Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

Đoạn Đường Hai Bà Trưng – Tân Định / Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu

Dù cho năm tháng phai nhoà, 
Trong tôi, Tân Định vẫn là nhớ thương!
                                                                                               
Nói đến Tân Định là người ta nghĩ ngay đến một vùng đất hiền hoà và bình yên của Sài Gòn, Gia Định,Chợ lớn. Giờ đây tôi đang sống xa hơn nửa vòng trái đất. Nhưng Tân Định trong tôi của thời thơ ấu vẫn là một nỗi nhớ khôn nguôi. Làm sao tôi có thể quên đi một đoan đường đã cho tôi rất nhiều kỷ niệm của những tháng ngày xa xưa. Đó là đoạn đường Hai Bà Trưng (Paul Blancy), từ dưới chân Cầu Kiệu ra đến ngả tư đuờng Hiền Vương (Mayer), nay là Võ Thị Sáu. Tôi xin viết lại về đoạn đường này mà những gì còn đọng lại trong ký ức của tôi. Mong được thông cảm, nếu như có những sai sót…
Xin được kính tặng đến bà con Tân Định và những ai đã từng có kỷ niệm với nơi đây.
Xin được bắt đầu từ dưới chân cầu Kiệu,
     Phía tay phải, khi vừa xuống dốc chân cầu Kiệu vài thước, quẹo mặt là gặp ngay xóm Vựa Gạo. Ngày xưa tấp nập các ghe thuyền từ dưới tỉnh xuống gạo nơi đây. Sau đó gạo sẽ được phân phối đến các chợ đầu mối trong thành phố. Đi thêm vài bước là phòng mạch của bác sĩ Kính, chuyên khám và giải phẩu mắt. Rồi đến tiệm thuốc Bắc của ông Lang Sách. Cách đó vài căn là tiệm bán bông cườm cho đám tang và tiệm bán đồ điện Ngọc Sơn. Bên cạnh là một ngỏ nhỏ thường gọi là hẻm cô hai Kim. Cô chuyên trị cắt, lể, giác hơi, cạo gió, bán thuốc tễ và có nhà của dịch giả chuyên dịch các truyện Tàu tên Từ Khánh Phụng. Ngoài ngỏ là tiệm sửa xe Mô Tô Chín Kết, thuốc Cam Hàng Bạc hay Nhân Phong Đường bán các loại thuốc gia truyền làm bằng bột, trị được bá bệnh. Ông chủ nhà thuốc may mắn làm chủ một lúc cả hai chị em ruột, nhưng gia đạo của ông luôn luôn trên thuận, dưới hoà và êm ấm. Con cái thì đề huề, nhưng không bao giờ có chuyện lục đục, gấu ó lẫn nhau. Nhà ông trưng bày nhiều đồ cổ. Trong số đó, giá trị nhất là một con sáo bằng ngọc quý. Tiếp theo là cà phê Hải Nàm của người Hoa. Bà con bình dân gồm nhiều thành phần như: xích lô, ba bánh, thổ mộ, lao động chân tay…tụ họp từ sáng đến chiều. Họ thường ngồi chồm hỗm hai chân trên ghế, nhâm nhi ly cà phê được pha bằng vợt để bàn mọi chuyện trên trời, dưới đất, giá cả sinh hoạt hàng ngày, chính chị, chính em, xe cán chó, chó cán xe, chuyện xảy ra trong xóm, trong nhà, chuyện bốn mươi con số đề sổ vào buổi chiều trong ngày và các con ngựa đua đưọc mang tên các nghệ sĩ cải lương nổi tiếng của Sài gòn như: Út Bạch Lan, Mỹ Châu, Lệ Thủy, Thanh Kim Huệ thường chạy thắng giải ở trường đua Phú Thọ vào hai ngày cuối tuần.
     Bước qua đường Yên Đổ (nay là Lý Chính Thắng) gặp một Villa cổ với những hòn non bộ trước sân và cây cảnh um tùm. Có lúc được dùng làm trường Tư Thục Vạn Hạnh do Thầy Thich Đức Nghiệp làm Hiệu Trưởng. Về sau trường biến thành cư xá cho quân đội Mỹ thuê. Kề bên có một bảo sanh viện của người Hoa, được mang tên chủ nhân là Lương Kim Vi, Ngoài ra còn được gọi là nhà thương cô Mụ Lé. Có lẽ vì mắt cô bị bị lé? Hầu hết bà bầu vùng Đa Kao, Tân Định và nhiều nơi khác thường đến đây để khai hoa, nở nhụy. Người ta nói cô mụ Lé rất mát tay. Bà đỡ đẻ chưa bao giờ xảy ra chuyện đáng tiếc hay nguy hiểm cho sản phụ và thai nhi. Bao giờ cũng mẹ tròn, con vuông và dễ nuôi.  Sau khi về nhà, các sản phụ thường mang quà đến biếu cô để đền ơn. Kế bên là tiệm uốn tóc Tân Hồng Kông. Thợ của tiệm đa số là đàn ông, nhưng tướng đi thì õng a, õng ẹo, nhún nha, nhún nhảy như đang múa. Hai bàn tay với móng để thật dài. Mỗi khi gội đầu, bới tóc cho mấy bà, mấy cô thì các bà, các cô cảm thấy lâng lâng, khoái hết biết trời trăng, mây nước.!
     Rồi đến hiệu thuốc hiệu con Gà, chuyên bán thuốc cúm, ho, trị tứ thời cảm mạo như: dầu gió, dầu Nhị Thiên Đường, dầu Khuynh Diệp của Bác Sĩ Bùi Kiến Tín, dầu nóng Ấn Độ, dầu cù là Mát Su, thuốc dán hiệu con Rắn, Ký ninh,…, Tiếp đến là tiệm chụp hình Chí Mỹ, chuyên chụp hình học sinh, tài tử. giai nhân. Trước nhà cạnh bên luôn luôn có vài chiếc xe ba bánh đậu. Đó là tiệm bán than Tân Hồng Yến. Bà chủ có cô con gái học Régina Pacis rất xinh xinh. Lâu lâu em ra phụ má tính tiền. làm ai cũng muốn đến mua than mỗi ngày. Nằm kế bên tiệm than là tiệm Thuốc Tây Trần Ngọc Tiếng do Dược Sư Trần Ngọc Tiếng làm chủ. Các sinh viên Đại Học Dược Khoa năm cuối thường đến đây thực tập, trước khi chuẩn bị thi tốt nghiệp ra trường. Phu nhân của ông thuộc giòng họ Dương nổi tiếng.    
       Bước qua đường Nguyễn Văn Mai là Pháp Hoa Ngân Hàng, rồi tới tiệm may Thái Lai, chuyên may âu phục, veston cho nam giới. Bên cạnh là tiệm thuốc Bắc của ông Thần Bút mà hai bàn tay của ông để các móng dài cả tấc, nhìn giống như rễ tre. Trẻ con trong vùng thường đi lượm vỏ quit đem phơi khô gọi là Trần Bì, bán cho ông để mua quà bánh. Bên cạnh là phòng mạch của Giáo Sư Bác Sĩ Y khoa nổi tiếng Trần Ngọc Ninh chuyên về xương. Đi thêm vài thước là tiệm bán đồ điện. Cạnh bên có một hẻm nhỏ có nhà của vỏ sư nhu đạo Nguyễn Hữu Khánh, nguyên huấn luyện viên võ thuật cho Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia. Nghe đâu vỏ sư Khánh mất năm 1977 tại Mong Cáy. Cách nhà ông vài căn là nhà thầy Tổng Giám Thị trường Trung Học Công Lập Trần Lục. Phía trước hẻm, ban ngày bán cà phê bình dân, ban đêm có xe hủ tíu mì, hoành thánh, bánh tôm chiên của người Hoa rất đông khách đi chơi khuya về ghé thưởng thức. Bên cạnh là tiệm bán nước sinh tố trái cây và rạp hát Tân Đô. Về sau đổi tên là Kinh Thành thường chiếu các phim tình cảm Ấn Độ và cũng là chỗ cho các đoàn cải lương đến trình diễn sau khi đã đi lưu diễn ở các tỉnh xa về. Một vở tuồng cải lương mà tôi xem lúc nhỏ “Khi Hoa Anh Đào Nở” do nghệ sĩ Thành Được đóng vai chánh mà cho đến bây giờ tôi vẫn không quên.
     Cách rạp hát khoảng mười mét là tiệm bán cơm gà Hồng Phát, tiệm bán quân phuc và huy hiệu quân đội Nam Nhi. Sau đó là một con hẻm có khoảng mười căn. Hẻm này cũng là cổng sau trường Đồ Chiểu buổi sáng, trường Trần Lục buổi trưa và cũng là cổng sau của trường tiểu học con trai Tân Định. Trong trường Đồ Chiểu có một sân quần vợt. Cuối tuần các công chức, thầy giáo thường đến đây tập dượt. Đôi khi cáp độ cà phê, cà pháo cho vui.  Sân trường có nhiều cây Phượng Vỹ cho bóng mát. Vào mùa hè Hoa Phượng nở đỏ rực với tiếng ve sầu kêu inh ỏi, khoảng mười căn nhà bằng gạch dành cho giáo viên và lao công của trường.
     Bước ra khỏi hẻm có tiệm thuốc Đông Y Vạn Thọ Đường của người Hoa. Các con gái ông chủ đều tốt tướng, phì nhiêu. Rồi đến tiệm bán dụng cụ học sinh Tiến Hưng. Bên cạnh là đại lý bia, nước ngọt Hồ Văn. Ông chủ có nước da ngâm den, dáng dong dỏng cao và là một đấu thủ quân vợt có hạng ở sân trường Đồ Chiểu. Khi thua độ hay bị chọc quê thì ông thường quăng vợt xuống sân xi măng. Tuần sau thấy ông cầm cây vợt mới
     Bây giờ băng qua đường Nguyễn Đình Chiểu (nay là Trần Quốc Toản.) Ở hai bên đầu đường là hai quán cà phê bình dân của người Hoa. Cách khoảng hai chục thước phía tay trái, nằm đối diện cổng trước của trường Đồ Chiểu là tiệm thuốc Bắc tên Đại Cồ Việt. Ông có nhiều con, nhưng một cô tên Mẫn đang là sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn được bà con khen rất nhiều về tài xem bói bài Tây. Ngoài ra cô có vóc dáng cao, cặp mát đẹp, nét hơi lai và nói chuyện rất có duyên. Muốn được cô xem phải lấy số thứ tự trước.
      Tôi nhớ lại lúc vừa thuyên chuyển từ Sơn Trà về Saigon mới mấy ngày. Một đàn anh dự định làm bi si néc về xuất nhập cảng vải vóc, tơ lụa đã rủ tôi cùng đi xem với anh. Tôi không tin lắm, nhưng vẫn cứ đi theo. Một phần tò mò, một phần muốn thử xem thiên hạ đồn có đúng hay không?
        Đàn anh tôi được mời xem trước. Theo các lá bài mà đàn anh tôi bắt đưa cho cô đoán. Cô khuyên anh hãy an phận chờ thời, đừng nên phiêu lưu trong lúc này. không được cơm cháo gì mà còn bị tiền mất, tật mạng. Chưa kể là có thể dính dáng vào vòng lao lý. Nghe cô nói xong, mặt anh đượm vẻ buồn buồn và suy tư và không dám mạo hiểm “vì anh rất tin tưởng cô Mẫn.”
      Bây giờ đến phiên tôi. Cô nhìn tôi và nói:” Nếu anh tin thì hãy nhờ tôi coi. Còn như không tin thì đừng đụng các lá bài, tốn thời giờ vô ích.”
      Tôi vội vàng trả lời “vì tin, nên mới đến đây nhờ cô xem giúp.” Thế là cô trao cho tôi một xấp bài gồm ba mươi hai lá và biểu tôi vừa xào bài, vừa khấn nguyện những gì mà tôi ước muốn. Sau khi xào bài xong, tôi trao lại cho cô. Ngay tức thì, cô xoè xấp bài thành hình cây quạt rất nhanh.
      Cô nói như ra lệnh: “Anh hãy bốc mỗi tay một lá. Tay trái trước, tay mặt sau - Nam tả, Nữ hữu.” Cô đặt hai lá bài mà tôi vừa bốc vào trong xấp bài. Sau đó cô xào đi, xào lại nhiều lần. Kế tiếp cô trải các lá bài theo ba hàng dọc. Sau vài phút trầm ngâm với các lá bài trước mặt. Cô nhìn tôi, rồi cho biết:” Quẻ bài sao tui thấy rất ngồ ngộ?” Theo quẻ bài này thì anh sắp phải đi xa khỏi Sài Gòn một thời gian.”
     Nghe xong, Tôi hơi ngạc nhiên. Tôi nói với cô: “Làm gì có chuyện đó xảy ra!” Tôi mới thuyên chuyển về Sài Sòn chưa tới một tuần thì làm sao có thể bị đổi đi đâu dễ dàng vậy? Cô trả lời: “Quẻ bài lên sao, thì tôi nói vậy, chứ không phải do tôi tự động chế ra. Còn tin hay không là tùy anh.”  
     Sau đó tôi hỏi thêm:” Nếu chẳng may vì lý do nào đó mà tôi bị đi xa như cô cho biết thì tôi có gặp chuyện xấu hay bất lợi gì không?” Cô trao xấp bài lại cho tôi và bảo tôi xào bảy lần và kinh ra làm đôi. Lần này cô xếp bài theo hai hàng dọc. Sau đó cô nhìn tôi như thôi miên. rồi cô nói tiếp: “Theo quẻ bài lần này thì anh may mắn thoát một tình huống có thể nguy hiểm đến tính mạng.” Tuy nhiên nhờ phúc đức và ông bà khuất mặt, khuất mày phù trợ sẽ giúp anh không bị hề hấn gì hết!
     Cô dùng ngón trỏ chỉ vào ba lá bài nằm liên tiếp nhau: Già chuồn, Già cơ và Già rô. Cô nói:” Anh rất may mắn.” Một lúc mà anh được ba ông Thần hộ mạng phù hộ và giúp đỡ. Chắc là sẽ không xảy ra gì nguy khốn đến tính mạng đâu!” Tiếp theo, cô nhìn và hỏi tôi có còn thắc mắc gì nữa không? Tôi trả lời “Không” và móc bóp lấy tiền ra đặt quẻ cho cô.
     Bước chân ra về mà trong lòng cứ lo ngay ngáy. Phải chi đừng đi coi bói, để khỏi phiền phức, để khỏi nhức đầu. Tôi nói thầm trong miệng: “Bói ra ma. Quét nhà ra rác. Chuyện tào lao thiên hạ!” Cầu mong không phải là sự thật.
     Mấy hôm sau, đơn vị tôi mới vừa đổi về. Theo nhu cầu huấn luyện, nên phải cử một sĩ quan tăng phái đề hướng dẫn thực tập bằng máy T2 và T4 về” Nghênh Cản Giả Tạo”cho các Sĩ Quan Điều Không (Air Weapons Controller) thuộc Đài Kiểm Báo 921 tức Peacock (Pleiku.)
      Một Sĩ Quan thâm niên hơn tôi được chọn trong chuyến công tác này. Nhưng hôm sau, Th/tá Trưởng Phòng Hành Quân đơn vị mời tôi lên phòng làm việc của ông và trao cho tôi Sự Vụ Lệnh lên đường đi thăm “Em Pleiku má đỏ, môi hồng” thay thế đàn anh, vì giờ chót niên trưởng của tôi phải nhập bệnh viện bất ngờ! Tôi vui vẻ, không thắc mắc và nhận sự vụ lệnh bước ra khỏi phòng. Tôi nghĩ mình mới đổi về, vừa mới chân ưót, chân ráo, chưa có dây mơ, rễ má. Dĩ nhiên bị chỉ định đi thay, thì đâu có gì là đáng ngạc nhiên!!!
     Cầm Sự Vụ Lệnh trên tay vừa đi, vừa hát khe khẻ bài “Tàu Đêm Năm Cũ” của nhạc sĩ  Trúc Phương “ Lòng buồn dạt dào, nhớ hôm nào..” Bây giờ tôi bắt đầu khâm phục tài bói bài của cô Mẫn “sao cô nói đúng và linh ứng quá.!”
     Và thêm một chuyện khác làm tôi lại càng thán phục tài bói bài của cô hơn.
     Khi lên đến Pleiku công tác khoảng hơn nửa tháng. Vào ngày cuối tuần của đầu tháng 4/1973. Tôi gặp khó khăn về tài chánh. Số tiền mang theo xài sắp cạn, nhưng không muốn hỏi mượn bạn bè. Vì thế tôi theo trực thăng của Phi Đoàn 229 (Lạc Long) do Tr/úy PHB và LVS lái đưa nhân viên của phi đoàn đi phép về Saigon. Trong lúc phi hành đoàn làm các thủ tục tiền phi. Tình cờ! Tôi gặp một anh bạn cùng khoá là Tr/úy Lý. Ch…, thuộc Phi Đoàn 235 (Sơn Dương) đang đi lại một chiếc trực thăng đậu gần bên. Anh Ch.. nói sẽ  đi Nha Trang. Anh rủ tôi đi theo để cho biết nhà anh ở Thành, cách Thành Phố Nha Trang khoảng hơn mười cây số. Tôi thú thiệt với anh là tôi “Mậu Lúi”, phải về Sàigòn xin gia đình tiếp viện, thì làm sao mà đi theo được! Anh Ch… nói: “Bạn đừng lo, có gì tui cân hết.” Nghĩ tình đồng khoá và tình cảm quý mến anh dành cho tôi, nên tôi bèn xuống phi cơ của Tr/uy B và chạy sang phi cơ của anh. Cùng lúc đó, một anh bạn cùng khoá khác của tôi là Tr/úy VĐQ, gốc Thiếu Sinh Quân, Sĩ Quan Vũ Khí SĐ6/KQ, vội nhảy lên chiếc trực thăng của Tr/uy B thế tôi, để về thi Luật ở Saigon cho kịp ngày hôm sau.
     Khi trực thăng do Tr/úy Ch…lái, đang bay trên không phận Tỉnh Phú Bổn, thì nghe trên tần số báo nguy 243.0 cho biết có một phi cơ trực thăng vừa bị rớt ở Ban Mê Thuộc. Anh Ch…quay cổ lại nói với tôi:“ Đó là chiếc trực thăng do Tr/úy PHB và LVS lái, mà lúc ở phi trường Cù Hanh tôi đã bước xuống để sang phi cơ của anh.”
     Chiếc phi cơ bị lâm nạn cháy, phát nổ tan tành. Tất cả phi hành đoàn, cùng hành khách trên phi cơ không một ai sống sót. Tôi đang ở trên độ cao mấy ngàn bộ, thời tiết rất lạnh, thế mà mồ hôi cứ tuôn ra như tắm. Tôi bàng hoàng lâm râm khấn Trời Phật, vì mình vừa thoát chết trong đường tơ, kẻ tóc. Quả là cô Mẫn đã phán không sai chút nào!
“Dù gặp hiểm nguy, nhưng vẫn hoàn toàn bình yên vô sự và tai qua nạn khòi”
          Bây giờ đi thêm vài chục thước là tiệm phở Hoà Bình, nhà in Sài Gòn Ấn Quán, một con hẻm ra được đường Pasteur. Kế bên có ban kích động nhạc gia đình do người cha làm ông Bầu. Các con ông có thể chơi nhiều loại nhạc khí và được hướng dẫn bởi người con lớn tên Long. Ban nhạc thường đi trinh diễn cho các câu lạc bộ của quân đội Hoa Kỳ. Sau đó là cái mả bằng đá ong nằm bên trái góc đường Pasteur và Nguyễn Đình Chiểu. Nằm đối diện là Trường Anh Văn Khải Minh. Đây là một trong những trường dạy tiếng Anh đầu tiên của Sàigòn. Lúc đó phong trào làm sở Mỹ đang nổi lên rầm rộ, nên bà con ghi tên học trường này rất đông. Cũng cần kể thêm nhà ông chủ hảng Sơn Mài Thành Lễ nằm trên khoảng đường này, mà một trong các con trai của ông tên NTT..là Phi Công lái Phản Lực Cơ F5-E và hảng xe đò của ông Phạm Hoè mang tên Cosara, với những chiếc xe buýt sơn màu xanh da trời có một không hai ở Sàigòn. Vượt qua khỏi đường Công Lý khoảng 200 thước là cô nhi viện An Lạc phía bên tay phải. Đường Nguyễn Đinh Chiểu chấm dứt, khi gặp đường Trương Minh Giảng.
Trở lại Hai Bà Trưng. Nằm đối diện chợ Tân Định là các tiệm tạp hoá của người Hoa, bán đủ thứ từ mỹ phẩm đến mọi đồ dùng trong nhà. Ngoài ra có cả phòng trám, trồng răng vàng, răng bạc, nhổ răng không đau. Sau đó là nhà thuốc Kim Tân, bán thuốc cãi lão hoàn đồng, có bày một tủ kính một chàng lực sĩ vai u, thịt bắp đang cung tay gồng mình. Đầu ngỏ hẻm Kim Tân có một chiếc xe nhỏ với tủ kính bán dây nịt da, viết Bic, viết máy Parker, Calot, hộp quẹt Zippo và nhiều thứ linh tinh khác. Đi thêm vài bước là trường Thiên Phước với các nữ sinh đồng phục áo đầm màu hồng. Đến giờ vào lớp và tan học, xe Jeep của quân đôi, xe du lịch đưa đón học sinh gây trở ngại lưu thông, làm tắt nghẻn cả khúc đường Hai Bà Trưng.
Sau đó tới Nhà Thờ Tân Định, nguy nga, tráng lệ đã tô điểm cho Tân Định thêm nét hoành tráng. Bên trong nhà thờ Tân Định có một cửa sắt lớn. Cửa chỉ mở khi nào có lễ lớn, đi ra được đường Hiền Vương, Pasteur, Nguyễn Đình Chiễu và Huỳnh Tịnh Của. Trong hẻm này có trường La San Đức Minh. Trở ra nhà thờ Tân Định, đi thêm khoảng mười thưóc nửa là cà phê Thu Hương, mà mỗi khi có ai viết về cà phê Saìgon đều luôn luôn nhắc đến tên, kèm theo vài hàng nói về ông chủ rất khó tính. Gương mặt ông lúc nào cũng khó đăm đăm. Khách uống cà phê phin, không được tự tiện châm nước sôi vào tách mà phải do chính tự tay ông châm vào thì ông mới chịu. Tuy nhiên, ông rất hiền và dễ mến. Riêng tôi mỗi khi đến quán Thu Hương, tôi chỉ kêu nước chanh rum hay dùng chè đậu xanh với đá bào nhuyễn. Gần cuối đường là tiệm may khá nổi tiêng Paris Mode có hai ngưòi con trai tên Bảo và Toàn.
       Bây giờ sang phía tay trái đoạn đuờng dễ thương.
      Đoạn đường này cũng buôn bán ì xèo, sầm uất. Vừa xuống dốc cầu Kiệu, quẹo trái là một hẻm nhỏ. Nơi đây chuyên bán thịt chó, đi kèm theo là một đơn vị săn trộm chó chuyên nghiệp, để cung cấp cho các cửa hàng bán cờ tây. Đội quân  này chỉ  xuất hiện về đêm, hoặc đi xa về phía ngoại ô. Em chó nào sút dây cột, chạy tung tăng, hớn hở mừng được “ Hát bài ca tự do”  là các chàng săn bắt chó canh me, dùng một ống nước với thòng lọng làm bằng dây thắng xe giựt lẹ làng trong tích tắc, bỏ “chiến lợi phẩm” ngay vào trong bao bố cầm sẵn trên tay, không cho các em kịp ú ớ, kêu la cầu cứu.
     Nếu em chó nào may mắn xinh đẹp, có giá trị thì họ giữ lại, để các chủ mất chó có thể đến đây nhận diện và xin được chuộc cục cưng lại theo luật giang hồ. Nếu chậm vài ngày mà chưa đến chuộc thì các em cũng sẽ biến thành rựa mận và cẩu bảy món. Đi thêm vài bưóc là tiệm bán gạo Ngọc Anh, tiệm làm nón nỉ, cây xăng Hai Bà Trưng, hiệu trà Phật Tổ bán các loại trà đặc biệt cho những ai ghiền uống trà, tiệm điện Thành Mỹ.  Khoảng mười thước là tiệm sơn Mậu Ký, hiệu buôn xe đạp có tên là Đoàn Văn Thẩm chuyên bán phụ tùng và lắp ráp xe đạp nhập cảng của Pháp hay Ý. Các cua rơ xe đạp nhà nghề là khách hàng thường xuyên của tiệm này. Ngay góc Hai Bà Trưng và Trần Quang Khải là phòng mạch của Bác Sĩ Nhi Khoa tên Hạnh
        Vừa qua khỏi đường Trần Quang Khải là quán cơm bình dân cây Điệp. Kế bên là hảng gạch bông Vân Sơn, chuyên sản xuất và bán gạch bông. Chủ tiệm cũng có các cô con gái rất dễ thương. Sau này ông khuếch trương thêm về Billards, cũng mang tên Vân Sơn. Nơi tụ tập của học sinh cúp cua đến đây để thụt giò gà và mắt kiếng. Hôm nào kẹt tiền, các em đem sách học đi cầm hoặc bán để chơi tiếp. Tôi cũng là một thân chủ của Billards Vân Sơn. Tuy nhiên, khi không có tiền, tôi cố nhịn, không dám đem sách vở đi cầm vì sợ bị đòn. Nằm sát bên gạch bông Vân Sơn, cũng có tiệm bán xe đạp mang tên chủ nhân là Trần Xuân Cường. Thêm vài bước nữa là thuốc lào Vĩnh Bảo, rồi tiệm nhuộm Tô Châu.
     Bây giờ cũng phải kể thêm tiệm chụp hình Văn Hoa có mặt đầu tiên ở vùng Tân Định. Trong hẻm tiệm hình Văn Hoa có nhà của cua rơ Nguyễn Văn Châu. Anh đã làm rạng danh nền đua xe đạp nước nhà, mà cho đến nay chưa có bất cứ một cua rơ xe đạp Việt Nam nào lâp được thành tích “Vô tiền, khoáng hậu” như anh. Trong cùng năm 1961. Anh đã đoạt một lúc hai giải thưởng lớn “Vô địch nước rút xe đạp Á Châu tại Tokyo và Đông Nam Á tại Miến Điện.” Hiện anh đã ngoài 70 tuổi, đang phụ con trai có tiệm ăn trên đường Hai Bà Trưng, dưới chân dốc cầu Kiệu. Tiệm chuyên bán hủ tíu Mỹ Tho, Nam Vang, bún nước lèo, bánh bèo bì, bánh canh giò heo. Khách đến ủng hộ rất đông. Trong hẻm tiệm hình cũng có nhà Vũ Sư Nguyễn Thống và Nhạc Sĩ Nguyễn Ánh Chín.     
       Cạnh hẻm tiệm hình Văn Hoa là Bi Da và Phở cùng mang tên Vạn Lợi nằm chung với  nhau. Kế bên là một con hẻm cụt, có trồng một cây Đa. Đầu hẻm có ông thợ chuyên môn sửa giầy dép và cạc táp giá rất bình dân. Thỉnh thoảng, ông biểu diễn một màn giựt gân. Ông ghim cây kim vào lưng bàn tay hay cắm phía trên lông mày, trong khi lúc kéo chỉ. Sau đó là hiệu kem Hoàn Kiếm với hai loại kem đậu xanh và sầu riêng độc đáo không nơi nào sánh bằng. Tiếp theo là tiệm chụp hình Mỹ Quang do hai anh em ruột cùng làm chủ. Tiệm có để  hình cô bạn gái cùng lớp trong tủ kính đặt trước tiệm, mà chúng tôi, đứa nào cũng ngắm nghé nhào vô. Mỗi ngày đi học ngang qua, tụi tôi đều dừng lại vài phút để chiêm ngưỡng người tình có chân dung này. Cuối cùng tất cả chúng tôi đều thất vọng ê chề vì một anh phi công trực thăng hào hoa, phong nhã, đeo P.38 với cái báng inox xề xệ đã lọt vào “trái tim không ngủ yên của nàng.”
      Tôi cũng kể thêm garage Chín Lê, nơi sửa chữa xe hơi nổi tiếng, có con hẻm nhỏ ra đươc đường Trần Quang Khải và tiệm thịt bò Thành Thể với cậu ấm tên N.., biệt danh là N..Thịt Bò. N.. thuộc loại con cưng, được cha mẹ thương tậu cho một xế nổ hai bánh để đến trường, trong khi đó bạn bè chỉ dùng lô ca chân hay xe đạp là cao cấp nhất rồi!. Anh chàng này võ nghệ đầy mình, được các người làm công của tiệm, chân tay vạm vỡ, bắp thịt cuồn cuộn và mạnh khoẻ. Họ sẵn sàng bảo vệ cậu ấm mỗi khi lâm chiến với các đấng giang hồ trong vùng đến hỏi thăm sức khoẻ . Sau này nghe nói, N.. làm cận vệ cho nột xếp lớn trong Không Quân..Cũng nói thêm cạnh thịt bò Thành Thể có mấy tiệm bán vàng. Tuy nhiên tiệm vàng Mỹ Thịnh là có vẻ đặc biệt, vì ông bà chủ đã cùng nhau hợp tác tăng gia sản xuất gần một tiểu đội toàn là công chúa. Sau này, có lẽ nhờ khấn nguyện hay đi các đền chùa, nhà thờ cầu xin. Nên ông bà kiếm được thêm một hoàng nam.? Các con gái của ông bà đều cao nghều nghệu, hầu hết đều học trường Đầm.  
      Qua khỏi đường Bà Lê Chân là y viện miễn phí Tân Định, chuyên chữa bệnh cho người nghèo. Cạnh bên là chợ Tân Định, một ngôi chợ cũng thuộc loại tầm cỡ ở Sài gòn. Chợ đúng là của nhà giàu vì hàng ngày xe hơi láng coóng đưa các bà, các cô đến đây mua thịt cá, hoa quả, vải vóc toàn là các thứ tuyển chọn. Trước chợ có những sạp trái cây trưng bày rất đẹp mắt với những trái vú sữa màu tím chín mộng, sầu riêng thơm ngát, chôm chôm, soài, bòn bon, lê, táo, dâu, bưởi, ổi xá lị. mận sọc…Mùa nào, quả nấy. Chính giữa mặt tiền của chợ, phía trên cao là chiếc đồng hồ tròn, đường kính rât to, càng tô điểm cho chợ Tân Định thêm một hình ảnh uy nghi, bề thế.
         Buổi chiều bên hông chợ, nằm trên đường Trần Văn Thạch. Đầu ngả ba góc Hai Bà Trưng là Bar Bình Viện bán la de, rượu đế, củ kiệu, tôm khô, các món nhậu. Thỉnh thoảng xảy ra những trận thư hùng, bàn ghế bay tứ tung, chai lọ nằm ngổn ngang trên đất vì các đệ tử lưu linh quá chén, lời qua tiếng lại, hay không còn kiểm soát được mình. Ngoài ra có các xe hủ tíu, mì hoành thánh, sâm bổ lượng, khô mực, hột vịt lộn, ốc gạo, ốc hương, ốc len xào dừa, cháo hột vịt muối, nem nướng tạo nên hoạt cảnh ồn áo, náo nhiệt cho đến nửa đêm về sáng. Nhìn sang bên đường là tiệm trà Mậu Ký lấy hình con chuột làm biểu tượng.
      Bước sang đường Trần Văn Thạch (nay là Nguyễn hữu Cầu) là một tiệm sản xuất bánh mì, ngỏ hẻm kế bên là lò luyện ca sĩ mầm non của ba nhạc sĩ Lê Minh Bằng gồm: Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng. Ngày ngày, các em ôm mộng làm ca sĩ đến đây học nhạc lý, luyện giọng để hy vọng trở thành ca sĩ được trình diễn ở phòng trà, đại nhạc hội, đài phát thanh, đài truyền hình…. Không nghe nói có ca sĩ nào thành danh xuất thân từ lò luyện này. Kể tới là nhà thuốc Kim Khuê có con cọp nhồi bông rất uy nghi bày trong tủ kính trước tiệm.
     Tiếp đến một tiệm chụp hình nữa cũng khá nổi tiếng là Luyến Photo, trường dạy đánh máy chữ Lectason. Cách đó vài căn là hiệu bán kính đeo mắt Kính Tiên, có bán cà phê phía trước. Tiệm nằm ngay góc Đinh Công Tráng và Hai Bà Trưng. Kế bên là tiệm chụp hình Duy Hy. Đi bộ qua đường Đinh Công Tráng là tiệm hòm Vạn Thọ, tiệm giày Trinh Shoes. Có lẻ con gái chủ tiệm tên Trinh? Các tay chơi thường thích đến đây để đóng những đôi giầy theo ý thích của mình hay sắm các đôi giầy nhập về từ Ý Đại Lợi và tiệm mang tên Đô Hội. Kế tiêp là Bưu Điện Tân Định, có con hẻm nhỏ đi ra được đường Hiền Vương. Hồi đó, nơi đây có một khoảng đất rộng như lòng chảo với mấy cây me già rất sai trái. Con nít các nơi thường kéo đến hái me, đá banh, chơi năm mười, u bắt mọi, tạt lon, đánh đáo hay bắn đạn.
     Đặc biệt đầu hẻm phải kể thêm tiệm hòm tên Tobia nối tiếng hơn một chút vì có quý tử tên H…, biệt danh H…Tobia, cựu SVSQ/KQ giải ngũ vì bị tai nạn ở trường bay. Công tử H… Tobia nổi tiếng là tay chơi có hạng ở Saigon lúc bấy giờ. Nay thì chàng đã già và gác kiếm quy hàng, không còn là dân chơi cầu ba cẳng nữa! Anh chuyển sang vui thú điền viên với chim, hoa, cá, cảnh và chăn nuôi bốn mươi con thú. Chiều chiều đón nghe radio chờ kết quả.
      Cuối cùng là tiệm làm cửa sắt, máng xối và hàn gió đá của nhà hai anh em cua rơ xe đạp Thông Vận Binh nổi tiếng một thời: Trần Gia Thu và Trần Gia Châu. Vài ngày trước mỗi lần tranh đua, cả hai anh em thường đem xe đạp của mình ra kiểm soát lại tất cả: dây xên, đạn, thắng, vỏ, ruột… và vô dầu mỡ rất kỹ lưỡng. Nhích thêm vài mét là một ngỏ hẻm đi ra được đường Hiền Vương. Nếu queo phải gặp trường dạy lái xe hơi Mayer của ông Giáp Văn Thập, tức ông Nghị Còi Ô Tô. Cạnh bên là nhà của nghệ sĩ hài Mỹ Trinh số 110, tiệm cơm tấm Hiền vương, số 114 với món bì, sườn nướng, chả trứng và xíu mại độc đáo! Nếu như quẹo trái, đi thêm hơn hai mươi mét là trường Mẫu Giáo Michelet.
Tóm lại, chỉ một đoạn đường ngắn mà biết bao nhiêu điều để viết, để tả và để hoài niệm.
      Ôi! Tân Định của tôi và những ai có cảm tình với Tân Đinh. Dù bất cứ không gian và thời gian nào vẫn mãi mãi không bao giờ quên.
Trần Đình Phước 
(San José – California –Tháng Mười, năm 2013)

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Truong Petrus Ky

Image 

Ôn lại lịch sử trường Petrus Ký (trước 75) 


Tôi ra đời trong một làng quê ở tỉnh Mỹ Tho. Ngay từ lúc còn học ở trường Tiểu Học tỉnh, tôi đã được nghe ba tôi và chú tôi nói nhiều về trường Petrus Ký. Thấy các anh học sinh trường College Le Myre de Vilers với bộ đồng phục trắng có gắng phù hiệu trông rất uy nghi tôi đã nể phục các anh và ngưỡng mộ trường college này lắm rồi. Nhưng chú tôi bảo là Petrus Ký còn to hơn, quan trọng hơn Le Myre de Vilers nhiều lắm. Riêng ba tôi thì hình như lúc nào cũng nhắc là “nữa lớn con sẽ học trường Petrus Ký.” Thành ra trong đầu óc non nớt của tôi lúc đó trường Petrus Ký là cái gì vĩ đại lắm, nó lớn lao quan trọng vô cùng. Tôi cũng nghe một người bà con bảo là “học Petrus Ký ra là làm cha thiên hạ đấy.” Lời phát biểu chói tai đó thật ra cũng có phần đúng đối với thế hệ của tôi và đối với người dân Miền Nam thời đó. Bởi vì cho đến năm 1945, sau ngày Đại Chiến Thế Giới Thứ Hai chấm dứt, cả Miền Nam nước Việt chỉ có 4 trường Trung Học công là Petrus Ký, Gia Long, Le Myre de Vilers (Nguyễn Đình Chiểu), và College de Cần Thơ (Phan Thanh Giản), mà trong 4 trường đó chỉ có trường Petrus Ký là trường duy nhất có bậc đệ nhị cấp (tức là lycée hồi đời Tây). Dù ra đời trễ nhất trường Petrus Ký vẫn là trường lớn nhất, cao nhất, và nỗi tiếng nhất ở trong Nam. Thời xưa, có được bằng Tiểu Học đã là oai lắm đối với dân quê, có được bằng Thành Chung thì kể như trí thức lắm rồi, thuộc hạng thầy thiên hạ, huống chi là có được bằng Tú Tài. Quí hóa vô cùng, có mấy ai có được bằng này. Vậy mà trường Petrus Ký lại sản xuất ra số ít người quí giá đó. Bởi thế nên phụ huynh học sinh, những người hiểu rõ giá trị của giáo dục, nhất là những người có con trai, ai ai cũng đều mong muốn cho con mình được vào Petrus Ký cả. 


Nhưng khi lên trung học thì tôi vào Le Myre de Vilers chớ không phải Petrus Ký vì thời cuộc lúc này và vì hoàn cảnh gia đình không cho phép. Khi xong đệ nhất cấp, tôi mới xin chuyển về trường Petrus Ký và từ đó sống ở Sài Gòn luôn. Được vào Petrus Ký là kể như ước mơ đã thành, tôi mừng không thể tả, nhưng người vui nhất chắc chắn là ba tôi và kế đó là nhưng người thân trong gia đình tôi. “Ngày đầu tiên vào trường, đứng xếp hàng dưới những tàn cây sao cao ngất bên hông những dãy lớp học đồ sộ uy nghi, tôi có cảm giác như tôi đang được vươn mình lên để lớn thêm và để mở rộng tâm hồn cho khoáng đạt, cho thích nghi với với cái khung cảnh uy nghi đồ sộ của ngôi trường. Khi các lớp học sinh chỉnh tề theo hàng ngũ lần lượt đi vào sân trong và dừng lại ở trước cửa mỗi lớp một cách rất có trật tự và kỷ luật tôi nói thầm trong lòng rằng ở trên đời này chắc chưa có trường học nào có được cái kỷ luật chặt chẽ và cái không khí trang trọng như trường này. Nhất là khi vừa qua khỏi cổng vào sân trong, nhìn lên giữa hành lang chính (préau) thấy thầy hiệu trưởng Phạm Văn Còn cùng với thầy giám học (thầy Huấn) và thầy tổng giám thị (thầy Trương) oai vệ đứng đó tôi càng thấy cái không khí nghiêm trang của ngôi trường hơn, một sự nghiêm trang mà tôi chưa hề thấy được ở những ngôi trường nào tôi đã học qua.” (TTHPK tr. 115-116). So với Le Myre de Vilers, trường Petrus Ký lớn hơn nhiều lắm, cũng ra đời sau Le Myre de Vilers lâu lắm. Họa đồ xây cất trường do một kiến trúc sư người Pháp là ông Hebrard de Villeneuve vẽ hồi năm 1925, và trường được khởi công xây cất liền sau đó để hoàn tất vào năm 1927. Niên khóa đầu tiên khai giảng hồi tháng 9 năm 1927 với bốn lớp học sinh chuyển từ Chasseloup Laubat sang. Lúc này trường mang tên Collège de Cochinchine. Vị hiệu trưởng đầu tiên là ông Banchelin. Năm sau, 1928, Thống Đốc Nam Kỳ là Blanchard de la Brosse lấy tên nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký đặt tên cho trường, biến trường này thành lycée (trường Đệ Nhị Cấp) và cho đặt tượng đồng bán thân Petrus Ký vào giữa sân trường. Lễ khánh thành tượng đồng Petrus Ký và trường Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký được đặt dưới sự chủ tọa của Tống Đốc Nam Kỳ Blanchard de la Brosse. Trường nằm ở giữa hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, trên khoảng đất rộng mênh mông với đầy đủ cung cách của một khu học đường trang nghiêm yên tịnh. Tất cả đất đai, và phần lớn cơ sở trong khu vực đóng khung bởi bốn con đường Cộng Hòa, Thành Thái, Trần Bình Trọng và Nguyễn Hoàng, đều thuộc lãnh thổ của Petrus Ký. Trường có sân vận động riêng của trường, sân vận động Lam Sơn. Nhưng vì sự phát triển nhanh của nền giáo dục trong thập niên 1950 khi nước vừa độc lập nên một số cơ sở và đất đai của trường Petrus Ký bị cắt xén, trưng dụng để xài cho những cơ quan giáo dục khác. Trường Quốc Gia Sư Phạm, trường Trung Tiểu Học Trung Thu dành cho con em Cảnh Sát, Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục đều được xây trên phần đất của trường Petrus Ký. Ba dãy lầu lớn của trường Petrus Ký được dùng cho Đại Học Khoa Học và Đại Học Sư Phạm. Nhà Tổng Giám Thị Petrus Ký được dùng làm Trung Tâm Thính Thị Anh Ngữ, và một số các nhà chức vụ khác của trường cũng được dùng cho một số các viên chức Bộ Giáo Dục. Tuy bị cắt xén nhiều nhưng trường Petrus Ký vẫn còn là một trường trung học lớn nhất dành riêng cho nam sinh ở miền Nam Việt Nam. 


(Về phương diện kỷ luật và trật tự thì có lẽ không có trường nào có kỷ luật và trật tự chặt chẽ, tốt đẹp bằng trường Petrus Ký. Ở Le Myre de Vilers tuy kỷ luật cũng khá chặt chẽ, tuy cũng có nhiều biện pháp mạnh trừng phạt học sinh như cấm túc, đuổi học, vv...nhưng vẫn không có cái không khí trang nghiêm uy nghi của trường Petrus Ký. Ở Le Myre de Vilers khi cổng trường mở thì học sinh cứ đi thẳng vào trước lớp học của mình chờ tới giờ sắp hàng trước cửa lớp đợi thầy đến cho phép là vào lớp. Ở Petrus Ký, sau khi vào cổng học sinh phải xếp hàng bên hông trường trước. Xong rồi mới theo lệnh giám thị tiến vào bên trong xếp hàng chờ trước cửa lớp một cách rất trật tự. Ở Le Myre de Vilers học sinh không thấy ông hiệu trưởng đâu, nhưng ở Petrus Ký, khi vào bên trong trường là học sinh sẽ thấy ngay ban giám đốc đứng giữa hành lang chính nhìn xuống toàn thể học sinh của trường. Tôi chưa hề chào cờ ở trường Le Myre de Vilers bao giờ. Nhưng ở Petrus Ký thì học sinh phải chào cờ mỗi sáng Thứ Hai. Cảnh chào cờ bao giờ cũng rất nghiêm trang và long trọng. Ở đây lúc nào bạn cũng cảm thấy như được ban giám đốc chiếu cố tới luôn). 


Muốn được vào học trường Petrus Ký người đi học phải chứng tỏ được rằng mình thuộc thành phần ưu tú, xuất sắc, có thể là ở trong nhóm từ 5 đến 10 phần trăm đầu của những người cùng lứa tuổi. Kỳ thi tuyển vào Petrus Ký là kỳ thi rất gay go cho nhiều học sinh, xưa cũng vậy mà sau này cũng vậy. Vì thuộc thành phần chọn lọc như vậy cho nên học sinh Petrus Ký đậu rất nhiều và rất cao trong các kỳ thi. Kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp năm 1959 chẳng hạn là kỳ thi rất hóc búa, toàn quốc chỉ có một người đậu hạng Bình mà thôi, và người đó là học sinh Petrus Ký. Quyển Kỷ Yếu của trường Petrus Ký niên khóa 72-73 ghi thành tích học tập của niên khóa trước như sau: 


TÚ TÀI II 
Ban A: Dự thi 101, trúng tuyển 101 với 2 Ưu, 10 Bình, 25 Bình Thứ, tỷ lệ 100%. 
Ban B: Dự thi 419, trúng tuyển 419, 11 Ưu, 53 Bình, 114 BT, tỷ lệ 100% 
Ban C: Dự thi 52, trúng tuyển 52, với 7 BT, tỷ lệ 100% 
Đậu nhiều và nhiều người đậu cao, đó là thành tích học tập của học sinh Petrus Ký từ xưa đến giờ. 


Trường Petrus Ký đối với tôi là một trường mẫu, lý tưởng, là tấm gương cho các trường khác noi theo. Lúc còn học ở Le Myre de Vilers bọn học sinh chúng tôi luôn lấy các bạn Petrus Ký làm mẫu trong mọi hoạt động. Bởi vậy nên khi tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm, tôi quyết định lấy Petrus Ký làm ưu tiên một trong việc chọn lựa nhiệm sở của tôi. Tôi được về Petrus Ký theo ý muốn. Ở thời đại của tôi được bổ nhiệm về trường Petrus Ký và một số các trường lớn khác ở Đô thành thường phải là những người đậu đầu hay thật cao trong danh sách tốt nghiệp CĐSP hay ĐHSP sau này, hoặc những người đã dạy lâu năm ở tỉnh. Nói chung thì phần đông giáo sư Petrus Ký là giáo sư được chọn lọc, rất có căn bản chuyên môn và cũng rất đạo đức. Một số giáo sư Petrus Ký đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục sau khi dạy ở trường một thời gian. (Giáo sư Nguyễn Thành Giung sau làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục, giáo sư Phạm Văn Lược sau làm Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục, giáo sư Phạm Văn Thuật sau làm Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và BDGD, giáo sư Nguyễn Thanh Liêm sau làm Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên). Đặc biệt là từ niên khóa 1964-65 giáo sư Petrus Ký giữ vai trò quan trọng trong việc soạn đề thi cho các kỳ thi trên toàn quốc. Họ cũng là những người đem bài thi trắc nghiệm khách quan (objective tests) thay dần vào chỗ những bài thi theo lối luận đề (essay). Một số giáo sư khác đã có những công trình nghiên cứu soạn thảo, viết sách giáo khoa rất có giá trị như giáo sư Phạm Thế Ngũ, giáo sư Vũ Ký, vv...Phần đông đều rất tận tụy với việc giảng dạy, rất thương học sinh, và rất chú tâm đến việc bảo vệ uy tín và thanh danh của trường. Thầy Đảnh, thầy Thái, thầy Ái, thầy Minh, thầy Hạnh, thầy Đính, thầy Nam... thầy nào học trò cũng thương cũng mến và thầy nào cũng hết lòng lo lắng cho học sinh, cũng như lo lắng cho trường. Mến thương học trò, mến thương trường Petrus Ký, đó là điều mà phần đông anh chị em giáo sư Petrus Ký đều cảm thấy. Cho nên năm 1962 khi tôi bị đưa đi làm hiệu trưởng ở Bình Dương tôi thấy rất khổ tâm khi phải rời khỏi trường. Cũng may là năm sau tôi lại được trở về Petrus Ký không phải để đi dạy lại mà để làm hiệu trưởng trường này. 


Tôi là hiệu trưởng đời thứ 13 của trường mặc dầu trước tôi chỉ có 11 ông hiệu trưởng (vì ông Valencot làm hiệu trưởng tới hai lần cũng như giáo sư Trần Ngọc Thái sau này). Từ 1927 cho đến năm 1975 trường có tất cả 17 vị hiệu trưởng. Trong số 17 ông hiệu trưởng này, có 5 người Pháp (Banchelin, Valencot, Andre Neveu, Le Jeannic, và Taillade) và 12 người Việt Nam (Lê Văn Kim, Phạm Văn Còn, Nguyễn Văn Kính, Nguyễn Văn Thơ, Nguyễn Văn Trương, Phạm Văn Lược, Nguyễn Thanh Liêm, Trần Ngọc Thái, Trần Văn Thử, Trần Văn Nhơn, Bùi Vĩnh Lập, và Nguyễn Minh Đức). So với những vị hiệu trưởng trước, tôi là người quá trẻ khi đảm nhận chức vụ hiệu trưởng trường này. Lúc đó tôi mới có 30 tuổi trong khi những vị hiệu trưởng trước tôi không có vị nào dưới năm mươi tuổi. Tất cả đều là bậc thầy của tôi. Nhưng cũng từ tôi trở đi thì hiệu trưởng Petrus Ký đều còn nhỏ tuổi cả (trừ ra giáo sư Trần Văn Thử), tất cả là đàn em của tôi về phương diện tuổi tác. Lớp trẻ chúng tôi tuy có rộng rải, cởi mở hơn thế hệ lớn tuổi nhưng tất cả đều không xa rời truyền thống tốt đẹp của trường Petrus Ký. Kỷ luật, trật tự vẫn đứng hàng đầu. Chọn lựa kỷ giáo sư, chọn lựa kỷ học sinh, thúc đẩy các hoạt động trong cũng như ngoài học đường, vận động mọi phương tiện, mọi nguồn yểm trợ để phát triển trường sở, thăng tiến việc học của học sinh, làm cho học sinh đậu nhiều và đậu cao trong các kỳ thi, đào tạo người giỏi cho non sông tổ quốc, đó là những điều chính yếu mà ông hiệu trưởng Petrus Ký nào củng cố làm. Ông hiệu trưởng nào cũng biết là trường mình là trường rất nỗi tiếng, rất được sự chú ý của chính quyền cũng như của dân chúng. Ông hiệu trưởng nào cũng biết trường mình là trường được giới giáo dục coi như là trường kiểu mẫu của trường trung học ở miền Nam tự do và là trường luôn được sự chú ý của mọi người và mọi giới. Những nhân vật hàng đầu của chính phủ thường đến thăm viếng trường, từ Tổng Thống, Chủ Tịch Quốc Hội đến các Tổng Bộ trưởng, đến các quốc khách từ các quốc gia khác đến. Ai cũng biết trường mình là trường đã từng đào tạo rất nhiều nhân vật quan trọng, từng giữ những vai trò lãnh đạo trong chánh quyền bên này hay bên kia, từng đóng góp vào việc làm nên lịch sử cho xứ sở. 


Và trên hết tất cả ai cũng hiểu rằng trường mình hết sức hãnh diện mang tên một nhà bác học, một nhà văn hóa có công rất nhiều đối với việc phổ biến nền học thuật mới ở Việt Nam hồi thế kỷ thứ XIX. Đó là nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký. Nói đến ông là người ta phải nhớ đến vai trò “khai đường mở lối” của ông trên các địa hạt sau đây: 
1. Dùng chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Nôm và chữ Hán trong việc biên khảo trước tác. 
2. Viết câu văn xuôi thay lối văn biền ngẫu của các nhà nho, 
3. Làm báo theo đúng mẫu mực một tờ báo, và 
4. Xây dựng nền học thuật mới tổng hợp văn hóa Á Đông và văn minh Tây phương thay thế nền học thuật cũ kỹ lỗi thời của nho gia. 


Qua công trình soạn thảo, trước tác của ông ta thấy ông là một nhà văn hóa giáo dục có tinh thần nhân bản, dân tộc và khai phóng, ba đặc tính quan trọng mà nền giáo dục chân chính và tiến bộ nào cũng cần phải có. Lý tưởng của ông là đào tạo được lớp người mới có đủ những kiến thức khoa học kỹ thuật của văn minh Aâu Tây đồng thời nắm vững những nguyên tắc đạo đức cổ truyền Á Đông, vừa có tâm hồn khai phóng, cởi mở, vừa có tinh thần dân tộc, vừa biết tôn trọng giá trị con người dù bất cứ trong xã hội nào. Lý tưởng đó được thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam manh nha từ thời Pháp thuộc để phát triển và bành trướng mạnh mẽ từ Đệ Nhất qua Đệ Nhị Công Hòa. 


Trường trung học được cái danh dự mang tên Petrus Trương Vĩnh Ký từ khi ra đời đã mang lý tưởng giáo dục đó biểu lộ trong hai câu đối ghi khắc trước cổng trường: 

“Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt 
Tây Âu khoa học yếu minh tâm.” 

Từ ngày được thành lập cho đến khi bị đổi tên, trong suốt gần năm mươi năm hoạt động, trường Petrus Ký đã làm tròn sứ mạng giáo dục được giao phó, đã đóng tròn vai trò một định chế xã hội đối với quốc gia, đã đào tạo được không biết bao nhiêu nhân tài cho xứ sở, đã trở thành một trường trung học phổ thông nổi tiếng vào bậc nhất ở Miền Nam Việt Nam. 


Nguyễn Thanh Liêm

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Hậu Người Tình "L'Amant"



Nhiều người đã đọc tiểu thuyết “Người tình” (L’Amant, tiểu thuyết nổi tiếng thế giới của nữ văn sĩ người Pháp Marguerite Duras) và xem bộ phim cùng tên được chuyển thể từ chính cuốn tiểu thuyết “Người tình” bởi đạo diễn nổi tiếng Jean-Jacques Annaud. Nhưng còn ít người biết rằng, đó không chỉ là chuyện tình Pháp – Hoa trên đất Việt, mà là chuyện tình Việt – Pháp – Hoa, và hiện tại câu chuyện tình này đang trở thành giá trị văn hóa lịch sử lớn, góp phần phát triển du lịch ở vùng đất miền Tây Nam bộ, trên cả huyền thoại Công tử Bạc Liêu
f
Bà Duras thời còn trẻ.
Thị xã Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) và thành phố Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) nằm hai bên bờ sông Tiền, cách nhau khoảng 70 cây số. Gia đình chàng trai Huỳnh Thủy Lê “anh ở đầu sông” nơi thị xã Sa Đéc đã kết thông gia với gia đình cô Nguyễn Thĩ Mỹ “em ở cuối sông” bên bờ sông Tiền thành phố Mỹ Tho. Thế nhưng, trong khi gia đình hai bên chuẩn bị cho cuộc hôn nhân, thì bất ngờ một cô gái người Pháp (là tác giả của tiểu thuyết “Người tình”) xuất hiện. Sự xuất hiện của cô gái Pháp tuy có làm chao đảo, nhưng vẫn không làm tổn hại đến cuộc hôn nhân đã hẹn ước ở hai bên sông Tiền, mà sự xuất hiện đó đã là cơ duyên cho sự ra đời sau này một tác phẩm văn học lừng danh trong thế giới Pháp ngữ và trở thành giá trị lớn của vùng đất Tây Nam bộ cho đời sau.Sự ra đời của một cuốn tiểu thuyết lừng danh Một ngày cuối năm 1971 giữa thủ đô Paris tráng lệ của nước Pháp. Nữ văn sĩ đang được độc giả nước Pháp và cả thế giới Pháp ngữ yêu mến Marguerite Duras soạn lại các tác phẩm trong một đời viết văn của mình. Nữ văn sĩ 57 tuổi này có thói quen sống lại với các tác phẩm của mình mỗi lần năm cũ sắp kết thúc, năm mới sắp đến. Trước mặt bà là những cuốn tiểu thuyết mà bà đã rút ruột viết ra trong gần 30 cầm bút. Bà Duras dừng lại hồi lâu với cuốn tiểu thuyết L’Amant, bởi nó mang hơi thở của mối tình rất đẹp của bà với một chàng trai người Pháp cũng trong một chiều cuối năm. Bỗng chuông điện thoại nhà bà reo vang, chiếc điện thoại giả cổ theo kiểu Tướng Charles De Gaulle từng sử dụng phát lên những tiếng chuông như tha thiết, như giục giả. Bà Duras chợt thấy hồi hộp, tim đập mạnh, bà cũng không hiểu lý do tại sao, có lẽ tiếng chuông điện thoại trong một chiều cuối năm vang lên giữa tĩnh lặng đã làm rung động trái tim của người phụ nữ nổi danh là đa cảm này. Nhấc điện thoại, bà Duras vẫn còn hồi hộp chờ nghe thông điệp từ bên kia đầu dây. Giọng người đàn ông có vẽ đã lớn tuổi, phát âm không thuật chuẩn giọng Pháp, có thể là người nước ngoài, cụ thể là vùng Đông Á bởi đặc thù của cách phát âm theo lối ngôn ngữ đơn âm. Người đàn ông bên kia đầu dây cũng lịch sự hỏi thăm có phải bà là nữ văn sĩ Marguerite Duras, là câu hỏi mà bà rất thường nghe mỗi khi nhấc điện thoại. Sau khi biết chắc là bà Duras, giọng nói trong điện thoại bỗng trở nên thổn thức hỏi bà: “Bà có nhận ra ai đang nói chuyện điện thoại với bà không?”. Tất nhiên là bà Duras không thể nhận ra, vì đã hơn 40 năm có hơn bà không nghe lại giọng nói ấy, ngày trước là giọng sang sảng của một thanh niên trẻ trung, khỏe mạnh, giờ là giọng khàn đặc của một cụ già, thỉnh thoảng chen vào tiếng ho sù sụ.
d
Bà Duras khi đã già.
Bà Duras bỗng thấy chân tay run rẩy, đứng không còn vững, khi từ đầu dây bên kia nói rành mạch: “Anh là Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc – Việt Nam 42 năm trước nè, em còn nhớ không?”. Là một nữ văn sĩ rất nhanh nhạy với từ ngữ, tế nhị trong ứng xử, nhưng trước tình huống quá bất ngờ và xúc động, bà Duras không biết phải nói gì, miệng chỉ ấp úng những lời thừa thải: “Ôi, anh Thủy Lê, làm sao anh biết số điện thoại của tôi…”. Ông Thủy Lê trả lời: “Em là nhà văn nổi tiếng, có khó gì chuyện tìm xin số điện thoại của em”. “Thế anh đang ở đâu, anh từ Trung Hoa gọi cho em phải không?”, bà Duras hỏi. Khi ông Huỳnh Thủy Lê trả lời rằng, ông đang gọi điện thoại ngay tại Paris, bà Duras chỉ còn biết thốt lên: “Ôi chúa ơi, cảm ơn chúa đã cho đời con còn có được ngày này, con còn có thể gặp được người đàn ông này”. Họ lặng lẽ đi bên nhau bên bờ sông Seine. Dòng sông thơ mộng chảy ngang qua Paris này thường dành làm nơi hẹn hò của những đôi tình nhân trẻ, còn người lớn tuổi ở Paris thường đi dạo trong những công viên dưới chân tháp Effel. Thế nhưng, bà Duras lại hẹn gặp ông Thủy Lê bên bờ sông Seine tình tứ, tất nhiên là có lý do của bà. Ngay khi vừa gặp nhau, ông Thủy Lê đã rưng rưng đôi mắt mờ đục của tuổi già và nói: “Anh vẫn yêu em, trọn cuộc đời anh vẫn yêu em”. Bà Duras cũng bất chợt thốt lên những câu nói tương tự. Họ đứng tựa vào nhau, hai mái đầu đã trắng màu sương tuyết nhưng hai trái tim thì vẫn nóng hổi, thổn thức. Dòng sông Seine mùa đông mặt nước lặng lờ trôi, không một gợn sóng, nhưng trong tâm tưởng của đôi tình nhân già đứng trên bờ sông lại ào ạt sóng nước sông Cửu Long, sóng nước đập vào mạn phà Mỹ Thuận chạy ngang dòng sông Tiền, trong một ngày cuối năm nước đổ như thác từ phía thượng nguồn… Cô nữ sinh Marguerite Duras tuổi 15 rời chiếc xe đò Sa Đéc – Sài Gòn, bước xuống phà, đứng tựa vào lan can phà nhìn nước sông Cửu Long chảy siết mang theo những đám lục bình trôi tản mạn. Chàng trai Huỳnh Thủy Lê cũng bước ra khỏi chiếc Limuosine màu đen sang trọng tiến đến mạn phà nơi cô gái Tây đang đứng…Để rồi một mối tình dữ dội và lãng mạn đã đến với chàng thương gia người Hoa và cô nữ sinh người Pháp…Chia tay với ông Thủy Lê trên bờ sông Seine, bà Duras trở về nhà cả đêm không thể ngủ, hình ảnh mối tình đầu của bà nơi xứ thuộc địa Đông Dương xa xôi cứ ào ạt tràn về như nước sông Cửu Long năm nào. Đối với những người cầm viết, nhất là những nhà văn nữ, những khoảnh khắt cảm xúc cao độ như thế thường cho ra những tác phẩm hay, và bà Duras cũng không bỏ qua cơ hội tuyệt vời này. Quyển tiểu thuyết “Người tình” (L’Amant, Nhà xuất bản Les Éditions de  Minuit năm 1984) đã ra đời trong hoàn cảnh như thế và nhanh chóng chinh phục độc giả Pháp vốn rất tinh tế với văn chương, ngay sau khi xuất bản nó đả trở thành cuốn sách “best seller” (bán chạy nhất) với 2,4 triệu bản, đoạt giải Goncourt - một giải thưởng danh giá của văn học Pháp. Quyển tiểu thuyết cũng nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong thế giới Pháp ngữ và trên toàn thế giới, nó đã được dịch ra 43 thứ tiếng, tất nhiên là có cả tiếng Việt, và được dựng thành phim cũng rất nổi tiếng.Tiếng sét ái tình trên sông Tiền Phà Mỹ Thuận một ngày cuối năm năm 1929. Con đường thiên lý từ Sài Gòn đi về vùng sông nước miền Tây Nam bộ phải qua rất nhiều sông rạch, hầu hết đều đã được bắc cầu, duy chỉ có hai nhánh sông Tiền và sông Hậu của dòng sông Cửu Long rộng mênh mông là vẫn phải “lụy phà”. Mãi cho đến năm 2000 chiếc phà Mỹ Thuận mới kết thúc vài trò lịch sử của nó khi chiếc cầu Mỹ Thuận – cầu dây văng hiện đại đầu tiên của Việt Nam – nối liền hai bờ sông Tiền. Sau đó 10 năm, phà Cần Thơ cũng kết thúc sứ mạng lịch sử kéo dài gần 100 năm của nó khi cây cầu Cần Thơ lớn nhất nước thông xe. Ngày ấy, vào cuối thập niên 1920, xe đò “lục tỉnh” phải đợi qua phà Mỹ Thuận trung bình 1 giờ/chuyến. Trên chuyến xe đò Sa Đéc – Sài Gòn ngày hôm ấy, giữa những “anh Hai”, “chị Ba” đậm chất nông dân miền Tây đi Sài Gòn vì một chuyện gì đó, người ta thấy có một cô gái Tây ra dáng nữ sinh với chiếc cặp bên người, mái tóc buộc hai nhánh, đội chiếc nón rộng vành. Xe đò xuống phà Mỹ Thuận, phà rời bến, trên xe tiếng gà vịt lao xao, từng giỏ trái cây chất đầy trên nóc xe. Cô gái Tây rời khỏi xe, đến đứng tựa vào lan can phà, hít thở không khí trong lành, cặp mắt mơ màng nhìn dòng sông Cửu Long “sông dài cá lội biệt tăm”. Cô tên Marguerite Duras, con gái của một bà giáo là hiệu trưởng trường tiểu học ở Sa Đéc. Đó là bà Marie Donnadieu, Hiệu trưởng trường L’ecole Primaire De Jeunes Filles De Sadec, nay là Trường Tiểu học Trưng Vương thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Đây là ngôi trường cổ nhất Đồng Tháp.
Bến phà Mỹ Thuận ngày nay.
Ngôi nhà của ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc.
Quê cô ở tận Paris nước Pháp, sau khi cha mẹ cô chia tay, mẹ cô đã dắt 3 đứa con nhỏ qua xứ thuộc địa Đông Dương để dạy học theo chủ trương truyền bá văn hóa Pháp sang các nước thuộc địa. Đến Sài Gòn, mẹ cô tình nguyện về một tỉnh miền Tây xa xôi để dạy học và bà đã dắt các con đến thị xã Sa Đéc, nơi đó có một ngôi trường tiểu học xập xệ, thiếu thốn mọi bề để dạy học. Thuở ấy ở Sa Đéc mới có trường tiểu học, muốn học cao hơn phải đến Mỹ Tho, Cần Thơ hoặc lên Sài Gòn. Học hết tiểu học, Duras được người mẹ là giáo viên nghèo gửi lên học trung học ở Sài Gòn, nơi bà có người bạn thân làm hiệu trưởng. Duras có 2 người anh, không ai chịu học hành gì nhiều, trong đó có một người bị nghiện hút, là nỗi khổ tâm của mẹ cô, vì vậy người mẹ khắc khổ đã quyết tâm cho đứa con gái út học hành đàng hoàng. Hậu thế phải mang ơn bà Marie Donnadieu rất nhiều, vì nhờ sự quyết tâm của bà cho cô con gái Duras học hành đàng hoàng mà sau này thế giới có một nữ văn sĩ tài năng, đóng góp vảo kho tàng văn học của nhân loại nhiều tác phẩm có giá trị. Trên chiếc phà Mỹ Thuận chạy ngang sông Tiền vào cái ngày cuối năm 1929 tiền định ấy, ngoài chiếc xe đò chạy bằng than đá cổ lỗ nói trên, còn có chiếc xe hơi sang trọng hiệu Limuosine. Thời ấy, vào cuối thập niên 1920, xe hơi nhãn hiệu Limuosine nổi tiếng của Mỹ mới nhập vào Đông Dương chưa tới 10 chiếc, ở miền Tây Nam bộ chỉ có vài chiếc, trong đó công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy cũng tậu một chiếc ngay từ đợt đầu tiên. Chiếc Limuosine màu đen trên chiếc phà Mỹ Thuận qua sông Tiền ngày hôm ấy không phải của công tử Bạc Liêu đang nổi tiếng về ăn chơi trên đất Nam kỳ, mà là của một “công tử” khác cũng trên đất “Nam kỳ lục tỉnh”, nhưng ít giàu có và không nổi tiếng bằng, đó là ông Huỳnh Thủy Lê, con trai út của ông chủ chành gạo Huỳnh Thuận giàu có nhất nhì tỉnh Sa Đéc. Là người gốc Hoa, ông Huỳnh Thuận không khởi nghiệp làm giàu bằng ruộng lúa như những đại điền chủ khác ở miển Tây Nam bộ, ông đã tận dụng lợi thế của người Hoa trong kinh doanh thương mại để kinh doanh lúa gạo, cả mua bán trong nước và xuất khẩu. Ông có chành gạo lớn nhất Sa Đéc, nơi tập trung lúa gạo để chuyển đi bán ở Bắc kỳ và Trung kỳ, cũng như đưa về cảng Nhà Rồng để xuất khẩu ra nước ngoài. Phất lên với nghề kinh doanh, xuất khẩu gạo, ông Huỳnh Thuận xây dựng nên những dãy phố sầm uất ở thị xã Sa Đéc để cho thuê, rồi ông về khu người Hoa ở Chợ Lớn xây dãy phố cũng với mục đích cho thuê. Chỉ riêng ở Sa Đéc, ông Huỳnh Thuận đã có hàng trăm căn phố, ông trở thành người giàu có nhất nhì tỉnh Sa Đéc thời đó. Cậu con trai út Huỳnh Thủy Lê được ông Huỳnh Thuận chọn nối nghiệp trao cho toàn bộ gia sản. Vì vậy mà ông Thủy Lê thường xuyên đi lại giữa Sa Đéc và Sài Gòn để quán xuyến chuyện làm ăn của gia đình bằng chiếc xe Limuosine màu đen sang trọng. Năm ấy ông Huỳnh Thủy Lê đã 27 tuổi, nhưng vẫn chưa lập gia đình, thời đó như thế là quá đứng tuổi, là hiện tượng lạ của một đàn ông thuộc gia đình giàu có. Ông Thủy Lê lập gia đình trễ là có nguyên nhân của nó, cách đó gần 10 năm gia đình ông đã hứa hôn cho ông với 1 cô gái trẻ, nổi tiếng xinh đẹp ở Mỹ Tho, tên là Nguyễn Thị Mỹ. Bà Mỹ nhỏ hơn ông gần 10 tuổi, vì vậy ông phải đợi cho vị hôn thê “đủ lớn” để làm đám cưới. Trong chuyến đi từ Sa Đéc đến Sài Gòn ngày hôm ấy, ông Thủy Lê cũng dự định ghé qua Mỹ Tho để thăm gia đình nhạc gia và nhìn mặt người vợ chưa cưới. Đang ngồi nghĩ ngợi về những thương vụ làm ăn đang chờ đợi ở Sài Gòn và nghĩ cách chào hỏi gia đình nhạc gia ở Mỹ Tho sau vài giờ nữa, bất ngờ ông Thủy Lê nhìn thấy một bóng sắc giai nhân nổi bật lên trong đám đông người bộ hành nghèo khó trên phà. Cô gái có nước da trắng, tóc nâu vàng, dáng người cao ráo, có thể cô không phải là người Việt hay người Hoa, mà là người Pháp. Cô gái mặc chiếc đầm màu sáng, đội chiếc nón rộng vành, mặt hướng theo dòng sông, không quan tâm gì đến cảnh xô bồ trên phà. Là người nổi tiếng đứng đắn, không thuộc loại “mèo mả gà đồng”, nhưng hình ảnh cô gái đứng tựa lan can phà nhìn dòng nước chảy xuôi chợt làm trái tim ông Thủy Lê rung động. Ông như bị tiếng sét ái tình, như bị thôi miên, đã lặng lẽ mở cửa xe đến đứng bên cô gái. Không nhiều lời, chỉ vài câu “tán tỉnh” của ông Thủy Lê, họ bỗng thấy như thân quen từ thuở nào, nhất là khi chợt nhận ra họ cùng ở thị xã Sa Đéc, sống gần nhau “hai nhà cuối phố”. Ông Thủy Lê đề nghị và cô gái Duras chấp nhận, cô trở về chiếc xe đò lấy chiếc va li nhỏ và chiếc cặp học trò mang qua chiếc Limuosine màu đen để đi cùng người đàn ông mới quen về Sài Gòn. Tất nhiên là trên quảng đường từ Mỹ Thuận về Sài Gòn, ông Thủy Lê cũng đã “quên” ghé lại Mỹ Tho thăm nhạc gia và người vợ chưa cưới như đã dự tính. Sau đó, tình yêu lãng mạn và dữ dội giữa cô nữ sinh trường dòng người Pháp mới 15 tuổi rưởi và chàng thương gia giàu có người Hoa lớn hơn 12 tuổi đã kéo dài gần 2 năm trong bí mật.  Dù yêu nhau đắm đuối, thường xuyên chìm đắm trong sự hòa điệu của đôi trái tim và trong những cơn mê thể xác, nhưng họ không thể công khai mối quan hệ của mình, mà luôn sống trong lo lắng, ngờ vực, sợ hãi... bởi những mâu thuẫn xã hội sâu sắc, giữa sự ngăn cách về chủng tộc và thứ tầng xã hội. Còn có một nguyên nhân quan trọng khác làm ông Thủy Lê không thể vượt qua những rào cản vô hình để sống trọn vẹn với tình yêu, đó là cuộc hôn đã hứa hẹn gần 10 năm với 1 cô gái Việt ở thành phố Mỹ Tho.  Có thể đối với Marguerite Duras, mọi rào cản đều có thể bị san bằng, bởi cá tính mạnh mẽ và sự “nổi loạn” của tuổi trẻ, nhưng với Huỳnh Thủy Lê thì lại khác, nền giáo dục Nho học hàng ngàn đời đã không cho phép chàng vì tình yêu mà vượt qua tất cả những định chế của gia đình, dòng tộc, xã hội. Sau khoảng một năm rưỡi, cuộc tình của họ đã kết thúc trong nước mắt khi ông Thủy Lê phải đi đến cuộc hôn nhân đã được an bày từ gần 10 năm trước, còn Duras cùng gia đình lên tàu trở về cố hương bên trời Tây xa xôi.  Trước ngày rời Sài Gòn, Duras đã đến ngôi nhà nơi cô từng sống những tháng ngày em đềm bên người tình, nhưng ông Thủy Lê đang bận lo đám cưới ở tận miền Tây. Sau này khi viết tiểu thuyết “Người tình”, bà Duras đã kể lại khoảnh khắc này bằng những trang sách đẫm nước mắt:“Khóc mà không để cho mẹ nàng và người anh kế của nàng nhìn thấy nàng đang buồn, không để cho họ nhìn thấy gì hết, là thói quen giữa họ với nhau”. Ngày hôm sau, khi ra bến tàu, Duras cố nấn ná, kiếm tìm trong vô vọng hình bóng người đàn ông đã mang đến cho cô cả niềm hạnh phúc và nỗi khổ đau, cô ước mong được nhìn thấy ông 1 lần cuối cùng trong đời. Duras đâu ngờ rằng, ông Thủy Lê đã ra bến tàu tiễn cô, để nhìn thấy cô 1 lần cuối cùng trong đời, nhưng ông không để cô biết, mà đứng lặng lẽ trong con đường nhỏ cạnh bến tàu để làm 1 cuộc chia ly.  Thật kỳ diệu, khi chiếc tàu nhổ neo rời bến, Duras cũng đứng tựa vào lan can tàu như đã đứng trên phà Mỹ Thuận ngày nào, mắt hướng vào bờ, nhờ vậy mà cô đã nhận ra ông Thủy Lê đứng nép bên chiếc Limuosine màu đen quen thuộc trong con đường khuất để dõi theo bóng tàu. Chỉ vài giây ngắn ngũi, họ thậm chí còn không kịp đưa tay chào nhau, chiếc tàu đã khuất bóng. Ông Thủy Lê phải vội vã quay về lo đám cưới, còn Duras lênh đênh trong cuộc hành trình dài 1 tháng rưởi, với những cơn vật vã do say sóng và với nỗi buồn thiên cổ vì yêu! Bà Duras đã kể lại trong cuốn tiểu thuyết “Người tình”: “Chiếc xe to lớn của chàng ở đó, dài và đen với người tài xế mặc chế phục trắng đàng trước. Chỗ đó chỉ cách chỗ đậu xe của hãng tàu thủy Messageries Martimes một con đường nhỏ, riêng biệt. Đó là điều mà nàng đã nhận ra. Đó chính là chàng ở phía sau, chỉ đủ trông thấy hình dáng, bất động, kiệt sức. Nàng tựa người vào lan can tàu, giống như lần đầu tiên, trên phà. Nàng biết chàng đang nhìn nàng, nàng cũng đang nhìn chàng, nàng không thể nhìn thấy chàng nữa nhưng nàng vẫn nhìn về phía cái hình dáng của chiếc xe đen. Rồi sau cùng thì nàng không thể nhìn thấy nó nữa. Bến cảng nhòa đi, rồi đến đất liền”.Rơi vào quên lãng Ông Huỳnh Thủy Lê trở về Sa Đéc để chuẩn bị cho 1 đám cưới lớn nhất từ trước đến giờ trong cái thị xã nhỏ bên bờ sông Tiền này. Đám cưới giữa ông với cô gái vùng đất “miệt vườn” cây lành trái ngọt Mỹ Tho kéo dài suốt 3 ngày, trở thành ngày hội của người dân Sa Đéc, nhưng trong lòng của chú rể thì như “một nửa hồn tôi chết”. Ngày ông rước cô dâu trẻ đẹp Nguyễn Thị Mỹ từ Mỹ Tho về Sa Đéc ngang qua phà Mỹ Thuận, cô dâu luôn tươi vui trong bộ áo dài vải gấm và bó hoa cưới rực rở, còn chú rể cố giữ nét mặt không biểu hiện cảm xúc. Tình cờ, cô dâu bước xuống xe, cũng đến đứng tựa vào lan can phà để khuây khỏa sau đoạn đường dài tù túng trong chiếc Limuosine, ở ngay tại nơi mà cô nữ sinh Marguerite Duras đã đứng ngày trước… Trong tiệc cưới của mình, ông Thủy Lê uống thật nhiều rượu, uống như chưa bao giờ ông được uống, mọi người cho rằng vì ông quá vui trong ngày vui của mình, nhưng có lẽ chỉ một mình ông biết là trong những chén rượu chảy tràn có chứa những hương vị gì: hạnh phúc hôn nhân, tình yêu, nỗi buồn, đau khổ…? Không biết bên trời Tây người con gái có tên Duras có đau buồn kéo dài hay không, còn ở trời Nam, chú rể mới là thương gia Thủy Lê đã sớm nguôi ngoai chuyện tình buồn để trở về với công việc quán xuyến toàn bộ sản nghiệp và cơ ngơi làm ăn do cha là ông Huỳnh Thuận giao lại cho đứa con trai út sau khi nó đã thành gia thất. Rồi “chim quyên quen trái nhản lồng”, ông Huỳnh Thủy Lê và bà Nguyễn Thị Mỹ đã trở thành đôi vợ chồng đầm ấm, hạnh phúc hơn người, là hình ảnh mơ ước của bao người dân Sa Đéc và khu người Hoa ở Chợ Lớn. Bà Mỹ đã sinh cho ông Thủy Lê tổng cộng 5 đứa con, 3 gái, 2 trai. Họ sinh ra trên nhung lụa, lại được nền giáo dục nề nếp của gia đình, nên tất cả đều thành đạt.
Ngôi nhà của ông Huỳnh Thủy Lê ở Sa Đéc.
Bến phà Mỹ Thuận ngày nay.
Cô con gái giữa Huỳnh Thủy Anh của họ từng là hoa khôi của một trường trung học ở Chợ Lớn, cô về làm dâu của ông Trần Văn Hương, nguyên thủ tướng của chính quyền Sài Gòn cũ, từng có 1 tuần lễ làm tổng thống chế độ Sài Gòn cũ sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Hiện tại, các con của ông Lê đều sống ở nước ngoài, trong đó Huỳnh Thủy Tiên là GS.TS - Giám đốc Bệnh viện Nhi ở bang Califonia (Mỹ), Huỳnh Thủy Hà là giảng viên trường ĐH Sorbonne (Pháp. Năm 1972 ông Trần Thủy Lê qua đời ở tuổi 70, đám ma của ông có ông thông gia là Trần Văn Hương đáp máy bay từ Sài Gòn về đưa tang. Chuyện tình, chuyện cuộc đời của người đàn ông nổi tiếng trên đất Sa Đéc tên Huỳnh Thủy Lê tưởng như đã đi vào quên lãng, nếu như 1 năm trước ngày qua đời ông không có chuyến đi Pháp để gặp lại người con gái trên phà Mỹ Thuận năm nào. Cuộc gặp ở Paris, bên bờ sông Siene đã giúp cho tiểu thuyết, sau đó là bộ phim “Người tình” ra đời. Để rồi từ đó, thị xã Sa Đéc, nơi ông Huỳnh Thủy Lê và bà Marguerite Duras từng sống và từng yêu nhau, như được phủi lớp bụi thời gian, trở nên  lung linh sống động, trở thành điểm du lịch hấp dẫn của du khách trên khắp thể giới.      

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Cây Tự Nấu Rượu

Hàng triệu phù du “yêu tập thể”


Vào khoảng cuối xuân đầu hạ, hàng triệu con phù du đuôi dài phủ đen đặc sông Tisza ở Hungary.

alt
Hàng triệu con phù du đuôi dài (Palingenia longicauda) tập trung thành những đám mây khổng lồ trên sông Tisza, đập cánh bay lượn trên mặt nước, giao phối và chết... trong vài giờ.

alt
Tuy nhiên, cảnh tượng độc đáo này sẽ diễn kéo dài trong 3-4 ngày và người ta gọi đây là “thời kỳ tươi đẹp rực rỡ của sông Tisza”.

alt
Đây là một trong số những hiện tượng tự nhiên hấp dẫn nhất tại các con sông ở châu Âu. 

alt

alt

alt

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Con Tôi Đi Nhận Xác Chồng



“Ba ơi! Bây giờ con phải làm gì hở ba?” Đó là câu nói đớn đau mà A.T., cô con gái út của chúng tôi thốt lên qua điện thoại sau khi “cô bé” báo tin cho chúng tôi biết vị hôn phu tương lai của cô vừa cùng hai đồng đội hy sinh tại chiến trường Afghanistan vào Thứ Bảy tuần qua. Tôi không còn biết phải làm gì khác hơn là nói những lời trấn an và lập tức cầu nguyện với Thiên Chúa để xin Ngài xót thương mà cho “cô bé” có đầy đủ nghị lực để đối diện và vượt qua nỗi đớn đau mà chỉ người trong cuộc mới có thể cảm nhận được.
         Trước tin buồn này cô quyết định không báo tin cho Mẹ trước bởi cô biết mẹ cô sẽ không thể chịu nỗi cú sốc nặng nề này. Sáng hôm sau trước khi lên đường nhận xác người thương, con tôi gửi cho tôi thêm một “text message” bằng tiếng Việt: “Ba ơi, tim con đau quá ba ơi”. Đọc qua dòng chữ tha thiết và bi ai của con mình, tôi đã trào nước mắt. Ngồi trên máy bay để kịp thời đến nơi gặp con mình đi “nhận xác chồng sắp cưới”, tôi đã nhiều lần rơi lệ khi hình dung lại những trao đổi trước đây và nhất là bức điện thư sau cùng gần nhất mà cậu gửi cho vợ chồng tôi.
         Hồi còn ở Việt Nam, trước 30-4-75 tôi đã từng chứng kiến những người vợ lính hay mẹ lính đi nhận xác chồng hay xác con mình đã hy sinh để đền nợ nước. Họ đã anh dũng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc và họ cũng đã hy sinh trong vinh dự, anh hùng. Dù họ đã gục ngã nhưng vẫn được đồng đội gìn giữ thân xác để chờ tải về hậu phương. Những hình ảnh đó thật buồn nhưng chưa lần nào tôi thật sự “là người trong cuộc” giống như bây giờ phải trực tiếp đối diện với thực trạng đau thương.
       Vào đầu tháng 6 năm 2013 vợ chồng chúng tôi có gửi ra chiến trường cho cậu con rể tương lai một thùng quà và sau đó chúng tôi nhận được bức thư cảm ơn. Trong đó có đoạn khiến Bà Nhà Tôi hết sức thương và cảm tình với cậu con rể tương lai: (Tôi xin trích dịch chính xác, nhưng theo lối tiếng Việt để người đọc cảm được ý tình của cậu)
“Con xin cảm ơn hai Bác thật nhiều về món quà từ hậu phương gửi ra chiến trường. Mọi thứ điều tốt và ngon. Con đã chia bịch mứt dừa thứ nhì cho mấy bạn đồng đội và các bạn ấy đã ăn hết trong một ngày. Trong những chuyến công tác, con bỏ vào túi ny-lon những bịch đậu và khô bò cùng những trái cây khô. Loại trái cây khô này là một trong những loại thực phẩm tốt nhất con để dành trên đường công tác, bởi nó cung cấp đủ năng lực cho mình. Con đã mang thứ ấy trong các túi áo của con. Đây cũng là những món quà mà con cũng dành cho những đứa trẻ mà con gặp trên đường công tác. Khi làm điều đó con hy vọng là sẽ mang lại cho tụi nhỏ chút hạnh phúc trong khoảnh khắc của cuộc đời..”
         Vào cuối tháng 8 năm 2013 vừa qua hay tin cậu bị thương ngoài mặt trận nên tôi có gửi vài lời thăm hỏi và chúc cậu chóng bình phục. Tôi cũng cho cậu biết là gia đình chúng tôi luôn cầu nguyện cho cậu được bình an, hoàn thành nhiệm vụ để sớm trở lại quê nhà. Cậu đã phúc đáp thư của chúng tôi như sau:
“Con xin cảm ơn những lời cầu nguyện của hai Bác. Con không biết là em A.T. có nói thêm cho hai Bác biết là con đã bình phục thật nhanh chóng. Con đang sẵn sàng lên đường cho chuyến công tác kế tiếp chỉ trong vòng một tuần lễ. Có thể đây là chuyến công tác sau cùng. Sau đó con và một số đồng đội sẽ thu xếp hành trang để bắt đầu bay trở lại Hoa Kỳ. Trước đây em A.T. có nói cho con biết về đất nước Việt Nam và những chướng ngại mà hai Bác phải vượt qua khi rời bỏ miền Nam Việt Nam để tỵ nạn chính trị. Con mong chờ khi gặp hai Bác để được nghe trực tiếp về câu truyện ấy. Con đã có ý định trong lòng là sẽ đến Oregon thăm gia đình hai Bác sau khi trở lại Hoa Kỳ. Con rất nôn nóng và mong đợi cuộc gặp gỡ này được diễn ra sớm hơn…”. Tiếc thay, điều ao ước nhỏ nhoi của cậu đã không thành sự thật.
        Ngày 16-9-13 cậu gửi thư phúc đáp. Sau khi nhận được thư Bà Nhà Tôi nhắc tôi gửi cho cậu và các bạn cậu thêm một thùng quà để chung vui trước khi rời đơn vị để trở lại Hoa Kỳ. Thùng quà gửi đi ngày 19-9-13, thì hai ngày sau, 21 tháng 9 chúng tôi nhận được hung tin.
alt
                  Liam J. Nevins (1981-2013)
 
       Thời chiến tranh Việt Nam, gia đình, dòng họ chúng tôi hầu hết là quân nhân và công chức của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi  cũng có những người thân gục ngã bởi tên đạn vô tình, hoặc bị VC trả thù đến chết và mất cả xác trong cái gọi là “trại cải tạo” sau ngày “không còn tiếng súng”… cho nên khi biết con mình yêu người lính, đang chiến đấu cho tự do, chúng tôi rất vui, hảnh diện mà cũng rất lo.
       Con gái chúng tôi- A.T. gặp Liam và hai đứa đã yêu nhau sau khi A.T. tốt nghiệp đại học và đó cũng là thời điểm A.T. chờ đợi với hy vọng được nhận vào trường y khoa. Cô bé kể cho Bà Nhà Tôi nghe rằng: “Lúc đầu con tình cờ gặp anh ấy trong rạp để xem phim về trợt tuyết. (Sở thích của A.T. là trợt tuyết và cũng là huấn luyện viên ở bãi trợt tuyết.) Liam chỉ khiêm nhường cho con biết là anh đang sống nghề cắt cỏ để sinh sống và đang dành dụm tiền trở lại đại học.” A.T. đã yêu Liam từ bản tánh lịch thiệp, nói năng vừa đủ và khiêm nhường đó.
        Sau khi yêu nhau A.T. mới biết thêm là Liam đã theo đuổi và hoàn tất năm thứ ba cho chương trình cử nhân về ngành thương mại. Liam đã có hơn mười năm trong quân đội và đang còn một năm “contract” với quân đội Hoa Kỳ. Liam mong sau khi trở lại nhà sẽ tiếp tục học cho xong cử nhân, cưới vợ và cùng vợ ở trong căn nhà mà anh tạo trước đây, mở một cửa hàng mua bán để sinh sống, chứ anh không phải là người đang sống nghề cắt cỏ. A.T. cũng cho chúng tôi biết thêm là Liam rất có hiếu với Mẹ, thương hai chị và thương người, nhất là tìm đủ cách để bảo vệ và săn sóc người yêu dù chàng không thường xuyên có mặt tại Hoa Kỳ. Liam không là người có nhiều tiền lắm bạc, nhưng thường giúp đỡ bằng hữu, chia sẻ vật chất cho người nghèo hoặc những ai gặp cảnh khó khăn. Con gái chúng tôi rất hài lòng về chồng sắp cưới của mình.
         A.T yêu Liam và chờ đợi ngày Liam hoàn tất nhiệm vụ thì làm đám cưới. A.T. cũng chờ đợi từng giờ cho ngày Liam trở lại để gặp chúng tôi hầu bàn về lễ cưới. Vợ chồng chúng tôi cũng đã bàn thảo việc tổ chức ngày cưới ra sao. A.T. xin chúng tôi được tổ chức đám cưới ngay thành phố hai đứa gặp nhau và nơi Tiểu Bang mà Ba Mẹ A.T. đang cư ngụ và mong có được một đám cưới của con mình. Anh Thư xin Mẹ cho mình được hân hạnh mặc chiếc áo cưới của Mẹ 30 năm về trước. Đó cũng là chiếc áo mà Cô ruột và em chồng của Dì ruột A.T. từng mặc qua. Ngày nay A.T. có thể gọi chiếc áo đó cho mình là “áo em, anh chưa thấy một lần”.
        Chúng tôi dự trù sẽ hỗ trợ con mình và con rể tương lai về mặt tinh thần và chỗ ở để hai đứa an tâm học hành, đạt thành ý nguyện về đường học vấn… dù cả hai chỉ muốn tự mình lo liệu lấy. Trong thời gian gần đây, A.T. cho biết là Liam nói rằng sau ngày cưới, Liam muốn duy chuyển chúng tôi về ở gần cô cậu để A.T. được gần cha mẹ. Bây giờ đọc tin tức, A.T. và vợ chồng chúng tôi, kể cả mẹ ruột của Liam mới biết thêm phần nào về nhiệm vụ của Liam. Đó là những công tác Liam đã hoàn thành và những công tác khác mà chỉ có Liam và cấp chỉ huy, hoặc đồng đội mới biết, nó là những thứ “sống để bụng, chết mang theo”.
         Những bản tin viết rất ít về những người lính này. Sứ mạng của họ phải là việc mà báo chí không thể biết được. Chỉ một điều đáng lưu ý là báo New York Times cho biết đây là lần thứ 7, mặc dù chưa được xác nhận, là vụ phản ứng của người lính Afghan ngay bên trong trại, bắn vào những người lính đồng minh. Liam đã ba lần tình nguyện trở lại Afgha và Iraq được ân thưởng nhiều huân chương, trong đó có huân chương “Purple Heart with Bronze Oak Leaf Cluster”. Huân chương này thuộc loại cao quý, mà ông tướng Douglas MacArthur trong đệ I thế chiến cũng được thưởng.
        Thống Đốc Tiểu Bang Colorado đã nói về Liam J Nevins: “Cuộc đời của anh ấy đã chấm dứt ngắn ngủi với hai bạn đồng đội của mình trong công tác bảo vệ đất nước. Anh ấy thật là một người Mỹ anh hùng” (Gov. John Hickenlooper said in a written statement: “His life was cut short, along with two of his fellow soldiers, during his fourth deployment in the defense of our nation. He was a true American hero.”)
alt
Quan tài của Liam J Nevins được quân đội mang về Hoa Kỳ
        Chính Đại Tướng Douglas MacArthur từng nói: “những người lính không bao giờ chết, họ chỉ mờ dần đi mà thôi…” (soldiers never die; they just fade away). Quả thật, những người lính anh hùng không bao giờ chết, và nếu có chết, họ chỉ chết một lần. Tương tự như thế, cũng có người đã nói: “Những vị anh hùng chỉ chết một lần, còn những kẻ hèn nhát phải chết đi chết lại nhiều lần…”
        Ngày nay đối diện trước sự hy sinh của cậu con rể tương lai mình, tôi bổng nhớ đến bức ảnh độc đáo “Tiếc Thương” của nhiếp ảnh gia quốc tế Nguyễn Ngọc Hạnh và bài Thơ bất hủ “Ngày mai đi nhận xác chồng” của tác giả Lê Thị Ý, từng được phổ nhạc trước 30-4-75. Nhà Thơ Lê Thị Ý từng trả lời trả lời phỏng vấn của báo chí rằng lúc đó bà sống tại Pleiku khoảng năm 1970. Vì nhà của bà ở gần nhà xác quân đội nên bà chứng kiến biết bao cảnh các bà đi nhận xác chồng. Tác giả Lê Thị Ý thấy đàn bà, con nít đến lật những tấm poncho quấn xác người lính tử trận để nhìn mặt người thân. Nhìn cảnh đó khiến bà đau đớn không chịu nổi. Từ đó nỗi đau của những người có chồng chết trận là nỗi đau của mình và chính bà đã sống bằng hình ảnh những người vợ lính khóc bên xác chồng. Bài Thơ gồm hai mươi câu nhưng tôi chỉ xin ghi lại bốn câu tiêu biểu để nói lên nỗi đớn đau của người góa phụ: Ngày mai đi nhận xác chồng. Say đi để thấy mình không là mình… Mùi hương cứ tưởng hơi chồng, Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.
alt
Tiếc Thương của Nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh
Tôi quyết định viết bài này để hy vọng có thể chia sẻ hay ghi lại nỗi đớn đau mà con mình đang gánh chịu và cũng để người thân, bằng hữu, bạn đọc biết thêm về cuộc tình thật đẹp nhưng rất ngắn ngủi và bi thương này.
Tôi nói với Mẹ của Liam rằng: “Bà an tâm và tin chúng tôi. Chúng tôi sẽ nhắc nhở khích lệ A.T. xem bà như Mẹ Chồng và tiếp tục thay Liam săn sóc bà như Mẹ nó. Chúng tôi cũng sẽ xem Liam như con rể của mình dù đám cưới chưa được thành hình. Chúng tôi hảnh diện có người con rể tương lai đã hy sinh vì lý tưởng chiến đấu bảo vệ nền tự do cho Hoa Kỳ và thế giới. Tôi nhìn con vừa thở dài vừa cảm ơn Chúa, vì thời nào và ở đâu cũng có những người gục ngả hay đổ máu cho người khác được hưởng thanh bình, tự do. Vì thế, người tử tế và liêm sỉ phải nhận ra điều đó để nhớ ơn nhưng người đã chết, dành cho chúng ta sự sống. Tôi chỉ biết cầu nguyện xin Chúa cho hai người đàn bà đang đau khổ nhất là A.T. và Mẹ Liam có đủ nghị lực để vượt qua nỗi đớn đau này.
        Kết luận: Thời nào và ở đâu thì chiến tranh cũng chỉ là chia ly và tan tóc. Chiến tranh “giết người” nhưng chiến tranh cũng “cần có” để cứu người. Người ta chỉ có thể nói hòa bình với những ai còn lương tâm và tử tế, chứ không thể hòa đàm với bọn ác gian, bất lương. Xây dựng thì cần nhiều người hai bên, tàn phá chỉ cần một đứa. Hơn 40 năm trước, tôi từng chứng kiến cảnh bà chị dâu của tôi chỉ muốn nhào lăn xuống mộ để được chết theo chồng đã mất mạng thời chinh chiến. Ngày nay tôi chứng kiến con tôi đau khổ, vật vả khi hay tin người thương gục ngả trước họng súng kẻ thù của Mỹ. Tôi nhìn con rũ rượi, tiếc thương “chồng” với chiếc thẻ bài trên cổ, đó là kỷ vật sau cùng, ý nghĩa mà Liam để lại cho cô. Bà Nhà Tôi vì quá thương con và con rể tương lai nên chỉ còn biết khóc. Tôi túc trực bên con để giúp con vượt qua sự khó khăn và nỗi đớn đau này bằng lời an ủi, cố vấn, cầu nguyện của mình, của gia đình và bằng hữu. Chúng tôi đau khổ, thương tiếc người thân vĩnh viễn ra đi giống như bao người, nhưng chúng tôi được quyền năng của Chúa xoa dịu đau thương, Ngài thật sự đã lau ráo nước mắt, an ủi và cho chúng tôi có sự bình an. Chúng tôi tạ ơn Chúa và cảm ơn Người. Những lúc đau thương, chúng tôi nhớ đến lời Kinh Thánh:
 “Hãy vui mừng trong sự trông cậy, nhịn nhục trong sự hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện.”
(Be joyful in hope, patient in affliction, faithful in prayer” – Romans 12:12)
HQB
Philadelphia, PA ngày 26-9-2013

Colorado National Guard mourns loss of Soldier 
Colorado National Guard Public Affairs 
 
Colorado Army National Guard Staff Sgt. Liam Nevins. (CONG archives) Click on the photo to download a high-resolution version
FOR IMMEDIATE RELEASE:
Tuesday, September 24, 2013

CONTACT:
Colorado National Guard Public Affairs
720-250-1053 

CENTENNIAL, Colo. (9/24/13) – The Department of Defense announced today the death of three soldiers who were supporting Operation Enduring Freedom.
They died Sept. 21, at Forward Operating Base Shank, Afghanistan, of wounds suffered when enemy forces attacked their unit with small arms fire while conducting range training in Gardez, Paktia Province, Afghanistan. Link to DOD news release
Among them was Colorado Army National Guard Staff Sgt. Liam Nevins, B Company , 5th Battalion, 19th Special Forces Group.
“This is a tragedy that affects the entire Colorado National Guard family,” said the Adjutant General of Colorado Maj. Gen. H. Michael Edwards. “We mourn not only for Staff Sgt. Liam Nevins, but for all these brave men and their families, whose grief is unimaginable. This loss will be felt throughout the ranks of the Colorado National Guard.”
Staff Sgt. Liam Jules Nevins was on his fourth combat deployment.
Nevins was born in Middlebury, Vt. and lived the first half of his life in Bennington, N.H. then moved to Pennsylvania with his mother and sisters. He attended Owen J Roberts in Pottstown, Pa. and graduated from Bristol Borough High School in Bristol Borough, Pa. in 2000. Prior to graduating from High School, Nevins enlisted in the United States Army under the Delayed Entry Program. It was always his dream to be an elite member of the brotherhood of Special Forces.
Upon entering Active Duty, Staff Sergeant Nevins was assigned to Alpha Company, 2nd Battalion, 504th Parachute Infantry Regiment at Fort Bragg, N.C. Shortly after being promoted to the rank of Sgt., he deployed with Alpha Company in 2003 as a rifle team leader to Operation Enduring Freedom in Afghanistan. Subsequently, he rose to the rank of Staff Sergeant as a Sniper/Reconnaissance Team Leader in Headquarters Company, then as a Weapons Squad Leader in Charlie Company. He completed two more deployments to both Iraq and Afghanistan in 2004 and 2005.
Shortly after leaving active duty service, Staff Sergeant Nevins attended Metropolitan State College of Denver from August 2006 to May 2009, where he studied for a Bachelor’s of Science with a focus on Business Finance. In May of 2009, he enlisted into the Colorado Army National Guard as a Special Forces Communications Sergeant. Staff Sgt. Nevins attended the Special Forces Qualification Course at Fort Bragg, N.C. from January 2010 until his successful graduation in August of 2011. Then he was assigned to Operational Detachment Alpha in Bravo Company, 5th Battalion, 19th Special Forces Group in Fort Carson, Colo.
Staff Sgt. Nevins was a respected and admired member of the Colorado National Guard and the 5th Battalion, 19th Special Forces Group.
He is survived by his mother Victoria Nevins, fiancée Julie Huynh, sisters Maeve Nevins and Raven Henin, brother-in-laws Karl Lavtar and Rafael Henin, nephews Lyric Nagy and Keegan Henin and Father William Nevins.
As the family mourns the loss of their son, brother and partner, they ask for privacy as they grieve.
For more information media may contact US Army Special Forces Command public affairs office during duty hours at 910-908-3947. After duty hours contact 910-689-6187. For questions related to Staff Sgt. Nevins service in the Colorado National Guard contact Colorado National Guard Public Affairs at 720-250-1053.