giỏi vào là khổ bao nhiêu bà cũng chịu được, còn con Luyến (em gái tôi) thì chưa phải chuyển cấp nên để nó phụ. Bà xua tôi vào ngủ như xua tà…
Cuối cùng tôi cũng đậu vào trường chuyên trên thị xã thật, con em tôi là người biết đầu tiên. Nó cầm tờ giấy báo phóng ra ngoài mương câu cá để tìm tôi, bộ dạng nó hớn hở còn hơn cả tôi. Nó đưa tôi tờ giấy, mắt nó mở to và rạng rỡ: “anh Bi xem này. “. Tôi cầm tờ giấy báo trên tay, vui thì ít mà nhớ ba tôi thì nhiều... Nếu ba tôi mà còn sống, chắc chắn ông sẽ vứt cả nạng mà chạy đi tìm tôi… “Bi phải thi khối B, làm hẳn bác sĩ, bác sĩ thật, chứ không phải bác sĩ heo như ba… ”
Chương 4
Trường mới cách nhà tôi gần 50km, tất nhiên là với chiếc xe đạp cọc cạch, tôi không thể nào đạp xe đến trường với một khoảng cách xa như vậy được. Vì vậy chắc chắn nếu tôi đi học cấp 3 trên đấy, tôi phải trọ học, phải xa nhà. Vấn đề ở đây không phải là tôi không muốn đi học xa, mà là vì nếu ở trọ thì sẽ có biết bao nhiêu vấn đề phát sinh. Tiền nhà trọ, tiền ăn, tiền học, tiền điện, tiền nước... Tiền tiền tiền, thứ mà nhà tôi thiếu nhất vào lúc này, khi trụ cột là ba tôi đã không còn nữa...
Lúc ngồi ăn cơm, tôi bảo với mẹ kế: ”Thôi con ở nhà học cũng được, ở trọ rồi tiền đâu mà học, với lại con thích ở nhà thôi, lên đó biết chơi với ai”. Bà nghe vậy thì dừng đũa, nói với tôi một cách nghiêm nghị nhất: “Con nghe cô, con nhất định phải đi học, cô còn lo được thì con cứ an tâm mà học hành, sau này cô già yếu không còn sức nữa thì con còn phải thay cô lo cho con Luyến nữa chứ… ”. Bà nói nhiều lắm, đại ý như là tôi phải hoàn thành tâm nguyện của ba tôi, sau này tương lai còn dài lắm, rồi thì cứ học thật giỏi, phải làm gương cho em... Bà ít học, nửa chữ cắn đôi bà cũng không biết, nên bà cảm nhận được cái sự khổ của việc không được đến trường, được đi học... Con Luyến nó cũng ngồi im nghe, nó cũng mong tôi đi học lắm, nó còn bảo sau này nó cũng muốn vào trường chuyên như tôi, nó sẽ học để làm cô giáo…
Một ngày cuối tháng tám, tôi dậy rất sớm để chuẩn bị lên đường, áo len mũ trùm kín mít vì trời lạnh. Chiếc balo đã chật cứng quần áo con Luyến nó xếp vào cho tôi hôm qua, một cái bao đựng hũ ruốc khô mẹ kế làm, một bao gạo đựng trong túi cám con cò, vài thứ vật dụng linh tinh… Ngày ấy phương tiện di chuyển còn ít, đi đâu xa xa là phải đi bằng ô tô than, mỗi lần ba tôi đi lên thị xã mua thuốc hay học lớp kỹ năng nông nghiệp về là áo quần ướt đẫm mồ hôi và bồ hóng bụi than thì bám đen kịt, lấm lem mặt mũi như Bao Công...
Đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi rời khỏi cái phố huyện nghèo, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Mẹ kế hôm đấy vẫn đi bán, vì nghỉ bán một ngày là cụt vốn ngay. Tối hôm trước bà đã dặn dò tôi đủ điều rồi, ngồi nghe căn dặn, tôi bắt đầu cảm nhận được tình cảm của bà dành cho tôi, đứa con riêng của chồng suốt ngày chỉ biết chống đối và quậy phá…
Tôi chở con Luyến qua nhà ngoại, để nó ngồi sau ôm ba lô và đồ đạc cho tôi. Ngoại tôi biết là sáng nay tôi sẽ qua nên đã chống gậy đứng sẵn ngoài cửa chờ từ lúc nào. Ngồi nói chuyện với ngoại một lúc thì tôi chào ngoại về để kịp xe, ngoại dúi cho tôi một cục tiền lẻ cuộn tròn và cột chặt bằng dây thun, bảo tôi cầm lấy thỉnh thoảng ăn quà, cục tiền tròn vo và cũ kỹ, có lẽ ngoại đã dành từ rất lâu rồi… Ngoại dặn tôi phải học cho giỏi để làm bác sĩ, để về chữa bệnh đau lưng cho bà, để chữa mắt cho bà, để bà lại được dịp đi lòng vòng khắp xóm để khoe “Thằng cu Bi nhà tôi nó đậu to lắm, đậu trường to nhất trên thị xã…”… Giờ tôi cũng đã thành bác sĩ, nhưng ngoại tôi thì đã đi xa lắm rồi…
Bến xe quê tôi thực chất nó chỉ là một khu đất trống gần chợ, sáng thì nó là bến xe, quá trưa thì thành chỗ phơi cá khô của tiểu thương trong chợ, chiều thì thành chỗ đá bóng của trẻ con. Con Luyến nó nhất quyết chờ tôi lên xe rồi mới chịu về, tôi bị nhét ra hàng ghế sau cùng, tôi úp mặt vào cửa kính phía sau xe, nhìn ra cái bóng bé tẹo của nó xa dần xa dần trong lớp sương mờ của buổi sáng miền núi. Sau này có dịp đi ô tô, xe bus, tôi thường chọn cho mình dãy ghế sau cùng, chỗ mà người ta tránh nhất, để thỉnh thoảng nhìn ra cửa kính, tìm kiếm một cái gì đó, một cái gì đó thật mơ hồ…
Chương 5
Trường trên thị xã khác hẳn ở dưới quê tôi, tuy không mát mẻ và nhiều bóng cây bằng nhưng rất rộng và sạch sẽ. Sau hai ngày đầu bỡ ngỡ thì anh con của bác hàng xóm dưới quê cũng tìm được cho tôi một phòng trọ ở gần trường, ở chung với một anh người Tày lành như đất lên thị xã học theo diện chính sách.
Ngoài giờ đi học thì tôi hay lăng quăng ra bờ hồ gần trường để đi dạo, ra sân vận động xem đá bóng, thỉnh thoảng buồn quá thì trèo lên cái cột nước ở gần trường để ngồi ngắm nhà cửa, xe cộ, cây cối bé tẹo ở phía dưới. Học trường mới lớp mới, trong lớp toàn học sinh của thị xã con nhà khá giả nên với bộ dạng hai lúa và khù khờ của mình, tôi hầu như không thể hòa nhập được với bọn chúng. À mà thật ra tôi cũng chả muốn chơi với ai cả, chỉ muốn đi học rồi về, ai hỏi thì trả lời, không thì thôi, có hôm cả ngày tôi không nói tiếng nào. Một thời gian thì tôi bị liệt vào thành phần lập dị trong lớp, nhưng tôi chả mấy quan tâm về điều này.
Cứ đều đặn đầu tháng là mẹ kế tôi gởi gạo, tiền, mắm muối và những thứ cần thiết lên cho tôi. Tháng nào cũng như tháng nào, chưa một lần bà để tôi đói hay thiếu thốn. Thỉnh thoảng con em tôi nó có biên thư lên, lá thư của nó thường có ba phần, một phần của ngoại tôi, một phần của mẹ kế, và một dòng ngắn ngủn của nó cuối thư “Anh Bi ráng học cho giỏi nghen...”. Hầu như lần nào cũng chỉ có vậy, nhưng tôi vẫn háo hức khi mỗi lần nhận được thư của nó, nét chữ của nó tròn vo và nắn nót, tôi đọc được nét mặt của nó trong thư...
Mặc dù trường cách nhà tôi cũng không xa lắm, chỉ khoảng 50 cây số, nhưng ngày xưa đi lại khó khăn và cũng sợ tốn kém nên tôi ở một lèo đến giáp Tết cũng chưa chịu về nhà.
Hôm ấy đi học về thì tôi thấy con Luyến đứng trước nhà, tay cầm mảnh giấy ghi địa chỉ. Tôi ngạc nhiên lắm, chạy ngay lại hỏi nó: “Mày đạp xe lên đây à, xa thế mà mày cũng đi được, mày có hâm không đấy?”
Nó bảo với tôi là nó được nghỉ 2 ngày nên lên thăm tôi, nó đi từ lúc 5 giờ sáng bây giờ mới tới. Với lại nó cũng muốn lên xem thị xã nó như thế nào...
Tôi gỡ những thứ linh tinh trên xe xuống cho nó. Gạo, bánh của ngoại, nửa con vịt của cô, và một bọc bánh tráng nướng nát vụn vì đi đường xa...
Tối hôm đấy nó ngủ lại phòng tôi vì tôi không cho nó đi xe về buổi tối, sợ nguy hiểm. Anh người Tày biết ý nên sang nhà hàng xóm ngủ nhờ và cũng vì cái phòng tôi bé tẹo nên không đủ chỗ cho ba người. Nó đi đường xa mệt nên đi tắm rồi lăn quay ra ngủ. Tôi thì ngồi học bài đến khuya…
Phòng của tôi chỉ rộng 12m2 và kê đủ thứ linh tinh rồi nên chỗ ngủ cũng là chỗ ăn cơm, chỗ tiếp khách. Tôi nằm xuống cạnh nó, lần đầu tiên trong đời tôi nằm gần một đứa con gái như thế. Tôi quay mặt vào tường nhưng có cái gì đó thôi thúc, thôi thúc khiến tôi quay sang nhìn nó. Con em tôi học lớp 8 rồi, cũng bắt đầu lớn rồi. Trong ánh sáng mập mờ của cái đèn học tôi chợt nhận ra nó không còn là con bé đen nhẻm dạo trước nữa. Hai năm ở nhà tôi không phải chăn trâu bắt ốc, không phải ăn uống khổ cực nữa nên nó đã mập và da dẻ đã trắng lên rất nhiều. Tôi nằm nghiêng đối diện nó, tự nhiên tôi nhận ra là so với tất cả con gái tôi từng gặp hay học chung, không có đứa nào đẹp bằng nó cả... Nó xinh lắm, xinh ghê gớm, sao bây giờ tôi mới nhận ra nhỉ, hay là tôi xa nhà nửa năm nên nhìn nó lạ đi…
Năm ấy tôi cũng đã bắt đầu dậy thì rồi, cũng vật vã và cào cấu như bao người khác, nhưng chuyện ấy và con gái đối với tôi là một cái gì đó rất mơ hồ và siêu thực. Tôi không biết là mình muốn gì và cần gì nữa, tôi đón nhận sự thay đổi của cơ thể, của tâm lý một cách tự nhiên và thuần khiết nhất…
Tôi nằm ngắm trộm nó đến nửa đêm thì bỏ ra ngoài đi dạo. Tôi sợ chính mình, sợ chính đôi bàn tay run cầm cập thò ra lại rụt vào của mình, sợ chính cơ thể mình. Sợ con bé nằm ngủ ngoan như thiên thần trước mặt mình... Tôi thấy mình thật ghê tởm và xấu xa như con quỷ...
Sáng hôm sau tôi viết giấy xin phép nghỉ học rồi chở đi nó dạo quanh thị xã. Chỉ còn hơn nửa tháng nửa là Tết nên đường phố đẹp lạ lùng, hay là điều gì khác trong tôi khiến tôi thấy nó bỗng nhiên đẹp nhỉ. Tôi cũng không biết nữa, chỉ biết con em tôi nó cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn ngắm những dãy nhà cao tầng, khu chợ nhộn nhịp đông đúc khác hẳn với cái chợ nhỏ vắng teo ở nhà...
Tôi chở nó qua trường tôi đang học cho nó xem, mua cho nó chiếc bánh kẹp trước cổng trường mà ở dưới quê không có, mua cả cho nó một cái bờm kẹp tóc. Lâu lắm rồi tôi mới thấy nó cười, nó cười cũng không giống những đứa con gái khác, có cái gì đó buồn xa xăm, mặc dù tôi biết là nó vui thật...
Lúc nó về, tôi buột miệng bảo nó: “Em đi xe cẩn thận đấy, về nhà thì qua nhà cô Tư gọi điện lên cho anh, cái số anh vừa chép ấy''. Nói xong tôi mới nhớ đây là lần đầu tôi gọi nó bằng em, thôi kệ, tôi thấy tôi và nó cũng đủ lớn để gọi như thế rồi, và tôi biết, điều đó khiến nó vui...
Chương 6
Hai mươi chín giáp Tết tôi mới về đến nhà, bà ngoại với cô tôi chờ sẵn ở nhà tôi từ lúc nào rồi, lúc ăn cơm họ hỏi han tôi đủ thứ rồi lắng yên nghe tôi kể chuyện học trên thị xã, kể về nhà cửa phố phường, về những thứ mà dưới quê tôi không có, về tất tần tật những chuyện xảy ra trong nửa năm tôi xa nhà. Lần đầu tôi đi xa nên ăn cơm gia đình tôi thấy ngon và ấm cúng lạ thường, không chê ỏng eo như ngày còn ở quê nữa. Tôi thấy mình thật dại khi trước đây không biết trân trọng những bữa cơm đông đủ ở nhà...
Tối đấy tôi chở con Luyến đi dạo, tôi bảo nó kể cho tôi nghe chuyện ở nhà, chuyện học hành của nó, chuyện linh tinh xóm làng. Nó ngồi sau tôi thì thầm to nhỏ chuyện anh hàng xóm mới lấy vợ, chuyện con chó ở nhà đẻ được hai con, biết ăn cơm thì nó cắp ra chợ bán, chuyện bà ngoại hay chống gậy sang hỏi bao giờ thì thằng Bi nó về, chuyện về trường cấp 2 mới xây thêm một dãy nhà nữa...
Ngày ấy quê tôi chưa có đèn đường, nhưng vì gần Tết nên nhà nào cũng thắp đèn sáng trưng để gói bánh, để thịt gà thịt heo... Tôi chở nó đi xa tít, ra tận con đập nước ngoài ven, chỗ mà ngày còn ở nhà tôi hay ra tắm với lũ bạn. Ngồi trên bờ đập nước, gió thổi mát lạnh, nói chuyện với nó, tôi phát hiện ra rằng nó đã khác xưa rất nhiều, cũng đã bắt đầu hiểu chuyện chứ không có khù khờ như dạo mới lên nữa... Nó đã lớn thật rồi, chí ít là trong suy nghĩ...
Lúc nằm mơ màng ngủ, nhớ lại lúc ở trên con đập, tôi chợt thấy xao xuyến lạ kì, sao hồi nãy nó cười duyên thế nhỉ, sao hôm nay nó lại kẹp cái bờm của tôi mua cho nhỉ, trông đáng yêu và gọn gàng lắm, không có bù xù như ngày trước... Tôi có tâm trạng ấy cũng là vì lên cấp 3, tôi được đọc cuốn sách về tình yêu đầu tiên trong đời, hình như là quyển ''Đồi gió hú''... Nói cách khác, là tôi đã bắt đầu biết mơ mộng, mơ mộng những thứ mà trước đó tôi cho rằng vớ vẩn và đáng khinh...
Đấy là năm 1995, năm đầu tiên cấm nổ pháo vào dịp Tết. Tết trở nên kém vui hẳn đi. Với lại nhà tôi đang có tang nên tôi cũng chẳng muốn đi đâu, mấy ngày Tết quanh quẩn ở nhà một mình với chiếc ti vi trắng đen có cái chốt vặn cọt kẹt. Mùng 5 Tết thì nó về nhà, nó đi về quê thăm bà nội từ hôm mồng 2, hôm nay phải về để mùng 7 còn đi học lại. Nó bước vào nhà, mặc chiếc váy màu xanh gấp nếp, áo sơ mi trắng cổ tròn. Đấy là kiểu thời trang ngày xưa của hầu hết tụi con gái quê tôi. Giấu vẻ ngạc nhiên khi lần đầu thấy nó mặc váy, tôi gật đầu khi nó chào rồi tiếp tục hướng mắt vào tivi. Nhưng thật ra, thật ra tôi tò mò kinh khủng, tôi muốn quay sang nhìn nó, nhìn dáng nó trong chiếc váy, nhìn thấy nó lần đầu ăn diện. Tôi cố gắng kiềm chế để nhìn lên tivi, cố gắng không quay sang nhìn nó, cũng không biết vì sao tôi làm lại thế nữa. Tôi chỉ biết là mặc dù nhìn thế, nhưng tôi không biết là tivi đang chiếu cái gì, đơn giản là vì tâm trí và ý nghĩ của tôi thuộc về nơi khác...
Tôi lên thị xã học lại, mang theo nỗi bâng khuâng klạ về cô em gái. Hình ảnh nó hôm Tết cứ ám ảnh tôi mãi, nó đi vào cả những giấc mơ, những buổi chiều thơ thẩn, những lúc ngồi trên bồn nước cao, trong lớp học, thậm chí nó lờ mờ hiện ra cả trên mặt nước bờ hồ, khiến tôi phải giật mình cứ ngỡ là đang ngủ gật...
Đến tháng năm, lúc mà ve đã râm ran chuẩn bị vào hè thì cô tôi biên thư lên bảo tôi về nhà gấp. Tôi thấy kì lạ là sao không phải là em gái tôi, mà lại là cô tôi. Giọng của cô trong thư cũng gấp gáp lạ thường. Chiều hôm đấy học xong tôi bắt xe rồi về quê ngay trong đêm...
Chương 7
May là hôm đấy tôi về ngay, chứ còn chần chừ đến sáng hôm sau thì tôi đã không còn được gặp mẹ kế lần cuối nữa. Bà nằm trên giường, vẫn tỉnh táo và nói chuyện được, nhưng bụng rất to như có chửa sắp sinh, da thì tái nhợt. Cô tôi nói, bà bị xơ gan cổ trướng giai đoạn cuối, trạm xá trả về tối qua...
Con Luyến nó ngồi cạnh mẹ, tay nắm chặt lấy mẹ. Tôi không biết là nó gan lỳ không khóc để tránh mẹ nó buồn, hay là nó đã trốn vào góc nào đó khóc hết nước mắt rồi. Mặt nó phờ phạc đi vì thức đêm trông mẹ, vì lo lắng, vì sợ hãi... Bà ngoại tôi thì khóc hết nước mắt, bà bảo bà có một đứa “con gái” như mẹ là phúc của cả đời bà, phúc của thằng Cảng (bố tôi), phúc của thằng Bi...
Tôi ra ngoài ngồi ủ rũ chẳng biết nói gì hơn, chẳng biết phải làm gì trong lúc này. Một lúc sau thì cô tôi ra gọi tôi vào buồng để mẹ kế tôi gặp. Bà nắm chặt tay tôi, thều thào bảo tôi phải học thật giỏi để đỗ đạt cao, để sau này lo cho con Luyến... Bà nấc lên mấy cái rồi nhắm mắt. Con Luyến thấy thế gào thảm thiết, gào như điên như dại. Cả nhà tôi, bà con chòm xóm đến thăm cũng đồng loạt ôm mặt khóc nức nở. Đến lúc này tôi cũng không nén được nữa, tôi nắm chặt lấy tay mẹ: “Mẹ ơi... mẹ ơi...”. Đấy là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi gọi Mẹ bằng Mẹ. Cái từ mà tưởng như đã chết hẳn trong tôi từ lâu lắm rồi...
Mẹ không sinh ra tôi, nhưng đôi quang gánh của bà đã gánh tôi trên vai, gánh cả những tủi nhục của phận làm vợ kế, gánh cả đứa con gái nhặt được ở ngoài mương về nuôi nấng chăm sóc nó như con đẻ, để nó thành em gái tôi như bây giờ. Tình thương của mẹ mênh mông và rộng lớn quá, đến khi mẹ mất đi rồi tôi mới nhận ra thì đã quá muộn. Ngay cả lúc mẹ sắp ra đi, bà cũng cố dặn cả nhà đừng báo cho tôi biết vì sợ tôi lo lắng mà ảnh hưởng học hành. Thỉnh thoảng có nghe ai đó ru con: “Mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời mẹ ghẻ lại thương con chồng...” tôi lại nghĩ đến mẹ, nghĩ đến đôi quang gánh của mẹ và cái nhìn trìu mến của bà khi lần đầu gặp tôi: “Cu Bi đây à anh, giống bố nhỉ...”...
Đám tang mẹ xong, tôi lên thị xã thu dọn đồ đạc rồi về ngay. Tôi quyết định bỏ học để theo chú tôi đi xẻ gỗ. Mà tôi có muốn đi học cũng không được nữa vì lấy tiền đâu để mà học, rồi thì ai sẽ lo cho con Luyến. Tôi ở nhà khoảng mười ngày, thấy con Luyến nguôi ngoai phần nào rồi, trong bữa cơm tôi nói với nó: “Mai anh theo chú Bảy đi làm, em ở nhà lo học nhá, cứ nửa tháng anh về một lần”. Nó nghe thế thì quên cả vẻ ủ rũ: “Không được, anh không được bỏ học, anh mà bỏ học thì anh là đồ bất hiếu, không nghe lời ba mẹ, ngày mai anh phải lên trường ngay, ở nhà đã có em lo...”. Nó nói như ra lệnh, người lớn và rất dứt khoát. Tôi hơi bất ngờ khi thấy nó như thế, nhưng vẫn từ tốn bảo nó: “Không phải anh không muốn đi học, anh đã quyết thế rồi, em ở nhà học cho giỏi đi, không được nghĩ ngợi gì hết.”.
Nó thì nằng nặc bảo tôi đi học, tôi thì cứ ôn tồn nói với nó, giải thích cho nó hiểu. Cuối cùng nói không được nữa, nó mới nói toẹt với tôi: “Em bỏ học từ sau Tết rồi, từ mai em sẽ đi bán bánh thay mẹ, anh cứ đi học... Anh nghe em... anh cứ học thật giỏi... Còn em là con gái, học hành rồi cũng chẳng tới đâu... Em theo mẹ đi bán từ mấy tháng nay rồi...”. Đến đây thì tôi shock nặng, bát cơm trên tay tôi tự nhiên nặng trịch, tôi không còn lời nào để nói với nó nữa. Nó là đứa học giỏi nhất trường tôi, chỉ vào học nửa năm nó đã đứng đầu trường, tôi nghĩ thế nên kì vọng vào nó biết nhường nào, vậy mà vì tôi, vì một thằng chẳng phải máu mủ gì... Mãi rất lâu sau này tôi mới biết, khi phát bệnh, biết mình sẽ không qua khỏi nên Mẹ đã bảo nó thôi học, tập đi bán dần để sau này... nuôi tôi ăn học.alt
Sáng hôm sau ngủ dậy thì nó đã đội quang gánh đi bán rồi. Nó để lại cho tôi một mảnh giấy nhỏ, dặn tôi đủ điều. Quần áo của tôi nó đã xếp gọn gàng vào ba lô rồi, trong đó còn có một ít tiền được gói bằng giấy báo, bên ngoài là bọc ni lông, cột rất kỹ càng. Đó là số tiền mẹ để lại cho tôi, cô chú và hàng xóm dấm dúi giúp đỡ... Đủ để cho tôi ăn học trong 2 tháng..
Tôi gạt nước mắt, vác ba lô lên trường để tiếp tục đi học, để lại ở quê cô em gái bé nhỏ hàng ngày vẫn nặng nề đôi gánh trên vai, bước thấp bước cao trên những con dốc chợ miền núi “Ai bèo lọc nậm không...”
(Cusiu)

Để tưởng nhớ Chu Trầm Nguyên Minh

 Phan Thiết 

Về Bình Thới
Đi về,mở cửa ,vắng tênh
Buồn kia ai để một mình ta mang
Trách ai để giọt lệ tràn
Để thương,để nhớ, để mang mang sầu









 4-3-14: Để tưởng nhớ Chu Trầm Nguyên Minh
Con chào chú Sơn, con tên Anh Thư là con gái của Ba con (Chu Trầm Nguyên Minh).
 Con thấy Ba con ghi tặng tập thơ Lời Tình Buồn (03/12/2012): Em Trai NNS, có phải là Chú không ?
 Phiền Chú cho con xin địa chỉ, con sẽ gửi đến Chú.
 Mong tin Chú.
Con cám ơn Chú nhiều.
PhamNguyen AnhThu

Con chào Chú Sơn,

Ba con mất hôm 19/02/2014 rồi Chú. Ba con ra đi rất nhẹ nhàng và đó là ý nguyện cuối cùng của Ba con và gia đình vì bệnh của Ba con thông thường rất đau đớn trước khi mất.

Con đang cố gắng thực hiện những việc Ba con chưa kịp làm. Do đó con xin địa chỉ của Chú để con gửi đến Chú tập thơ Ba con đã  ghi tặng Chú.

Thông tin của Ba con, Chú có thể vào trang web : http://www.art2all.net/

Nếu có dịp về VN Chú có thể liên lạc với con : 44/3 đường số 5 cư xá Bình Thới , P.8, Q.11, Tp.HCM. Cellphone : 0903 943 599


Mong tin Chú. Con cám ơn Chú nhiều. (2-3-14) PhamNguyen AnhThu
Anh đã ra đi thật sao? Vô cùng thương tiếc. Em hay tin trễ, vì công việc quá bận bịu không vào net ... Xin thắp đây một nén Tâm nhang (Em, NNS).
Vũ Thành An: Lời Tình Buồn
Thơ: Chu Trầm Nguyên Minh

Tiếng hát: Thiên Kim & Quốc Khanh
Hoặc có thể vào link sau đây để thưởng thức hơn 600 YouTube đặc sắc khác:

http://www.youtube.com/user/phthoihoa

Tình thân,
Kính.

NNS
..................................................................................................
(1) Chu Trầm Nguyên Minh: Một đời kiên cường (1943- 19/02/2014)
Thời thơ ấu : Phú Bình, Hầm Đá,  Ninh Thuận, Rừng Già, Rãy Nổ, khu Lê Hồng Phong,  Rừng Tròn, Đá Bàn .
Nguyên quán : Phổ Cường , Đức Phổ, Quảng ngãi
Sinh 1943 tại Phú Bình, Hàm Liêm một vùng ngoại ô Phan Thiết
Rồi chuyển về ở Hầm Đá, trên QL8, cách Phan Thiết 6km5, hướng Bắc
Có 6 chị em : chị hai :Trần thị Sâm [chết khi tròn tuổi], chị ba:Trần thị Nhung , chị tư Trần thị Trung , chị năm Trần thị Hiếu,  thứ sáu Trần đức Tâm[CTNM] con trai út Trần hữu Thành .
-Cha theo Việt Minh thỉnh thoảng mới tạt về. Mẹ làm nghề may vá, nuôi  5 chị em
-Thời gian này, kinh tế gia đình sung túc, gia đình có căn nhà ngói đỏ, kiềng đá xanh 1 trong 2 căn nhà  xây ở khu Hầm Đá.
-Bỗng một đêm, người cha về cùng một số đông đội, đập,  phá nát căn nhà thành đống gạch vụn, lý do : “không để Tây đóng đồn”
-Giòng nước mắt Mẹ rơi, cũng là lúc ChuTramNguyenMinh nhận cuộc đời nổi trôi của phận mình
-Ngay đêm đó Cha đưa vợ con vào vùng “Xôi Đậu “ -Tây tàn sát tự do- thôn Ninh Thuận Xã Hàm Chính, gần Chiến Khu Rừng Già, nơi người cha đang ở, thuộc khu Tam Giác Bình Thuận có ba đỉnh là Mường Mán, Ma lâm, Phan Thiết
-“ở đậu”  sau một trận càn là đổi chổ ở,  ba người chị và mẹ đi gặt thuê,  CTNM được đi học “lớp Bình Dân Học Vụ’ của Việt Minh, học ban đêm, mỗi người mang theo đèn dầu “hột Xoài” loại đèn nhỏ,  ít hao dầu .
-Pháp treo giài thưởng,  ai bắt hay đem đầu Trần Hoành  bí danh Tư Úc, cha của CTNM,  rồi sau đó đến vợ,  con. Một thời  CTNM sống trên lưng ‘đồng chí’của cha,  chạy trốn  từ Rãy Nổ,  Rừng Già, Xóm Rơ, Ninh Thuận,  Bàu Sẻ….
-Cha bị Pháp bao vây, không đầu hàng , bị bắn chết khi đơn thân độc mã  chống lại cả đại đội Pháp. Mộ chôn tại Chiến Khu Rừng Già. Khoảng 1947 .
-Mẹ đem các con lên rừng, cất chòi, sống bên mộ cha  -ở đây có điều không quên :
        + Chòi cất dưới cây Cức Mọc, loại cây rất cao, ở cháng 3 trên ngọn,  có một tổ chim làm bằng cây khô nhỏ  của vợ chồng Đại Bàng, [hay Kênh Kênh, Ó…]sáng chiều chúng gắp rắn,  gà,  thỏ,,, mang về cho con ăn,  nhất là rắn, vắt một vệt dài màu đen trên nền trời …và tiếng la..hoang dã,  dị thường
         + Gia đình : Chị và mẹ không đủ quần để mặc, phải mặc chung, CTNM và đứa em..ở truồng là chính.  Mền đắp hằng đêm là bao bố đựng gạo  tháo chỉ,  thức ăn chính khoai mì [sắn]
         + Gần chòi là nơi đóng quân của Đại Đội Phạm Hồng Thái, một đêm đánh đồn Ma Lâm,  rút về.  Lần đầu tiên CTNM thấy người chết và bị thương nhiều như vậy,  nỗi kinh hoàng thành ám ảnh
          +Tiếng chim đa đa…
          +hình ảnh Mẹ …chiều  chiều ngồi bên mộ Cha
Mãn tang cha,  mẹ đưa gia đình về lại Ninh Thuận,  lập lại cuộc đời cũ, gặt thuê,  làm mướn,  mẹ và các chị chung tay nuôi gia đình,  thời này có mấy việc :
           +người chị Cả,  Trần thị Nhung,  có chồng -một cán bộ Việt Minh - Chị về làm dâu ở Phan Thiết .
          + Em út, Trần hữu Thành bị móc chê Pháp câu chết .
         + Quân Pháp thua ở Nà Sản phía Bắc, rút về Nam,  chúng chọn Tam Giác để báo thù,  trận bố kinh hoàng xảy ra, “Trận Bố Ba Ngày” , biết bao xương máu đồng bào Tam Giác đổ xuống trên quê hương này.  CTNM ngơ ngác trong nỗi kinh hoàng .
          +CTNM và người chị kế Trần thị Hiếu, được “nhà nước Việt Minh” đưa đi học ở trường Trung Bình tại chiến khu Lê Hồng Phong [thời chống Pháp,  Việt Minh có ba trường ở Miền Nam, trường ở Đồng bằng Sông Cửu Long [tôi quên tên] , trường Lê Khiết ở Quảng Ngãi và trường ở  Cực Nam Trung Bộ,  ở giữa,  nên là Trung Bình] người “trên tỉnh” về đưa chị em CTNM đi  là cán bộ nữ tên Nguyệt, phải nhiều lần hẹn giao liên, Chị Nguyệt đưa chúng tôi vượt QL8 vào một đêm tối, có lúc phải nằm mẹp, có lúc bò , có lúc chạy..qua Xoai Quỳ,  Sa Ra,  Giếng Chanh và đến khu Lê. CTNM học ở đây gần hai năm..thì “má bệnh nặng , hai em về gấp” , chị em chúng tôi lại nhờ “tổ chức”đưa từ khu Lê về Phan Thiết .
Trước khi đến nhà anh Từ Thế Mông, chừng 50m,  bên phải,  ngày xưa có dãy nhà gạch dài,  đó là “nhà thương thí”   mẹ  CTNM đang nằm ở đây.
Hai chị em, đi như chạy trên hành lang ..bỗng cả hai quỳ xuống ôm cứng cái xác chết mà người ta trùm kín, trên băng ca, đem xuống nhà xác ..cả hai cùng òa khóc “Má ơi”.
Sau này, tôi hỏi chị : từ đâu chị nhận ra Má,  chị nói :”cái mền đã theo gia đình ta bao năm..”Phần tôi, tôi nhận ra má tôi từ bàn tay ló ra khỏi chiếc mền cũ màu xám đó.  Hôm sau, hai chị em CTNM theo xác má về chôn ở Phú Bình, nơi chị em CTNM và người mẹ sinh ra.. Buổi chiều đó,  mộ chưa đắp xong,  thì có tin Tây từ Xung Phong kéo lên,  phải chạy,  khi mộ mẹ chưa đắp xong .
               “  Khi con về đó muộn màng /  Mẹ từ dương thế khói vàng lung linh”  [hành lang vĩnh biệt]
-Trong thời gian học ở khu Lê :
         +lớp học khoét  dưới gốc cây Tâm Lan,  trong rừng Tâm Lan,  nhiều Dông,  Thỏ và Cọp,  [ có  nữ sinh tên Hồng,  trên đường đến trường,  bị Cọp chụp và na đi, ba ngày sau tìm được chỉ còn cái đầu]
         +mỗi học sinh khi đến trường ngoài giấy bút còn cây súng gỗ,  ruột tượng gạo,  bidong  nước ..khi chào nhau nắm bàn tay lại đưa lên  giữa trán.  Đêm còn tăng gia sản xuất rau,  củ
         + 25 chiếc Dakota chở lính “lê dương “ nhảy dù xuống khu Lê, ba ngày sau mới biết ai còn ai mất, và cũng ba ngày sau,  cái áo của CTNM mặc còn hôi mùi thuốc súng.
         + trong rừng Tâm Lan có 12 nấm mộ của các văn công đoàn Sao Vàng,  mỗi lần đến đó, CTNM thấy buồn
-ba chị em về lại Ninh Thuận,  lại tá túc nhà người quen,  ở đậu,  làm thuê nuôi nhau.  CTNM và Chị Hiếu không  trở lại khu Lê nữa ..
-Tình hình chiến sự nghiêng về địch, Việt Minh không giữ nổi Tam Giác,  đã dần trở thành vùng bị chiếm. Có 3 giải pháp, 1 -theo Pháp ở yên tại chỗ, 2 -về thành tức về Phan Thiết, 3 -vượt đường sắt lên Rừng Tròn,  Đá Bàn ..(giáp Trường Sơn, Lâm Đồng) theo “kháng chiến tức Việt Minh. Ba chị em CTNM chọn giải pháp thứ ba..
-Rừng Tròn –Đá Bàn: cây cao đan dày,  ánh sáng chỉ chen qua khe lá “trên Đá Bàn thân trùng lấy bóng “, có con suối,  tre lồ ồ ngã che kín, “nước suối thiêng soi đâu thấy mặt mình “..và biết bao chuyện  của rừng thiêng, nước độc. Đàn khỉ dễ chừng cả nghìn con, đại bàng,  ó. “Bóng ó bay tiếng rớt ngậm ngùi” và có đêm 4, 5 chú cọp nhảy giỡn trăng nơi sườn núi có phiến đá bằng phẳng như cái bàn…và.tiếng hú lúc nửa đêm …của một loài ó hay một linh vật [?]…chỉ biết, khi tiếng hú cất lên thì từ các loài thú trong rừng, đến con ngươi đều…sợ . tất cả đều im lặng ..tiếng hú dài nhỏ dần rồi chìm mất trong đêm tối . Thời gian ở đây, CTNM nghe tiếng hú thần bí đó một lần và nhiều năm sau,  khi nhớ lại còn “ớn lạnh’
-Khi đến đây,  CTNM được nhắc để nhớ : không đụng đến bất cứ cây, đồ vật,  con vật nào …nhìn thấy..Ớt chín vàng,  cây Thị trĩu trái,  đu đủ…không biết ai trồng..và,  trời ạ, Rắn, không biết cơ man nào mà kể,  rắn vắt vẻo trên mái chòi làm bằng lá dầu, lểnh nghểnh ngoài sân…dài,  ngắn,  có khoang đen trắng,  đủ loại,  đủ cỡ …nhớ  không “đụng”đến bằng bất cứ hình thức nào..
-CTNM phạm phải điều kiêng kỵ, suýt chết, [kể ra như chuyện “phong thần’ rất khó tin,  nhưng thật hơn 100%] …
-.ngày 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Geneve ký kết ..hòa bình lập lại,  chia hai đất nước. Trong danh sách những người dân được Tập Kết,  có tên chị Trần thị Hiếu và Trần đức Tâm  tức CTNM . Anh rể -một cán bộ VM cấp cao –nói: “Các em  ở lại học tập tốt là được rồi” vì cứ nghĩ hai năm nữa là Thống Nhất Hai chị em không đi
-Căn nhà ở Hầm Đá chỉ là cái kiền đá xanh, bị cạy lấy đá nham nhở, ba chị em lơ ngơ rồi quyết định về Phú Bình,  nơi có mộ Má, ở đây còn bà Ngoại và ông chú thứ Năm,  em ruột Ba. Từ đây, một vài lần xuống Phan Thiết,  CTNM thấy nhiều điều lạ,  người đẹp,  nhà đẹp,  học sinh đến trường ..những cảnh mà trong đời CTNM chưa thấy,  và,  nghiệm ra một điều,  muốn hòa nhập cái xã hội xa lạ này,  con đường duy nhất là học, và phải học thành tài ..Ở tuồi 12, trên đường về, lúc qua hết cái cầu làm bằng sắt -bây giờ gọi là Cầu Giữa- CTNM  đứng lại, nhìn cái château d’eau trong vườn bông, nhìn giòng nước con sông Mường Mán, thề rằng : “không học đỗ tú tài, tôi sẽ nhảy xuống đây mà chết”
Thời niên thiếu-thanh niên : Phan Thiết, Nha Trang.
-Lúc đầu, xin học trường làng, nhưng bị từ chối vì “cộng sản con”, trường xa,  trường gần …đều gạt tên cùng một lý do. Hai người chị, nhất là chị Trung, bị bắt ngay sau hòa bình, chị Hiếu cũng không yên.  Ba chị em quyết định,  thay tên đổi họ để không là “CS con”. Trần Đức Tâm[CTNM] về ở với cậu tại Phan Thiết,  làm lại khai sanh tên : Phạm Minh Tâm, chị tư Trần thị Trung ,  đổi thành : Nguyễn thị Trung,  về ở với chú Năm,  em cha, tại Hàm Liêm. Chị năm Trần thị Hiếu thành Phạm thị Hiếu về ở với Dì , chị của Má ở Bàn Cờ Sài Gòn…Cho mãi đến bây giờ , về mặt pháp lý , chị em tôi cũng không phải ruột thịt
-CTNM  về ở với cậu,  tại 45 Lý Thường Kiệt Phan Thiết học lớp Nhì [L4]trường tiểu học Đức Thắng .
       +3g sáng, thức dậy, vớt gạo ngâm,  xay thành bột .-đâm lá dứa, - xẻ ớt và đâm nhỏ -xếp chén đĩa vào mâm -bỏ một lò lửa lớn quạt cho lừng lên. -[hai ngươi lớn bợ cái lò lửa đang bừng cháy này để lên đầu CTNM]-đội  lò lửa ra bên kia đường,  chổ ngồi bán bánh bèo ăn chén [hai  người bợ lên, đi theo, đỡ lò lửa xuống..] rửa mặt, ôm sách, vở và ….…chạy… đến trường..
       +!2g -17g : dọn cơm cho cả nhà [6 người ăn ] , rửa chén,  chén bánh bèo[hơn 100 chén]
-ngâm gạo,  luộc ớt,  rửa lá dứa,chuẩn bị cái lò ….và ủi đồ cho cả nhà. Hôm nào không ủi đồ, thì làm khuy, đơm nút áo [Cậu làm nghề may]…Hể thấy tôi cầm vở học là bà Mợ có chuyện để bảo làm .
       + Việc làm vừa nói trên, với CTNM, không nhằm nhò gì, nhưng có điều xảy ra,   người Mợ xem cháu của chồng như đứa ở,  khai thác tận cùng sức lao động,  không cho giờ nào rảnh để học, cư xử không tình người, Mợ muốn không cho tôi đi học…
- Mâu thuẩn giữa Cậu và Mợ,  kẻ thương cháu,  người thì ghét, Cậu không vui.
- Cậu CTNM, đứng ở giữa,  lại có chút sợ vợ,  nên bị kich động bởi sự xúc xiềm của vợ.  Có một lần cậu.vừa đánh vừa khóc.  CTNM nhìn dòng nước mắt của Cậu khi vung roi lên người đưa cháu . CTNM cắn răng và quyết định ra đi.
“Thôi cậu hỡi thương con đừng khóc” /  “ Đời mồ côi con xin sống qua ngày ‘’  [trong phận chàng]
-Bà Mợ kinh ngạc rồi hối tiếc,  khi CTNM nói : con xin lạy tạ Cậu Mợ đã nuôi dạy con lâu nay. Con về lại Phú Bình chỉ vì muốn ở bên mộ Má con…
 Khi rời nhà cậu,có hai việc tôi nhớ: dòng nước mắt của Cậu khi đánh tôi và gần như suốt thời gian ở nhà Cậu Mợ,  lúc xay bột,  khoảng 3g30 sáng,  ở ngoài đường vọng vô: giọng đứa con trai cỡ tôi: Bánh mì..Bánh bao..là Bánh chiên Bánh chiên..bánh bao  ..là bánh mì  âm thanh đó, như một lời nhắc nhở, một động lực cho tôi thực hiện lời thề. Người bạn đó,  nay còn cũng 70,  như tôi.  Bạn không bao giờ biết có người mang ơn bạn và mãi mãi nhớ tiếng bạn cất lên đêm đêm ngày nào. Tôi mong cuộc đời này không đày đọa bạn như đã đày đọa tôi.
Tôi ở nhà Cậu tư lớp Nhì đến gần hết năm lớp nhất,  hơn một năm .
-Về ở với chú , về lại Phú bình
Chị tư Trung nói : “Con xin làm mọi việc dù nặng nhọc xin chú thiếm  cho em con chỗ ở và cơm ăn..để đi học “   Chú thiếm chấp thuận. Chú Năm là người em trai kế cha tôi, cha tôi đã đưa chú từ Quảng Ngãi vào, cha má tôi đã dựng nhà cho Chú Thiếm.  Chú Nam là nông dân rặt, tính hiền, ít nói
Lúc này, không nói, nhưng ba chị em tôi, ai có nhiệm vụ nấy : Chị tư Trung lo cho tôi cơm, áo. Chị năm Hiếu lo cho tôi sách vở, còn tôi phải học thành tài .
- Từ Phú Bình đến thị xã Phan Thiết áng chừng 5, hay7 km, tôi dậy sớm, nhận từ tay chị Tư gà mèn cơm, theo sau những chị gánh củi, vác tre xuống Phan Thiết bán. Họ đi rất nhanh, tôi phải chạy lúp xúp mới theo kịp, treo cơm trên cây Muồng, bên Sân Tennis ,trong vườn bông , rồi đến trường . Buổi trưa, trở lại, ngôi ăn trên ghế đá, nhìn đàn én bay quanh château d’eau
Tôi thi đậu Tiểu Học, Đệ Thất, Trung Học, Tú tài 1 ở trường Phan Bội Châu , Phan Thiết, từ lớp đệ Lục [lớp7], tôi đã đi dạy kèm.
Tôi muốn sống được bằng sức của mình, muốn hai chị tôi không vì tôi mà để tuổi thanh xuân trôi qua. Hai chị từ chối hôn nhân, với lý do phải nuôi tôi đến lúc thành tài. Rồi hai chị có gia đình và tôi có cháu gọi bằng cậu . .
Ngày đó, Phan Thiết chưa có trường nào, -kể cả Phan Bội Châu- mở lớp đệ nhất [lớp 12]
Học sinh đậu tú tài 1, có điều kiện thì vào Saigon học tiếp, nhưng học trường tư.  Học sinh nghèo thì ra Nha Trang học ở Võ Tánh, trường công. Tôi không có tiền, kể cả tiền xe đò để đi. Tôi nhờ bạn Thừa, Chiếu, Quế ..ra Nha Trang nhập học, tìm cho tôi một chỗ dạy kèm,  hay một việc gỉ đó kiếm đủ tiền ăn…tôi chờ  tin bạn..Thời gian chờ đợi tin bạn, cứ một tuần tôi viết cho thầy hiệu trưởng Võ Tánh một lá thư, nói hoàn cảnh và xin đừng xóa tên..Chị tôi đã bao lần đòi bán chiếc khoen, nhỏ xíu, ngày cưới, cho tôi làm lộ phí, nhưng tôi cương quyết không chịu, “Chị bán là em bỏ học”, Ông anh rể tốt bụng  Lê trung Nhị “ bây giờ cần bán đi..mai kia em thành tài  em mua cái khác cho chị “,Tôi vẫn “không” và dọa  “bỏ học” ..Nhưng không được nữa rồi, trễ thêm trường Võ Tánh sẽ xóa tên.,Tôi đành”chị giúp em,” khi trao cho tôi số tiền, mà chị tính, chỉ đủ một vòng xe và 7 ngày ăn..chị nắm tay tôi ..nước mắt nghẹn ngào..và  “em à..” rồi không nói thêm được lời nào .Tôi đi mang theo hình bóng chị tôi cùng…
một cuốn vở học trò chép những bài thơ đã viết và mối tình đầu, biết bao sâu nặng, kỷ niêm . Tôi và  Trần Huyền Sâm, tên nàng, gặp nhau tình cờ, trên đường phố,  nàng bên kia, tôi bên này, cả hai như dừng lại nhìn nhau,  và chúng tôi yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên ấy,  lúc đó nàng mới học lớp Đệ Ngũ [lớp 8] còn tôi lớp đệ Tam [lớp  10] , H .Sâm nổi tiếng đẹp, rất đẹ , khi mối tình được công khai, nhiều người nhận xét,  chúng tôi xứng đôi và đẹp đôi, [ngày đó tôi cũng được nữ sinh trầm trồ “đẹp trai” ] Tôi đỗ Tú Tài 1, Sâm biết sắp xa nhau, và “anh về thăm Mẹ nhé “ Sâm đưa tôi về Mũi Né, quê Sâm, Căn nhà  ngói mó , rêu phong, trên một đụn cát cao, trước sân có cây khế đang mùa ra hoa[?].Khi xa, tôi nhớ mãi người Mẹ , đólà  người Mẹ tuyệt vời, rất ít nói. Bà tiếp tôi như đón người con đi xa về..Bữa ăn bà dọn đơn sơ, ít món, nhưng ngon miệng, bà ngồi nhìn  tôi và Sâm ăn, chốc chốc lại cười, nụ cười rất hiền, rất nhân từ …và tiếng sóng, nhà nàng chỉ cách biển mươi mét..tiếng sóng của đêm hôm đó theo tôi đến suốt cuộc đời.
Xe Phi Long thả tôi xuống ngã 6, lúc nửa đêm, tôi lần theo tiếng sóng đi về hướng biển. Đêm đầu tiên , tôi khoanh tròn dưới gốc dương, nghe sóng vỗ..[những cây dương cao lớn bây giờ trên đường Trần Phú lúc đó chỉ thấp lè tè ]. Tôi học lớp đệ nhất B4 …, khuân vác ở chợ Phước Hải, dán tem, viết thư thuê ở Bưu Điện…làm đủ nghề trong những lúc có thể, để kiếm sống …Sau chợ Phước Hải có xe cơm, chuyên bán cho người lao dộng nghèo, tôi ăn ở đây và cũng từ đây quen và được những người cùng khổ chia sẻ việc làm : Ngày học, làm …tối khoanh dưới gốc dương … nghe tiếng sóng đêm đêm thì thầm....Rồi tôi  xin được việc làm: dạy kẻm cho hai đứa con ông Hiệu trưởng của một trường tư , và chấm bài lớp tiếp liên môn Toán và Văn.
Tôi được ở cùng đứa con út của thầy Hiệu Trưởng và cũng là học trò tôi dạy kèm -tên N, trên một căn gác nhỏ, lộng gió.. hai người con gái của thầy hiệu trưởng nói yêu CTNM. Hoàn cảnh như vậy “yêu là chết “ vả lại CTNM còn Sâm, đang chờ  ở quê nhà ...
Tôi đậu Tú Tài 2 ban B, em đã hoàn thành lời hứa với chị -chị ơi- và ta đã giừ tròn lời thề năm xưa với Phan Thiết –Phan Thiết ơi .
Thời Trưởng Thành :Sài Gòn, Qui Nhơn:

 Sài Gòn
Tôi ghé Phú Bình chào chị, bà ngoại, chú thiếm và hai đứa em thúc bá. Tôi đi vào Sai Gòn quyết lấy “cử nhân”…lại làm đủ nghề…ngồi ở Thanh Thế…nơi những người cầm viết, cầm cọ thường ngồi…ngồi Ngã Tư Quốc tế ...nơi nghệ sĩ cải lương thường đến…quen và biết nhiều người trong giới văn-nghệ-sĩ …có cả dân làm chính trị..
-Có ba người để lại nơi tôi nhiều cảm mến :-anh Văn Lương, tác giả bài hát :”Tía em má em hừng đông đi cày bừa” anh nhận tôi làm việc vặt ở tòa soạn một nhật báo mà anh làm chủ bút, lần lần anh cho viết bài ‘trang tư”, trang viết những chuyện tầm phào, thỉnh thoảng được chạy một bài thơ..nhuận bút cũng chỉ đủ cầm hơi qua ngày .,nhạc sĩ Trúc Phương , anh cho ở ké cùng phòng trọ anh thuê [hẽm Cao Thắng ] anh gọi “em trai” và thường xoa đầu khen“đẹp trai” và Dzũng Chinh,bằng tuổi tôi, tác giả phổ bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim”. Mỗi lần gặp .:vỗ vai, tạm biệt : vỗ vai. Cái vỗ vai ân tình..
Thời gian này tôi viết nhiều, đủ thể loại mà “trang tư” các báo cần, với nhiều bút hiệu.
Nhưng chỉ được “lắp”  khi thiếu bài thôi., ba “cột” là nhiều. Viết, chạy suốt ngày, vẫn phải “nhá” cơm cháy ..và, trời ạ, vào giảng đường, quạt máy mát, chỗ ngồi êm…dù cố cỡ nào tôi cũng liền… ngủ khì..
-thời gian này tôi đã trưởng thành, đã chín đời, viết nhiều, nhưng toàn chuyện tào lao, bá vơ ..không giữ lại ..
-và sống, chính thức nhờ thau cơm cháy . Ngày đó ở đường Bùi Viện, Q.Nhì  [tên đường này vẫn giữ đến ngày nay, Q1] có quán cơm ANH VŨ, đây là quán cơm, được chính quyền bù lỗ, dành cho Sinh Viên nghèo. Ở phía vách bên phải, có một hàng lổ tò vò, hình chữ nhật, bên trong là người phục vụ và thức ăn, bên ngoài, cách  vách có lổ tò vò chừng 0m8, người ta  gắn một thanh sắt hình tròn cao 1m,  dài suốt theo lổ tò vò  Sinh viên vào ăn trưa, chiều đều phải xếp hàng di chuyển bên trong thanh sắt tròn này..Lổ 1: thẻ Sinh Viên, mua phiếu. Lổ 2: lấy  mâm . Lổ 3 lấy canh,  Lổ 4 lấy món mặn, nước chấm. Lổ 5 lấy cơm và đưa phiếu vừa mua, bước thêm vài bước, ra bàn ngồi ăn …Lổ 5 là lổ to nhất –để “thọt” thau cơm cháy qua- và được CTNM đặt biệt chú ý.  Cứ 25-26 Sinh viên đi qua, họ  thọt ra ngoài một thau cơm cháy, ai muốn ăn cứ lấy, cho không, khỏi trả tiền CTNM ngồ , đếm số 1,2,3…và vào hàng, sao cho khi di chuyển đến lổ số 5 thì thau cơm không trả tiền”thọt”ra, bợ liền,dấn thêm vài bước, ra bàn và ngồi…nhá.[nhai chậm].
 Có lúc đến lổ số 5 , thau cơm không chịu thọt ra, lại xếp hàng, làm lại keo khác. Nên nhớ, những Sinh Viên  cần thau cơm cháy như CTNM là không ít, sau này, anh em  liên kết lại “tiền hô,hậu ủng” vào hàng là bợ được thau cơm. Anh em thay phiên nhau, không tốn thời gian. Ngồi nhai cơm cháy , đôi khi nghĩ, như đang nhai đời mình..
Qui Nhơn
-Lúc này, Chị tư Trung có ba cháu, một trai, hai gái, chồng chết -Chị năm Hiếu có bốn cháu gái –chồng làm diệt trừ sốt rét. Nhìn các cháu khổ, chị khổ…thôi thì, bỏ đại học, thi vào SP cấp tốc Qui Nhơn -giấc mộng “cử nhân” không thành  “ra Qui Nhơn nằm nghe gió thổi đêm”
-Lúc này, CTNM viết thêm kịch –thể loại CTNM thích nhất-, vở “Trước Giờ Chia Tay” in ở đặc san Sinh Hoạt SPQN-1962 là một trong vài vở  viết trong giai đọan này và cũng viết những vấn đề xã hội..như “Du Đảng dưới mắt nhà giáo”..v..v..
-Lần xa xứ này, may mắn tôi được người Cậu ở Phan Thiết, mà tôi nói đến ở phẩn trên, giới thiệu “Cô Ba”, người Phan Thiết ra Qui Nhơn, bán vải ở đường Gia Long, tôi kèm cho 3 đứa cháu của Cô Ba học. Đây thời gian tôi được ăn đủ, ăn ngon nhất kể từ ngày tự lập nuôi thân -quen  ba người : Trịnh Công Sơn, Thanh Hải và Nguyễn Huề. Ngày đó Hải nổi tiếng hơn Sơn ..Tôi chỉ nói tên người “vô danh” Nguyễn Huề, anh người gốc Quảng Trị, cân nặng, ngồi cùng lớp Cấp Tốc 2[?]. Tôi chỉ có một bộ quần áo, mặc đi học, .. .Một hôm cái móc cửa bật của lớp học móc rách một lổ trước ngực ,
Phải vá lại..và từ đó các bạn biết tôi chỉ có duy nhất một cái áo…đây là lời thú nhận, hay bằng chứng.. tôi thuộc lớp “vô sản”. nghèo “rớt mồng tơi”..Một  hôm, người bạn cùng lớp, không thân, trao cho tôi môt cái gói, gói bằng tờ nhật báo “cậu mang về  ..rôi hãy mở ra”   và..”có cái thư mình viết cho cậu “.Tôi mở ra, đó là  bộ quần áo cũ, nhưng còn khá mới, quần màu xám đen, áo dài tay màu trắng…nội dung lá thư..Huề viết nhiều về giai cấp “vô sản “ …
Từ đó, CTNM chơi thân với Nguyên Huề, [bộ quần áo CTNM giữ đến tháng 4/1975 ]
Huề lúc đó: hoạt động nội thành mảng Sinh Viên, Học Sinh–viết cho báo giải phóng  - ký Dương Sử Loan
Tôi và Huề  dự định, cùng viết vở kịch, nhan “Vở Kịch Chúng Ta  Đóng” nhưng chưa gì thì xa nhau Tôi còn gặp lại Huề hai lần, ở Huế - thời nhổ râu Đỗ  Cao Trí –và Sài gòn- lúc  trái cối  60  từ Bàn Cờ câu vào Dinh Độc Lập ..Từ đó bặt tin cho đến nay ..
Phan Rang, 19 năm
Tôi đến Phan Rang, nơi trước đây tôi có đến và ngủ ở trường tiểu học Mỹ Hương 5 đêm, để dự thi tú tài 1. hội đồng Duy Tân. Chỉ biết,  chếch bên kia đường có tiệm sách, ở đó có người con gái tuyệt đẹp, tên Hằng Nga, ngoài ra, chẳng biết gì thêm.
Tôi trình diện Ty Tiểu Học Ninh Thuận và được bổ nhiệm “giáo viên trường Tân Thành –Tây Giang”. Đó là trường nhỏ, xây gạch, bên cửa  biển, nơi sông Dinh chảy qua. Ở đây tôi nhìn,  bên kia là Sơn Hài, chếch phía đông là biển, học trò tôi là cô, cậu bé làng chài, đen nhẻm, đó là năm học 1963-1964. Rồi năm sau, tôi chuyển về Phủ Hà, trung tâm thị xã .
Tình đầu tan vỡ
Khi về nhận nhiệm sở ở Phan Rang, tôi nhận thư Sâm, trước đây nội dung thư Sâm là động viên,  an ủi..và những lời yêu thương nhớ nhung, thư này Sâm chỉ viết “em muốn mình cưới nhau” thư trả lời, tôi viết,”chị và các cháu cần anh, em đợi anh vài năm các cháu lớn..”
Những thư sau đó Sâm không nhắc đến việc cưới nhau nữa, và vài tháng sau.”anh về, em muốn gặp anh “.Chúng tôi gặp lại nhau sau thời gian xa cách khá lâu, không nói sao hết hạnh phúc chúng tôi trao nhau. Cũng trên căn gác nhỏ, có cửa sổ nhìn ra bầu trời, có đàn én bay…mà Sâm thuê để đi học. Sâm vùi đầu trên tay tôi, thủ thỉ.. rồi hai ngày sau “em phải về Mũi Né” và “anh đi, em không tiển”…Lúc này tôi mới nhận ra, nỗi buồn lạ trong mắt  Sâm ..”anh cầm vật này ,nếu còn nhớ em thì hãy giữ “. Và…vật này là tấm hình của Sâm mà tôi thích nhất lộng vô khuôn màu đen, trên hình Sâm ghi “trọn vẹn trao anh thủa ban đầu” .
Một tháng sau Sâm lấy chồng, năm đó Sâm học Đệ Nhị [lớp 11].chồng là một kỹ sư Điện vừa ra trường, chân đi khập khểnh .
Tôi đau  đớn trở về, mang hết kỷ vật của tình đầu: cây viết Parker màu đen, một tập vở  chép những bài thơ tôi viết cho Sâm, cho mối tình đầu, khuôn hình “trọn vẹn trao anh thủa ban đầu”…ném xuống sông Mường Mán, chỗ ngày xưa tôi đứng cất cao lời thề .. Sau này, tôi cứ tiếc mãi tập vở  chép kín những bài thơ tình yêu ban đầu
Tôi ghi danh học hàm thụ từ lúc vào Sư Phạm QN, rồi dự thi và đậu Sư Phạm Trung Cấp
Năm học 1965-1966 tôi được chuyển lên trường Trung Học Duy Tân, dạy môn Toán 1967 -1969.   Bị động viên K.25 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức .+ trừơng hạ sĩ quan Đồng Đế .
1969 biệt phái về dạy trường cũ Duy Tân -1975, Trung úy Bộ Binh + giáo sư Toán ..
Sau 1975 ,.
-Học tập cải tạo ở A.38
-Đi vào Sài gòn
-Sống bằng nhiều nghề
-Bỏ viết từ 4/1975 đên 7/2012   [Ngỏ /Lời Tình Buồn ]
-tôi yêu ai cũng có kỷ niệm, nước mắt ..cũng sâu nặng, say mê, hết lòng…nhưng “nặng “ nhất có lẽ là mối tình đầu với Sâm và tình cuối  với Vân, vợ tôi bây giờ.
Về Thơ
Đã in 4 tập:
-   Trong Mặt Trời Buồn - bìa Trịnh Cung, phụ bản nhạc Vũ Thành An, NXB Văn Học 1967
-   Quê Hương Thơ Và Nước Mắt –bìa Thanh Hồ,  phụ bản nhạc Hồ Đăng Kế  NXB Mai 1968
-    Cuộc Tình Người   -bìa Nguyễn Tài,  phụ bản Đinh Cường, Thanh Hồ, Phạm Kim Khải  NXB Kỷ Nguyên 1969
-   Lời Tinh Buồn -bìa Thanh Hồ,  phụ bản Đinh Cường, Thân trọng Minh, Phan Ni Tấn, Phạm cao Hoàng…NXB Thanh niên 20012.
-  Có mặt trong Bộ Sách Di Sản Văn Chương Miền Nam [về Thơ]–Thư Ấn Quán , USA
Thơ phổ nhạc
Lời Tình Buồn  –phổ nhạc :Vũ thành An -1967(nghe ở các mạng âm nhạc)
Năm Mới           -phổ nhạc Phan Ni Tấn -1970   (nghe ở ducavn.com )      
Đêm Tạ Từ       - phổ nhạc Hồ Đăng Kế   -1968
Thôi  Em Về      -phổ nhạc  Bảo Chấn       -2012
Về Thôi Em Ơi  -phổ nhạc Nguyễn Phú Yên -2012
Biển Tình Anh   -phổ nhạc Nguyển Phú Yên-2012
Thơ sau 1975:
Thơ Viết Ngày Xa Em [vanchuongviet]  Thơ Viết Trên Cầu Thạch Hãn [blog Pham cao Hoàng] Người Lính “Ngụy”già viếng Nghĩa Trang Trường Sơn [luanhoan.net] ,Vĩ Cầm, Ngày về Đà Lạt [quán văn]……
Về Văn
Trước 1975, Có truyện ngắn đăng ở Văn Học, Ý Thức ..sau 1975,  đăng ở Quán Văn và các Mạng Văn Học
Có truyện trong Văn Miền Nam tập 1, Thư Ấn Quán, USA
Hiện cộng tác với tạp chí văn học Quán Văn, xuất bản tại Sài Gòn
CTNM phát hiện U gan vào tháng 5/2012
Chỉ mong viết  xong những điều cần viết, dù ngã đài cũng …vui. Đó là những hoàn cảnh, nhửng thành tố tác động lên cuộc đời tôi để có cái tên ChuTramNguyenMinh.
Tôi xin gởi những dòng trên cho bạn rất thân của tôi, và bạn chưa thân, nhưng nơi lòng tôi rất quí trọng và nghĩ sẽ thân .
Bài này, xin không phổ biến đến khi tôi không còn trên cõi đời này. (Chu Trầm Nguyên Minh, Saigon 12/4/1013)
.



Về Binh Thới
Đi về,mở cửa ,vắng tênh
Buồn kia ai để một mình ta mang
Trách ai để giọt lệ tràn
Để thương,để nhớ, để mang mang sầu

 
Ngày trở về Phan Rang
 
Bao năm xa cách, ta về
Lối xưa tay nắm tay thề bên nhau.
Bây giờ bóng khuất, trời cao,
Làm sao anh biết phương nào tìm em.
Bao năm xa cách, ta về
Chốn xưa giờ đã bốn bề tịch liêu.
Một mình bước bước đăm chiêu,
Lòng không mong quạnh bóng chiều nhớ thương.


(ChuTramNguyenMinh)

Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

Chuyện tình Việt Dzũng: LỆ RƠI TRÊN ĐÔI NẠNG GỖ

 
Giao Chỉ - San Jose
Buổi chiều HO San Francisco.
Tết Giáp Ngọ đã qua gần cả tháng, Hội HO của anh Phú San Fran mới tổ chức đón Xuân muộn. Xác pháo đă chìm mất tiêu sau trận mưa đầu mùa tại Chinatown. Bà con ta vẫn vui vẻ cùng với biệt đoàn văn nghệ Lam Sơn hát ly rượu mừng của Phạm Đ́ình Chương.

Sau phần thứ nhất của chương tŕnh mừng tân niên Giáp Ngọ, đến phần thứ hai là tưởng nhớ Việt Dzũng. Anh Huỳnh Lương Thiện lên nói về người chiến sĩ đấu tranh số một của hải ngoại. Anh đồng ý với Nguyễn Văn Khanh (Trưởng ban Việt Ngữ RFA) rằng Việt Dzũng được mọi người nhớ đến qua bài ca bất hủ "Một Chút Quà Cho Quê Hương" và bản thân anh chính là một món quà rất quí. Có lẽ nên nói rõ hơn, chính Việt Dzũng là món quà của quê hương dành cho chúng ta, dành cho hải ngoại.

Ánh sáng của hội trường hạ thấp xuống, mọi người được yêu cầu đứng dậy, thành viên của văn nghệ Lam Sơn từng bước rước cờ Vàng vào hội trường. Một thiếu phụ nhỏ bé, mặc áo đen, đeo kính trắng, quấn khăn tang mang di ảnh Việt Dzũng cùng chậm rãi tiến vào. Đi sau là hai quân nhân mang theo tấm bảng tưởng niệm gắn một áo thun h́nh đấu tranh do chính Việt Dzũng vẽ mẫu, và đôi nạng của Việt Dzũng tặng cho Việt Museum San Jose.
Hội trường khoảng 200 người đứng lên đón chào. Mọi người lần lượt thắp hương. Thiếu phụ đứng bên bàn thờ đáp lễ. Anh Thiện giới thiệu đây là "cô quả phụ Việt Dzũng" từ Nam Cali đă một ḿnh lái xe suốt đêm qua đem theo di ảnh Việt Dzũng đến với chúng ta. Hội trường vang dội tiếng vỗ tay đầy xúc động. Người đàn bà nhỏ bé vóc dáng như sinh viên chưa tốt nghiệp lại chính là “cô quả phụ”. Không ai biết rõ về thân thế của cô. Quen biết Việt Dzũng lúc nào? Lấy nhau bao giờ? Cuộc đời đôi lứa ra sao?...

Đời sống của Việt Dzũng đã đi cùng quần chúng suốt 30 năm dài trên báo chí, radio, TV, sân khấu, CD và DVD... Ai cũng biết anh chàng tàn tật mang đôi nạng đấu tranh đi khắp bốn phương trời. Vậy mà cuộc đời t́ình ái, cuộc sống gia đ́ình thế nào chẳng ai hay biết !!!

Buổi tối tại San Jose.
Sau chương trình đón xuân và tưởng niệm Việt Dzũng tại San Francisco, đoàn xe chúng tôi kéo về viện bảo tàng Việt Nam. History Park San Jose đă đóng cửa từ 5 giờ chiều. Chúng tôi mở cửa riêng đón phái đoàn vào Việt Museum. Gần 7 giở tối mà màn đêm như đã buông xuống từ lâu. Toàn thể công viên tối thẫm. Riêng Việt Museum mở đèn sáng để chào đón người thiếu phụ bé nhỏ như dáng sinh viên chưa tốt nghiệp. Một buổi tiếp nhận hết sức đặc biệt được tổ chức để “cô quả phụ Việt Dzũng” chứng kiến việc trao di vật cho Viện Bảo Tàng. Buổi lễ đơn sơ nhưng đầy ý nghĩa.


Anh Huỳnh Lương Thiện, chủ nhiệm báo Mơ San Fran nói về câu chuyện nhận đôi nạng tại buổi sáng ngày đầu tang lễ Việt Dzũng, do cô Hoàng Anh trao lại cho kỹ sư Nguyễn Tấn Thọ. Anh Thọ tiếp lời, nói về trường hợp tiếp nhận di vật từ tay vợ Việt Dzũng trong hoàn cảnh tế nhị. Cô đă chứng tỏ bản lãnh và sự can trường của mình mới thực hiện được tốt đẹp di nguyện của Việt Dzũng trước đây trong một lần ghé thăm viện bảo tàng lúc c̣òn sinh thời. Sau đó, anh Thọ đă chính thức trao di vật. Tiếp theo, Hoàng Anh nói đôi lời gửi gấm, cô nói thêm về niềm vinh dự khi đôi nạng của Việt Dzũng được lưu giữ ở nơi xứng đáng. Hoàng Anh cho rằng Việt Dzũng đạt được ý nguyện để lại cho đời đôi nạng đấu tranh. Chúng tôi, với tư cách đại diện Museum xúc động đón nhận và thưa rằng đây là di vật giá trị nhất mà hải ngoại có được để dành cho thế hệ mai sau.
Tôi cũng ghi nhận thêm rằng, hơn 30 năm trước, khoảng đầu thập niên 80, nghệ sĩ Việt Dzũng đã từng lên sân khấu CPA tại San Jose hát lần đầu tiên bài món quà gửi cho quê hương. Thực sự lúc đó đồng bào di tản đợt đầu đang t́m cách gửi quà về quê nhà. Những hộp quẹt, đá lửa, bút bi, vải vóc, kim chỉ và các vật dụng thường nhật lại là hàng qu‎ư giá. Việt Dzũng với bộ áo vải đen, đứng trên đôi nạng gỗ vừa hát vừa khóc. Cộng đồng non trẻ Việt Nam ở San Jose vừa nghe vừa khóc theo. Anh em chúng tôi lúc đó dường như thể hiện h́nh ảnh của một cộng đồng tỵ nạn nước mất nhà tan. Dường như ai ai cũng đứng trên đôi nạng gỗ với các bước đi tập tễnh bất thường.

Từ sân khấu xuống hội trường, tưởng như ai cũng thấy những giọt lệ rơi trên nạng gỗ. Bài ca của Việt Dzũng sáng tác gửi quà cho quê hương vào ngày hôm đó não nùng và đậm nét nhiều hơn hoàn cảnh ngày nay.

Nhưng đêm hôm nay, đêm Chủ Nhật 23 tháng 2-2014, giữa khung cảnh u tịch và huyền ảo của Việt Museum. Một bên là các ngọn đèn nhỏ bé lung linh của mô h́nh nghĩa trang quân đội, một bên là ánh đèn mờ ảo của bức tường tù cải tạo. Đêm chứng kiến cho việc tiếp nhận các di vật này. Khoảng cách thời gian là 1 phần 3 thế kỷ. Hơn 30 năm trước tại CPA down town San Jose, Việt Dzũng khóc trên sân khấu với hội trường 2,700 người. Và 30 năm sau tại công viên San Jose Park đường Senter, có một cô gái cũng khóc trên đôi nạng gỗ, với vài anh chị em chúng tôi chứng kiến, nhưng ý nghĩa rất gần nhau.

Cô nói rằng:
-"Con là Bebe Hoàng Anh, vợ của Việt Dzũng. Dù mộ anh ở Nam Cali, nhưng bây giờ con biết, linh hồn anh đă theo cặp nạng này, sẽ ở đây đời đời với các vị anh hùng tại Việt Museum. Sau này nếu con có thể làm được gì. Xin bác cho con biết. Con xin cám ơn".

T́nh yêu thầm kín.
Thưa các bạn, trong 30 năm qua tôi đă nhận được biết bao nhiêu là di vật. Quần áo, quân trang, quân dụng, di sản của thuyền nhân, của quân đội, của chiến binh, của các lănh tụ... nhưng đôi nạng của Việt Dzũng quả thực là di vật quí giá nhất có linh hồn. Cuộc đời của Việt Dzũng, sự nghiệp đấu tranh của Việt Dzũng đă phơi bày tràn ngập trong cộng đồng. Nhưng t́nh sử với những giọt nước mắt trên nạng gỗ quả thực chẳng ai hay biết.

Tôi xin gửi đến các bạn câu chuyện t́ình hết sức đặc biệt của đôi trẻ. Tôi nói chuyện với “cô quả phụ" Hoàng Anh tới canh khuya đêm chủ nhật, tôi xin viết đầu đuôi chuyện cô kể lại như sau:

- "...Thưa Bác, Trong đời con có 1 ngày đáng ghi nhớ. Đó là ngày làm lễ Đạo, thành hôn với anh Dzũng. Ngày đó là 22 tháng 11, 2006. Con qua Mỹ năm 1983 lúc đó mới ngoài 20 tuổi. Từ quê nhà đă nghe tiếng hát Việt Dzũng qua đài VOA và anh đă là thần tượng của con từ dạo ấy.
Qua Mỹ đi học Anh Ngữ ESL, trong chương tŕnh có mua nhạc Việt Dzũng viết bằng anh ngữ để học và để nghe. Nhân dịp con tham dự Đại hội Công giáo ở New Orleans, lần đầu tiên thấy Việt Dzũng trên sân khấu. Con nhìn thần tượng yêu dấu, mà điều đặc biệt là không hề quan tâm đến đôi nạng. Con tưởng như Dzũng là 1 người bình thường. Không hề thấy h́nh ảnh của người tật nguyền. Một phần là chính anh Dzũng hết sức tự nhiên khi diễn xuất ca hát không có chút mặc cảm. Anh Dzũng không hề cảm thấy phiền phức về đôi nạng. Tất cả khán giả đều không quan tâm đến đôi chân của Dzũng. Con bắt đầu xây dựng t́nh yêu với thần tượng của con.

Sau đó con về làm thư k‎ý, ký giả, nhiếp ảnh viên và làm quản trị báo chí tại Nam Cali. Một hôm Việt Dzũng gọi điện thoại cho xếp của con là thi sĩ Du Tử Lê. Con trả lời điện thoại, nghe giọng nói trầm ấm của chàng mà ḷòng hết sức rung động. C̣òn chàng có cảm thấy gì không, con không biết!

Rồi Dzũng đến chơi, rủ Du Tử Lê đi ăn. Con giáp mặt nói chuyện với mối t́nh đầu. Hết sức xúc động. Nhưng bác cũng biết, con c̣òn trẻ, tự cho ḿnh là xinh đẹp. Và tuy yêu nhưng cũng tự ái, vì mình là con gái.. Mối t́nh thầm kín cố không để lộ cho chàng biết. Nhưng có thể chàng cũng đoán biết vì Việt Dzũng tinh ma lắm. Và chuyện t́ình từ đó khởi đi. Con chờ Dzũng mở lời. Cho đến một ngày đẹp trời, Việt Dzũng mở lời thú nhận rằng đă yêu con từ lâu rồi. Thế là con ưng thuận."


Bác hỏi cháu là hai bên đă biết nhau từ thời kỳ 85 hay 86 mà sao đến 2006 mới cưới? Chờ đợi gì lâu thế?
Cô Hoàng Anh nói ngay:
- "Không, tụi cháu đâu có chờ đợi lâu thế. Biết nhau hơn 1 năm là tụi cháu về đoàn tụ ngay. Em theo chàng về dinh mà bác..."
Quả thực lạ lùng, như vậy Việt Dzũng đă có vợ từ thời kỳ 80 mà sao chả ai hay.
Bebe Hoàng Anh nói tiếp:
- "Thực vậy, chúng cháu rất tự lập và rất kín đáo. Khi cháu qua Mỹ, năm sau mẹ cháu mất, chỉ c̣òn cha, trong nhà gọi là cậu. Qua đầu thập niên 90, cậu cháu đau yếu. Để vui ḷòng cha, cháu yêu cầu cha mẹ Việt Dzũng đến gặp cậu cháu để ngỏ lời. Dzũng làm thân với cậu. Cậu cho cây mai, Dzũng đem về chăm sóc. Sau đó cậu cháu và ba Dzũng đều ra đi. Chúng cháu vẫn ở với nhau thủy chung không thay đổi. Dzũng vừa là chồng, là bạn, là người anh, người thầy hướng dẫn cho cháu. Cuộc sống bận rộn nhưng rất êm đềm hạnh phúc. Đời sống riêng tư của chúng cháu bên ngoài chẳng ai biết. Suốt thời gian bên nhau Dzũng luôn ngỏ ý muốn tổ chức hôn lễ, nhưng cháu ngần ngại khước từ. Cho đến năm 2006, Dzũng hết sức thúc dục và cũng nói là bác sĩ cho biết sức khỏe của anh không được tốt. Nếu một mai anh không c̣òn nữa thì sao, cho nên anh muốn có 1 lễ nghi tôn giáo chính thức. Rồi Dzũng chỉ yêu cầu dành cho anh một ngày. Đó là ngày 22 tháng 11-2006. Đến giờ chót con mới biết đó là ngày hôn lễ của chúng con. Hôn lễ hết sức giới hạn, chỉ có gia đ́ình 2 bên. Chú Ngọc Hoài Phương, cô Diễm, chú Du Tử Lê."
- "Vậy có Nam Lộc, Trúc Hồ không?" Tôi hỏi.
- "Dạ, cũng không có đâu bác". Hoàng Anh trả lời.
- "Sao chúng cháu giữ kín vậy. Cô Diễm nào, có phải cô Diễm là em bà Hoa không?" Tôi hỏi tiếp.
- "Đúng đấy. Bà Hoa mới mất! bác biết không?". Hoàng Anh thêm vào.
Tôi trả lời:
- "Bác biết quá đi chứ. Bác Hoa là vợ ông Đằng bạn của bác Lộc. Bác Hoa là bạn thân của bác gái mà."
Tôi nói tiếp:
- "Trở lại chuyện của của cháu bác thấy hết sức lạ lùng. Mối t́nh thầm kín. Hôn nhân cũng thầm kín. Chung sống với nhau 10 năm mới đám hỏi, rồi 10 năm sau mới đám cưới. Rồi từ lễ cưới 8 năm trước đến nay khi có đám tang thiên hạ mới biết Việt Dzũng có gia đ́nh. Bác tưởng là mới lấy nhau rồi Dzũng ra đi."

Cô quả phụ nhỏ bé buồn bă nói rằng:
- "Ai cũng tưởng như vậy. Chuyện t́ình của chúng cháu là thiên t́ình sử lâu dài nhưng hết sức riêng tư. Bác nói đúng, sống với Dzũng, cháu không bao giờ nghĩ anh Dzũng là người có thương tật. Anh Dzũng của cháu là người chồng rất bình thường. Với đôi nạng gỗ, anh là người nghệ sĩ phi thường."

Người cô phụ năm nay cũng ngoài 50 tuổi, đâu có bé bỏng gì, nhưng khuôn mặt long lanh nước mắt trẻ thơ nhìn tôi như có hình ảnh đầy hãnh diện của người tình thần tượng. Tôi lại nói rằng: "Từ đám cưới vài chục người với đám tang cả chục ngàn người, Dzũng đă để cho con quá nhiều kỷ niệm và gánh nặng quá khứ. Bác mong cho con có đủ khả năng để vượt qua thử thách lớn lao. Thế giới biết bao người, con đă chọn Việt Dzũng. Anh là món quà quê hương để lại cho hải ngoại. Bác mong con có được cặp nạng tinh thần để đứng vững với cuộc đời c̣òn lại."

Bebe đứng lên, nước mắt rơi trên đôi nạng gỗ như những giọt lệ t́ình yêu.
- "Con khổ lắm bác ơi". Hoàng Anh nói.

Chiều thứ bảy Bebe Hoàng Anh, môt ḿnh lái xe từ Nam Cali suốt đêm lên San Francisco dự buổi Tưởng Nhớ Việt Dzũng vào chủ nhật. Chiều thứ hai, lại một mình lái xe về.
Nhà tôi nói:
- "Con lái xe một ḿnh nên cẩn thận".
Bebe nói:
- "Con không đi một mình, luôn luôn có anh Dzũng ngồi bên cạnh."

Thực vậy. Vợ lái xe mà như có chồng vẫn ngồi bên cạnh. Suốt 7 giờ rong ruổi đường trường, cô Hoàng Anh nhẹ nhàng, nhẩn nha cằn nhằn cậu Việt Dzũng. Anh đốt hết cuộc đời cháy trên đầu ngón tay...Anh nói loanh quanh dối trá em suốt bao năm. Tưởng là lừa được em sao. Em biết hết nhưng em không nói. Anh bay bướm với đàn bà, anh ăn nhậu với đàn ông. Em biết hết. Rồi sau cùng anh vẫn phải trở về, phải không?.
Bây giờ anh c̣òn đi đâu nữa. Cô lái xe và tưởng như Việt Dzũng vẫn ngồi trân mình chịu trận bên cạnh. Chàng không nói được, bây giờ chỉ c̣òn ngồi yên mà nghe nàng nói. Đây không phải là sân khấu Asia. Đây không phải là Radio Bolsa. Đây chỉ có 2 người đối thoại chuyện t́nh yêu. Dzũng suốt đời nói cho ngàn người nghe. Bây giờ đến lượt Hoàng Anh. Cô nói mà anh chàng không căi được. Nhưng cô kể lể cho mà nghe vậy thôi. Nói cho mà biết thôi. Cô tha thứ hết. Việt Dzũng của cô, có thể đủ thói hư tật xấu của đàn ông nhưng măi măi vẫn là thần tượng của Hoàng Anh.

..."Vâng thưa Bác, con không lái xe một mình. Măi măi vẫn có Dzũng ngồi bên cạnh"...