Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Hồi Ký Không Tên / Lý Quý Chung


Đầu năm 2005, Đài BBC loan báo Lý Quí Chung, 65 tuổi, qua đời tại Saigon vì bịnh ung thư. Chung là cựu dân biểu ba khoá (1966-1975) thời Đệ nhị Cộng hoà thuộc cánh trung lập chủ bại, cựu Tổng trưởng thông tin hai ngày trong Nội các Dương Văn Minh. Gần đây, nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, cho phổ biến quyển “Hồi ký không tên, HKKT” của Chung, dày 486 trang, do trùm CS Trần Bạch Đằng đề tựa, tiết lộ nhiều tài liệu liên hệ đến giai đọan hấp hối của chế độ Nguyễn Văn Thiệu.
Bài này tóm lược một số điểm giúp hiểu thêm những hoạt động phản trắc, đâm sau lưng quốc gia, của tổ chức thường được dư luận biết dưới tên “nhóm Dương Văn Minh” mà Chung là một thành phần tích cực.
1 – Chính khứa Lý Quí Chung lần hồi chuyển hướng
Ngay từ những trang đầu của hồi ký, Lý Quí Chung (LQC) không chối (mà còn khoe) y là một thanh niên trốn quân dịch, ra đời trong gia đình trung lưu tại Mỹ Tho, sinh viên Quốc gia Hành chánh bỏ học, tìm các sinh sống trong nghề báo từ 1960, lúc đầu phụ trách săn tin thể thao. Trong thế giới tứ chiến giang hồ này, Chung trôi nổi từ báo Bình Minh, Điện Tín qua Tiếng Nói Dân tộc, Tin Sáng... Nghề viết lách lần hồi đưa y một cách bất ngờ vào chính trường hỗn loạn của Miền Nam thập niên 70. Khi Nguyễn Cao Kỳ nắm chức vụ Chủ tịch Ủy ban Hành Pháp, bộ trưởng Thanh niên Võ Long Triều tuyển dụng Chung làm phó giám đốc Nha Thể thao và sau đó, giám đốc Nha Tác động Tâm Lý. Người giới thiệu gởi gấm Chung là đại tá Lê Quang Hiền, một thành viên trong Uỷ ban hỗn hợp bốn bên Tân Sơn Nhứt từng móc nối với phiá Hànội và anh ruột của “liệt sĩ CS” Lê Quang Lộc.
Chung kể lại nơi trang 78- 79: Trước khi nhận lời, tôi có hỏi ý kiến cha tôi (Lý Quí Phát). Không quay lại nhìn tôi, tiếp tục đọc báo, ông nói: “Có thằng điên mới mời mày làm giám đốc!” Với ông, đó là một chuyện khó tin, vì trong con mắt của ông, tôi còn là một thanh niên hư hỏng.
Nhờ Võ Long Triều can thiệp với đại tá Nguyễn Đình Vinh, đổng lý Bộ Quốc Phòng, Chung được hoãn dịch một khoá. Chung viết: “Võ Long Triều là thầy dùi, một trong những đầu mối tập hợp quân cho tướng Kỳ. Người tài trợ cho các ứng cử viên dân biểu được ông Triều tập hợp là tướng Kỳ chứ không ai khác. Rất có thể ông Kỳ đã lấy tiền từ quỹ đen, caisse noire, dành cho Thủ tướng để chi. Trong số người được ông Triều đưa vào danh sách ứng cử có tôi... Ông Triều lúc đó vừa là người đứng đầu một tập hợp chính trị có tên là Phong trào Phục Hưng Miền Nam, PTPHMN. Với sự hổ trợ tích cực phiá sau của thủ tướng Kỳ, ông Triều và những người bạn thân thiết của ông như Hồ Văn Minh, Hồ Ngọc Nhuận, Hoàng Ngọc Tuệ, Đỗ Ngọc Yến, Trần Văn Ngô còn thành lập một phong trào hoạt động xã hội có tên là Phong trào phát triển Quận 8. Phong trào này nhằm hô hào chính quyền và dân chúng góp tay biến các khu ổ chuột thành những khu dân cư khang trang” (trang 80-83). 
Nhờ sự sắp xếp nói trên, LQC, 26 tuổi, một trong bẩy ứng cử viên chỉ định của PTPHMN, được lọt năm 1966 vào Quốc hội lập hiến ( gồm có 117 dân biểu) của một chế độ mà y gọi là “bát nháo, tham nhũng, mất định hướng, mỗi lúc một suy tàn.” Chung thú nhận: “Tôi bước vào sân khấu chính trị không do chính tôi chủ động mà do định mệnh (sic) chọn lựa”. Rõ ràng chuột sa hũ nếp! Cũng nhờ khéo chạy chọt, Chung được bầu trưởng khối Dân tộc đối lập với Nguyễn Văn Thiệu, gồm có các dân biểu PTPHMN, Phật giáo và độc lập. Chung củng cố chức vị với vai trò chủ tịch Ủy ban điều tra vụ ám sát dân biểu Trần Văn Văn và chủ tịch Ủy ban cứu xét các vụ án chính trị dưới chế độ Diệm. Vài tháng sau, Chung thoát vòng kềm tỏa của Võ long Triều và tách ra khỏi PTPHMN. Từ Quốc hội lập pháp kỳ 1 (Hạ nghị viện 1967-1971) - vì thấy phe Nguyên Cao Kỳ hết ăn khách, Chung chuyển dịch vào giữa, được công khai hoá với những bài xã luận trên báo Tiếng Nói Dân Tộc (do y làm chủ nhiệm) nói về những “người Việt đứng giữa”. Áp phích tranh cử của Chung mang khẩu hiệu xu thời “Một Miền Nam Trung lập trong một Đông Dương trung lập.” Vì khuynh hướng của y không có mấy que gia nhập, LQC tự gán cho mình danh hiệu “người Việt cô đơn”, không đứng về phiá chế độ Sàigòn, cũng chưa (công khai) nghiêng theo kháng chiến. Mặt khác, Chung nói dối khi tuyên bố “không biết gì về cộng sản” và không bị “phiá bên kia” móc nối. Thật vậy, y giao du thân mật với trùm gián điệp Phạm Xuân Ẩn, sinh viên phản chiến Huỳnh Tấn Mẫm, tuyển tên cán bộ đỏ Triệu Công Minh làm tổng thơ ký trong Tiếng Nói Dân Tộc, trọng dụng Huỳnh Bá Thành tức họa sĩ Ớt (trung tá CS chỉ huy Công an tại đô thành Sàigon sau tháng tư 1975) và chứa dấu trong nhà sinh viên Nguyễn Hữu Thái (bị Toà án quốc gia truy nã về tội mưu sát Viện trưởng Nguyễn Văn Bông theo lời kể lại của bà goá phụ N.V. Bông trong quyển hồi ký Mây Mùa Thu).
Trong cuộc bầu cử Hạ Nghị Viện nhiệm kỳ hai vào tháng 8.1971, LQC tuyên bố trên đài truyền hình sẽ từ nhiệm nếu đắc cử và nếu sau đó, Nguyễn Văn Thiệu cũng đắc cử tổng thống trong một cuộc bầu cử độc diễn, để phản đối cuộc bầu cử thiếu dân chủ của Thiệu. Chung trúng cử dân biểu ngày 29.6.1971, Thiệu đắc cử tổng thống ngày 3.10.1971. Vì lỡ hứa với cử tri, Chung phải giữ lời. Báo Tiếng Nói Dân Tộc bị rút giấy phép. Chung phải thuê manchette tờ Bút Thần sau khi tờ Điện Tín (do Chung làm chủ bút) bị đưa ra Toà. Chung như cua gãy càng, lâm cảnh thất nghiệp, vì tính toán hố. Chung nhìn nhận “lập trường đứng giữa là ngây ngô chính trị” (HKKT, trang 146). Trong canh xì phé sắp tàn, Chung xoay tìm một lá bài khác. Lá bài Dương Văn Minh, có vẻ ăn khách hơn.
  
2 – Gia nhập nhóm Dương Văn Minh
Lý Quí Chung gặp Dương Văn Minh lần đầu tiên vào tháng 6.1967 khi liên danh ứng cử Tổng thống Trần Văn Hương-Mai Thọ Truyền yêu cầu y qua Bangkok, nơi Minh bị Nguyễn Khánh lưu đày, để xin Minh lên tiếng ủng hộ liên danh này. Lúc đó, Ủy ban lãnh đạo quốc gia chống lại ý định hồi hương của Minh. Chung và Tôn Thất Thiện phụ trách báo chí cho liên danh Hương-Truyền. Rốt cuộc, liên danh Thiệu-Kỳ về nhứt với 35% phiếu trong tổng số 10 liên danh ứng cử.
Năm 1971, Chung làm phát ngôn viên báo chí cho liên danh ứng cử Tổng thống Dương Văn Minh- Hồ Văn Minh (chủ trương thoả hiệp với cộng sản). Hai liên danh đối thủ (khuynh hướng chống cộng) là Thiệu-Hương và Kỳ- (Trương Vĩnh) Lễ. Luật bầu cử ngày 3.6.1971 của Quốc Hội thân chính quyền - do phụ tá Nguyễn Văn Ngân giật dây - buộc mỗi liên danh phải được 40 dân biểu, nghị sĩ hoặc 100 nghị viên Hội đồng tỉnh ký tên giới thiệu.
Gần hết hạn nộp đơn, Kỳ thu được 101 chữ ký của các nghị viên nhưng vẫn bị Tối Cao Pháp Viện bác ngày 6-8 vì trong số 101 này có đến 39 chữ ký nằm trong danh sách ủng hộ Thiệu. Trong danh sách niêm yết lần thứ nhứt, bới thế, chỉ có hai liên danh Thiệu và Minh. Ngày 20.8.1971, ông Minh bất thần tuyên bố rút tên với lý do Thiệu đã bố trí guồng máy gian lận bầu cử. Theo Chung, tướng Minh có trao tài liệu xác thực cho Đại sứ Bunker. Trong quyển “Vietnam: A History”, Stanley Karnow ghi rằng Minh từ chối số bạc đút lót một triệu đô-la của Bunker để ra tranh cử. Minh cũng đã xác nhận điểm này với phóng viên Ben Bradley của tờ Washington Post, trước mặt Chung và qua sự phiên dịch của Phạm Xuân Ẩn. Chung cho rằng Nguyễn Tiến Hưng xuyên tạc khi Hưng quả quyết trong quyển sách Hồ Sơ Dinh Độc Lập rằng Dương Văn Minh có bỏ túi số tiền vừa nói.
Trong buổi họp báo đầu tiên ra mắt ký giả quốc tế, đã xuất hiện đầy đủ ê-kíp thầy dùi của Dương Văn Minh gồm có Vũ Văn Mẫu, Lý Chánh Trung, Hồ Văn Minh, Trần Ngọc Liễng, Hồng Sơn Đông, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Nguyễn Hữu Chung và Lý Quí Chung.
Quyết định rút lui của Minh gây bối rối cho Nguyễn Văn Thiệu nên, để tránh tình trạng độc diễn, « quân sư » Nguyễn Văn Ngân vận động trả lại 39 chữ ký trên đây cho Kỳ và xin Tối Cao Pháp Viện, bằng một phán quyết “ảo thuật” ngày 21.8.1971, chấp nhận cho liên danh Kỳ-Lễ được niêm yết trên danh sách lần thứ hai với liên danh Thiệu-Hương. Ngày 28.8, Kỳ cũng tuyên bố rút lui và đề nghị cả Thiệu lẫn Kỳ đều từ chức để cho chủ tịch Thượng viện Nguyễn Văn Huyền tạm điều khiển chính phủ và tổ chức cuộc bầu cử tổng thống khác trong vòng ba tháng. Thiệu bác bỏ. Ngày 1 tháng 9, Tối cao Pháp viện chấp thuận cho Kỳ-Lễ rút tên (HKKT, trang 218). Trong hồi ký Buddha’s Child, trang 318, Kỳ khoe Bunker đã dụ dỗ y: “Nếu ông cần tiền, chúng tôi có thể giúp hai triệu đô. Chúng tôi sẽ chuyển qua trung gian của tướng (Nguyễn Ngọc) Loan.” Như thế, Kỳ đã tự đánh giá cao hơn Minh, một triệu!
Liên danh Thiệu-Hương – không còn đối thủ - đắc cử ngày 3.10.1971 với 94,3% số phiếu bầu. Một chiến thắng không vinh quang! Trong giai đọan đàm phán tại Paris, nhiều tổ chức phản chiến không ngưng xuống đường. Nhiều hình thức đấu tranh được áp dụng.
Dương Văn Minh phớt lờ trước cách đánh giá thấp và khinh miệt của dư luận Mỹ đối với ông. Trong hồi ký Ending The Vietnam War, Kissinger đề cao Thiệu nhưng mạt sát Minh như sau: “Minh là con người yếu mềm nhứt trong các bộ mặt chính trị. Nếu Hà nội chấp nhận ông – điều này cũng không rõ ràng – thì chỉ vì ông là người dễ dàng lật đổ nhất.
Với tư cách đại diện báo chí cho liên danh Dương Văn Minh, Chung đến chùa Ấn Quang, Saigon, gặp Thượng toạ Trí Quang, qua sự giới thiệu của dân biểu Huế Trần Ngọc Giao. Để chắc ăn, Chung gia nhập vào Lực lượng Hoà Giải Dân tộc của Vũ Văn Mẫu, con gà cồ của Ấn Quang. Vũ Đình Cường và Bùi Tường Huân cũng nằm trong tổ chức này... Khi Chung ngỏ lời xin Trí Quang ủng hộ D-V-Minh, Trí Quang nhận định: “Bây giờ cần một người cầm cờ, ông ấy (DVMinh) có thể làm được chuyện đó trong lúc này... Tướng Minh không phải là người làm chính trị có bản lĩnh”. Sau đó, Trí Quang gởi Chung đến gặp Tăng thống Thích Tịnh Khiết tại chùa Bảo Quốc, Huế, và Thích Huyền Quang tại chùa Từ Đàm.
Theo Chung, nhóm mệnh danh Dương Văn Minh chỉ chánh thức hình thành vào đầu 1970, một năm sau khi tướng Minh ở Bangkok về Saigon. Mỗi tuần vào ngày thứ tư, họ gặp nhau tại Dinh Hoa Lan, trên tầng lầu của dãy nhà cạnh ngôi nhà chính, ở số 3 đường Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần, Saigon. Nhóm gồm có 4 thành phần: a) cảm tình viên như Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Hữu Phi (người bạn tennis), Mai Hữu Xuân, Võ Văn Hải (cựu chánh văn phòng của TT Diệm), Tôn Thất Thiện, Bùi Chánh Thời.. b) ôn hoà: Vũ Văn Mẫu, Hồ Văn Minh, Nguyễn Hữu Chung, Lý Quí Chung.. c) khuynh tả: Trần Ngọc Liễng, Lý Chánh Trung, Ngô Công Đức (sau đào thoát qua Thuỵ Điển), Dương Văn Ba…  c) cực tả: Nguyễn Ngọc Lan, Hồ Ngọc Nhuận... Trong nhà, tướng Minh cho “tị nạn chính trị” một số người bị chính phủ truy lùng như db Phan Xuân Huy, db Dương Văn Ba, Nguyễn Văn Cước (hoạt động công đoàn).. Nơi trang 270-271, HKKT, Lý Quí Chung ghi: “Xét về gốc tích thành phần của nhóm ông Minh lộ ra sau 1975, chúng ta sẽ không ngạc nhiên về sự chuyển dịch lập trường của nhóm từ “ở giữa” sang tả, rồi hướng đến sự sẵn sàng liên kết với MTGPMN và Hà nội”. Gần phân nửa thành viên trong nhóm có quan hệ với MTGPMN như các ông Cước, H N Nhuận, Lý Chánh Trung, linh mục N N Lan, T N Liểng Với Linh mục Lan, thẩm phán Triệu Quốc Mạnh, nhà văn Thế Nguyên, Nguyễn Văn Cước.., Ls Liễng thành lập Tổ chức đòi thi hành Hiệp định Paris..” 
Người Mỹ duy nhất mà tướng Minh tiếp là cựu trung tướng Charles Timmes, một nhân viên CIA (được William Colby thuê để thay thế Lou Conein, cố vấn nhóm tướng đảo chính TT Diệm năm 1963). Để gây cảm tình (và đồng thời dò la tin tức, nhân tiện theo dõi hành động), Timmes thường đến tặng Minh vài chậu hoa lan hiếm có hay cá quý mỗi khi có dịp xuất ngoại. Timmes cũng luôn lui tới với Kỳ, không ngoài mục tiêu kiểm soát hành tung. Chính Timmes đã sắp đặt với Frank Snepp sự ra đi của TT Thiệu và Trần Thiện Khiêm tối 29.4.1975.
Điểm đáng lưu ý: Chung xác nhận, suốt sáu năm cộng tác với D V Minh, Chung “không thấy giữa Minh và toà đại sứ Pháp có một quan hệ nào trừ những ngày cuối tháng 4.1975.” (HKKT , trang 266)
3 – Thời khắc lịch sử ô nhục: đầu hàng
Hiệp định Paris được ký ngày 27.1.1973. Nhân danh “thành phần thứ ba”, LQC tổ chức với Lực lượng Hoà giải Dân tộc của Vũ Văn Mẫu và Nhóm Đòi Thi Hành Hiệp định Paris của Trần Ngọc Liễng một buổi Hội thảo tại chùa Ấn Quang, có báo giới và truyền hình nước ngoài tham dự, để ủng hộ Hiêp định này và đòi TT Thiệu từ chức. Tiếp theo là những cuộc xuống đường rầm rộ và những chiến dịch vận động quần chúng ở Huế, Đà Nẵng..v..v.. Năm 1974, Tướng Minh chính thức đến viếng Trí Quang và tiếp Trí Quang tại Dinh Hoa Lan, CBS thu hình và hai bên có ra thông cáo. Chính quyền Thiệu suy sụp mau chóng vì Mỹ rút quân và cúp viện trợ, kinh tế lẫn quân sự.
Sáng mùng một Tết Ất Mão, D V Minh đích thân đến thăm các dân biểu và nghị sĩ đối lập tổ chức “đêm không ngủ” và tuyệt thực tại tiền đình Hạ viện. Phước Long thất thủ. Tướng Nguyễn Khắc Bình, tổng giám đốc cảnh sát- công an, cho bắt giam một số đối lập: Hà Huy Hà, Tô Nguyệt Đình, Quốc Phượng, Sơn Nam, Nguyễn Ngọc Lan, Châu Tâm Luân... Hồ Ngọc Nhuận nghi Huỳnh Bá Thành (không bị bắt) là tay trong của Trung ương Tình báo nên đề nghị với tướng Minh không cho vào Dinh Hoa Lan nữa. Sau 30.4.1975, vài bài báo cho rằng chính Huỳnh Bá Thành đã trực tiếp khuyên tướng Minh đầu hàng.
Vào tháng 3.1975, sự tháo chạy khỏi Kontum, Pleiku về hướng Nha Trang quả thật kinh hoàng. Ngày 20.3.1975, TT Thiệu ra lệnh cho Ngô Quang Trưởng tử thủ ở Huế nhưng trước đó hai ngày, Huế đã bắt đầu di tản. Có tin đồn việc rút khỏi Cao Nguyên và Quảng Trị là do sự thỏa thuận ngầm giữa Mỹ và Bắc Việt. Ngày 30.3.1975, đến phiên Đà nẳng rớt vào tay địch. Đầu tháng 4.1975, nhóm D V Minh họp báo tại Đường Sơn Quán (do Mai Hữu Xuân làm chủ), gần xa lộ Đại Hàn, tuyên bố với giới thông tin ngoại quốc quyết định của tướng Minh thay thế Thiệu...
L Q Chung kể lại: Ngày 17.4.1975, đại sứ Pháp Jean Marie Mérillon cùng cố vấn Pierre Brochard đến Dinh Hoa Lan hội kiến với ông Minh, trước sự hiện diện của Chung. Họ hứa ủng hộ giải pháp D V Minh. Cũng trong lúc đó, Nguyễn Cao Kỳ thăm dò ý kiến của hai tướng Cao Văn Viên (tổng tham mưu trưởng) và Trần Thiện Khiêm (thủ tướng về hưu được 6 tháng) để đảo chính Thiệu. Trùm CIA Thomas Polgar ra lệnh cho tướng Timmes chận đứng ý đồ. Sự kiện này được Hoàng Đức Nhã xác nhận sau 1975 với Larry Berman, tác giả của No Peace, No Honor. Đại sứ Graham Martin cùng đi với tướng Timmes đến gặp Kỳ tại nhà để khuyên Kỳ kiên nhẫn. Từ lâu, Kỳ không có cảm tình với lớp tướng già như Minh, Đôn, Khánh... Thật ra, chính giới Mỹ cũng không ưa gì Kỳ. William Bundy, thứ trưởng ngoại giao thời Lyndon Johnson, phê bình: “Kỳ là cái đáy thùng, sự chọn lựa cuối cùng và tệ hại nhất của một quân đội tuyệt vọng!”. Stanley Karnow, trong Vietnam- A history, mô tả Kỳ “giống như một tay thổi kèn saxo trong một hộp đêm hạng hai.” Nhà văn Frances Fitzgerald, tác giả của Fire on the Lake, cho rằng Kỳ là “một kẻ lừa bịp,... một tướng lãnh làm mất tin tưởng, không có khả năng nắm quyền bính.”
Ngày 23.4.1975, để chận trước đảo chính, Thiệu từ chức, theo đề nghị của Hoàng Đức Nhã bằng một công điện mật mã gời từ Singapore. Thiệu đọc một bài diễn văn nảy lửa trên truyền hình, tố cáo Mỹ bội hưá và vô nhân đạo. Thiệu trao quyền cho phó tổng thống Trần Văn Hương, như Hiến pháp quy định. Hai đại sứ Martin (Hoa kỳ) và Mérillon (Pháp) thuyết phục Hương nhường quyền cho Minh. Ngày 25.4.1975, Martin giúp vợ chồng TT Thiệu và Trần Thiện Khiêm bí mật rời Sàigòn đi Đài Loan. Graham Martin lì hơn Thiệu, không bỏ chạy, dù có chỉ thị rút ra nhanh của Washington.
Ngày 26.4.1975, lưỡng viện Quốc hội (với 136 dân biểu, nghị sĩ trong tổng số 219) nhóm để nghe các tướng Trần Văn Đôn, Cao Văn Viên, Nguyễn Khắc Bình và Nguyễn Văn Minh phúc trình về tình hình an ninh. Với mục đích trấn an khối dân cử “gia nô”, nắm đa số, Lý Quí Chung – với tư cách đại diện của D V Minh - đề nghị biểu quyết a) Sẽ không có sự trả thù vì ủng hộ Thiệu hoặc chống đối lập b) Chính quyền mới sẽ cấp hộ chiếu (visas) ra đi chính thức cho những ai muốn rời VN. Kết quả: Lúc 20 giờ 54 tối, vói số phiếu 147/151, dưới sự điều khiển của chủ tịch Trần Văn Lắm, Quốc hội thuận truất phế Hương và trao quyền cho Minh bằng một quyết nghị do Ls Trần Văn Tuyên giúp thảo ra.
Tại sao đến ngày 28.4.1975 mới cử hành lễ tấn phong D V Minh và ngày 30.4.1975 mới trình diện tân nội các ? Chung tiết lộ: chính “thầy bói nghiệp dư” Hồ Văn Minh, ứng cử viên phó tổng thống trong liên danh D V Minh năm 1971 –đã đề nghị hai ngày “tốt” này. Dương Văn Minh chọn Ls Nguyễn Văn Huyền, trí thức công giáo, nguyên chủ tịch Thượng viện, làm phó tổng thống, và nghị sĩ Vũ Văn Mẫu, phật giáo, từng cạo đầu để phản đối TT Diệm, làm thủ tướng. Thành phần Nội các gồm có Hồ Văn Minh (phó thủ tướng), Nguyễn Văn Trường (Giáo dục), Bùi Tường Huân (Quốc phòng), Lý Quí Chung (Thông tin)…...Vào giờ chót, Hồ Ngọc Nhuận tránh mặt , không nhận Bộ nào và cũng không đồng ý cho ông Minh lãnh chức Tổng thống.
Trong 48 giờ ngắn ngủi tại chức, LQC, thừa lệnh tân tổng thống, vận động Pháp công nhận Chính phủ D V Minh. Mọi việc không đi đến đâu. Chung lên Đài truyền hình , với Huỳnh Tấn Mẫm kè bên cạnh, kêu gọi đồng bào ở lại, trong cảnh hỗn loạn tột cùng. Sau ngày Ban Mê Thuột thất thủ, D V Minh đã không chấp nhận kế hoạch của Kỳ lập vùng kháng chiến ở Miền Tây, lấy Cần Thơ làm thủ đô. Minh miễn cưỡng dự lễ bàn giao với Trần Văn Hương ngày 28.4.1975 lúc 16 giờ 45 vì Minh từ chối “trở thành người kế tục TT Thiệu theo Hiến pháp của Đệ nhị Cộng hoà mà ông hoàn toàn phủ nhận giá trị “. Quyền Tổng thống Hương bắt tay ông Minh: “Nhiệm vụ của Đại tướng rất nặng nề!”. Không có sự bàn giao giữa hai thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Nguyễn Bá Cẩn vì Minh cho đây là điều vô ích. Hơn nữa, lúc đó, Cẩn đã đào thoát khỏi VN (HKKT,trang 383).
Chung ghi: Từ khi Quốc hội biểu quyết cử Minh thay thế Hương, lực lượng không quân ở Tân Sơn Nhứt đã đóng cổng, chối từ nhận lệnh điều động của TT Minh. Khi ông Minh và đoàn tùy tùng vừa từ Dinh Độc lập trở về Dinh Hoa Lan thì các loại súng ở Dinh Độc Lập và Hải quân ở bến Bạch Đằng bắn lên như điên nhưng chẳng biết bắn vào mục tiêu cụ thể nào. Mọi người đều chui xuống bàn. 
Chung kể thêm, nơi trang 386: Tối 28.4.1975, Đô đốc Chung Tấn Cang, tư lệnh Hải quân, vào Dinh Hoa Lan gặp ông Minh, có lẽ nói về quyết định ra đi. Sau đó, có tin ông Minh chấp nhận cho con rể là Đại tá Đài đưa con gái và hai cháu ngoại của ông lên tàu di tản với Đô đốc Cang. Bà Minh ở lại. Vào lúc này, có thể ông Minh đã biết không có hy vọng thương thuyết với quân giải phóng. Trong quyển sách Cruel Avril, Olivier Todd cho biết: cùng đi với Chung Tấn Cang vào gặp Minh, có hai sứ giả của cựu thủ tướng Trần Văn Hữu, thời Bảo Đại, là Lê Quốc Tuý Mai Văn Hạnh (năm 1984, hai người này liên hệ với vụ CS xử tử Trần Văn Bá). Họ đề nghị ông Minh mời Hữu về làm thủ tướng vì “Hànội và Chính phủ Cách mạng lâm thời tán đồng vai trò của ông Hữu.” Cũng trong ngày 28.4.1975, từ Paris về đến Bangkok, cựu dân biểu Ngô Công Đức điện đàm với ông Minh cho biết không có cách nào kết thúc chiến tranh bằng chính trị.
Sáng 29.4.1975, Sàigòn hoảng lọan hoàn toàn. Tướng Nguyễn Khắc Bình đã bỏ chạy, chỉ còn phó tổng giám đốc cảnh sát Phạm Kim Quy. Quy cho biết y chỉ có thể điều động được một sư đoàn cảnh sát dã chiến và sẽ cố gắng thi hành chỉ thị của tổng thống (Minh) giữ trật tự trong đô thành. Lý Quí Chung đề nghị nên tuyên bố ”Sàigòn bỏ ngõ” và “để quân giải phóng kiểm soát, bảo vệ an ninh.” Ông Minh giao cho db Hồ Văn Minh soạn thảo bản tuyên bố. Chiều tối, tướng Vĩnh Lộc, tổng tham mưu trưởng, cùng chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (từ lâu theo MTGPMN) đến thuyết trình với ông Minh rằng tình thế tuyệt vọng. Chung liền đề nghị với ông Minh nên vào Dinh Độc lập ngủ đêm nay. Minh phản đối vì ông đã từng tuyên bố trước đó với bạn bè, nếu thành Tổng thống, ông không bao giờ xử dụng Dinh Độc Lập, “Mình sẽ vào đó đánh quân vợt mà thôi!” Rốt cuộc, vào lối 9 giờ tối, ông Minh và gia đình đồng ý vào Dinh Độc Lập vì nơi đây có hầm chống pháo kích kiên cố. Cùng đi, có hai cặp vợ chồng LQC và Nguyễn Hữu Chung.
Tám giờ sáng ngày 30.4.1975, TT Minh tuyên bố với Nội các: Vì Chính phủ không có khả năng giữ an ninh nên ông quyết định trao quyền cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam. Phòng họp yên lặng, không ai phản đối. Lối 15 phút sau, kỹ thuật viên đài truyền thanh đến Dinh để thu âm bài tuyên bố giao quyền, lần thứ ba mới thu hoàn chỉnh. Tướng Nguyễn Hữu Hạnh dành đích thân mang băng ghi âm đến Đài “cho chắc ăn.” Y cũng cho biết sẽ thảo ra và cho phát thanh – với tư cách quyền Tổng tham mưu trưởng- một nhật lênh chỉ thị cho quân đội buông súng. Tướng Vĩnh Lộc sáng hôm đó, đã chạy khỏi Sàigon bằng tàu hải quân với tướng Trần Văn Trung. Nguyễn Cao Kỳ và Ngô Quang Trưởng cũng đã rời Sàigòn trên một chiếc trực thăng riêng. (HKKT, trang 400).
Trong lúc chờ đợi quân cách mạng xuất hiện, tướng Minh cho nhân viên Nội các biết họ có quyền chọn ra đi hay ở lại. Ông thông báo luôn cả số bến và số cổng để lên tàu VN Thương Tín còn đậu ở hải cảng Sàigòn. Chỉ có Nguyễn Hữu Chung điện thoại cho hay y quyết định ra đi cùng gia đình. Bùi Tường Huân kẹt lại giờ chót.
Khoảng 11 giờ 30 sáng, chiếc xe tăng CS đầu tiên loại T-54 tiến trên đại lộ Thống Nhất về phía Dinh Độc lập, ủi sập cổng, sau khi bắn hai phát đại bác long trời lở đất. Tiếng chân chạy ồn ào trong đại sảnh, có tiếng đạn lên nòng, một khẩu lệnh vang dội: “Mọi người đi ra khỏi phòng ngay!” D V Minh là người bước ra đầu tiên, thiếu tá tùy viên Hoa Hải Đường đi bên cạnh, phiá sau là Vũ Văn Mẫu, Lý Quí Chung… .. Nhiều bộ đội ở đầu kia đại sảnh hét to: “Mọi người giơ hai tay lên!”. Minh, Mẫu và tuỳ tùng nhất loạt tuân lệnh. Gần bên bộ đội võ trang, lố nhố những gương mặt quen thuộc: Nguyễn Vạn Hồng (Cung Văn), Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Bá Thành, Huỳnh Văn Tòng, Huỳnh Tấn Mẫm... Tất cả mang thường phục. Chúng la to: Mình thắng rồi! Mình thắng rồi ! Viên đại úy chỉ huy xe tăng ký hiệu 843 (về sau, đuợc biết tên là Bùi Quang Thận) nói với tướng Minh: Anh chỉ cho tôi đường đi hạ cờ ngụy. Minh quay qua Chung: “Toa dẫn người này đi.” Chung dùng thang máy đưa viên sĩ quan lên sân thượng của Dinh, kéo cờ vàng ba sọc đỏ xuống, thay bằng cờ MTGPMN.
Trở lại phòng họp, bên cánh phải Dinh, Chung nghe một người bộ đội (có lẽ chính trị viên; tên được biết về sau là Bùi Văn Tùng) hất hàm bảo ông Minh: Anh hãy viết ngay một tuyên cáo đầu hàng. Tướng Minh trả lời rằng sáng này, ông đã có một tuyên bố trao quyền rồi. Viên chỉ huy nói: “Anh chẳng có gì để trao. Anh chỉ có thể tuyên bố đầu hàng! “
Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và LQC được đưa đến Đài phát thanh trong hai xe jeeps để thu băng. Bản tuyên bố đầu hàng do Bùi Văn Tùng soạn thảo. Sau khi đọc vào lúc 13 giờ 30, Minh và Mẫu được đưa trở lại Dinh Độc Lập. Từ ngày 30.4.1975 cho đến 2.5.1975, các ông Minh, Mẫu, Nguyễn Văn Huyền. và một số nghị sĩ, dân biểu vẫn còn được phép ở trong Dinh để gặp Trần Văn Trà, Cao Đăng Chiếm, Mai Chí Thọ... đại diện Ủy ban Quân quản, xong họ tự do ra về.
4- Sau ngày 30.4.1975
LQC bị bịnh ung thư nặng nên phải ngưng một thời gian khá dài mới viết được phần hai của quyển hồi ký. Phần đầu gồm có 24 chương liên hệ đến 13 năm hoạt náo chính trị của y tại Miền Nam VN. Cuối tháng chạp 2002, sức khoẻ phục hồi phần nào, Chung viết thêm hai chương chót, dài 62 trang, về cuộc sống… lăn lóc 30 năm trong địa ngục cộng sản. Chung qua đời đầu năm 2005. Chương “Sau ngày 30.4.1975”, 34 trang, tuy ngắn nhưng phản chiếu khá đủ những nỗi thất vọng của y về “thiên đường” xã hội chủ nghĩa. 
Vì giỏi chạy chọt nên Chung nhận được chiều 12.6.1975 thơ của Cao Đăng Chiếm , Phó chủ tịch Ủy ban Quân quản Saigon, hoãn cho y “học tập tập trung”. Nhóm dân biểu phản chiến Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Phan Xuân Huy, Đinh Xuân Dũng, Nguyễn Phúc Liên Bảo... cũng hưởng được ân huệ này: phần thưởng của sự phản bội! Tuy nhiên, Chung cũng phải trả một giá rất đắt: toàn thể tài sản bị tịch thâu, cha Chung bị liệt nửa thân mình vì uất ức mất hết của cải; gia dình Chung ly tán, 6 em gái và một em trai bỏ nước ra đi; Chung phải gỡ bán từng cánh cửa trong nhà để mua thực phẩm. Hai “công tử cưng” của Chung phải đi mài bản kẻm trong một nhà in và làm bồi bàn khách sạn.
Năm 1975, bốn tháng sau ngày “giải phóng”, Võ Văn Kiệt, bí thơ thành ủy TP-HCM, cho phép Ngô Công Đức, chủ nhiệm, tái xuất bản tờ Tin Sáng, có Dương Văn Ba, Nguyễn Hữu An, Nguyễn Văn Binh, Hồ Ngọc Nhuận... cộng tác. LQC đảm trách vai trò phó biên tập. Mục tiêu của Kiệt là tập trung nhóm dân biểu phản động này lại vào chung một giỏ để tiện việc kiểm soát, đồng thời ra chỉ thị cho họ rình rập lẫn nhau để dâng công và viết lách tuyên truyền cho Đảng. LQC cho biết: Ngay từ lúc đầu, có những “mâu thuẫn nội bộ” về vấn đề quản lý, tiền bạc; “ các gắn bó với nhau từ thời cũ lại không suông sẻ”. Tin Sáng tuyên bố “hoàn thành nhiệm vụ” (sic) sau 5 năm. Từ đó để độ nhựt, “nguyên tổng trưởng Thông tin, nguyên dân biểu đối lập ngụy quyền LQC” – tước danh thời vàng son mà Chung thường nhắc để tự an ủi – đành cam phận đi nhặt tin ... bóng đá, bán cho các báo. Cho đến ngày qua đời, LQC phụng sự tất cả là bảy tờ tạp chí và nhật báo CS. Chung than thở chán nản: “Tôi là một quả chanh đã hết nước rồi!” (HKKT, trang 434)
Lối năm 1988, bất chấp mọi đàm tiếu, LQC viết một bức thơ cho Võ Văn Kiệt, lúc đó Phó chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng, bày tỏ nguyện vọng “ngày nào đó trở thàng đảng viên Đảng CSVN”. Kiệt không màng phúc đáp. Trong cảnh chim lồng cá chậu, Chung ê chề nhận thức trước khi qua đời: Sau 30 năm, tôi vẫn phải gánh trên lưng mình cái lý lịch “viên chức cao cấp chế độ cũ” như một cục bướu..., tôi chưa bao giờ là một thành viên trọn vẹn của chế độ mới. Tôi vẫn hiểu được rằng thật khó cho người cộng sản tin dùng trọn vẹn một người không phải của mình... Một trong những câu nói đầu tiên sau thời gian cha tôi bị tắt tiếng là nói với tôi một cách giận dữ: “Tao không muốn gặp mày nữa. Gia đình mày như thế này, cha mày như thế này, mà mày còn viết báo cho cộng sản. Tao từ mày.” (HKKT, trang 426). Sự trở mặt của LQC đối với phía quốc gia không được CS bồi đáp đúng mức.
Sau vài hôm - cùng với Trần Văn Hương, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền - bị Mai Chí Thọ và Tạ Bá Tòng nhồi sọ về đường lối cách mạng và chủ thuyết Mác Lê, ông DV Minh ngoan ngoãn trở về đời sống dân giả và tuyên bố hãnh diện được đi bầu. Năm 1982, ông Minh nhờ một bạn học cũ là bà Bùi Thị Mè (được CS vinh danh “Bà mẹ chiến sĩ”) năn nỉ với Võ Văn Kiệt, bí thơ thành ủy TP. HCM, cho phép xuất ngoại sang Pháp. Lúc đến chào từ biệt, ông Minh cho Kiệt biết Toà Tổng lãnh sự Pháp có ngỏ ý, theo chỉ thị từ Paris, lo cho ông bà Minh mọi phương tiện, kể cả vé máy bay nhưng ông Minh đã từ chối: “Mọi việc đã có chính phủ tôi lo rồi!”. Mặt khác, ông Minh hứa khi sống ở nước ngoài ông sẽ “không có một lời tuyên bố nào bất lợi cho nước nhà.”(HKKT, trang 445). Ông bà DV Minh được mang theo hành lý với số cân không hạn chế và không bị kiểm tra, theo lệnh của Kiệt. Năm 1984, với tư cách Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Kiệt đi dự Quốc khánh của Cộng hoà Dân chủ Đức. Trên đường về, Kiệt ghé Paris thăm Phạm Ngọc Thuần, Phạm Hoàng Hộ và Dương Văn Minh. Một trong những câu nói đầu tiên của ông Minh khi gặp Kiệt tại nhà bác sĩ Danh là: « Anh đã biết đó, tôi luôn giữ lời hứa khi rời khỏi Sàigòn. Sang đây, tôi không tiếp xúc báo chí và cũng không có một lời tuyên bố nào bất lợi cho ở nhà » Có hai lần ông Minh chuẩn bị hồi hương nhưng không hiểu vi sao dời lại. Cuối cùng, ông Minh qua California sống vơi người con gái và quá vãng tại đây.
Nơi trang 447 của HKKT, LQC viết: Khi ông DV Minh và vợ đi khỏi Sàigòn rồi, tôi có dịp gặp Thượng tọa Trí Quang, ông nói: “Thật rất tiếc. Đáng lý ông Minh nên ở lại đất nước bởi chính ông là người từng kêu gọi dân chúng không nên bỏ quê hương ra đi. Nhiều người vì nghe ông ở lại. Thế mà bây giờ ông lại ra đi...”
Tác giả bài này được cựu đại tá Nguyễn Linh Chiêu, hiện sống ở Huntington Beach, California, cho biết: Năm 1983, ông Chiêu có tổ chức một bữa cơm tại Paris để gặp lại hai bạn cũ Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn. Trả lời câu hỏi của ông Chiêu tại sao thủ tướng Vũ Văn Mẫu đòi trên Đài phát thanh Sàigòn sáng ngày 30.4.1975 Quân đội Mỹ phải rút khỏi VN trong 24 tiếng đồng hồ? Tướng Minh cho biết chính đại sứ Hoa kỳ Graham Martin đã yêu cầu Tổng thống Minh có quyết định ấy để tạo lý do cho Mỹ chuồn gấp.
Lý Quí Chung kết thúc quyển Hồi Ký Không Tên với câu hỏi: Ông Dương Văn Minh là người của Pháp, Mỹ hay Cộng sản? Và Chung liền tự trả lời: “Tôi nghĩ ông Minh chỉ là người yêu nước!”.
Ba thập niên sau ngày Miền Nam bị bức tử, lịch sử có sẵn sàng xác nhận như thế hay không?
LÂM LỄ TRINH


Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

CHỢT THẤY TUỔI GIÀ


 
Góc đường đó , mỗi ngày tôi qua lại
Bỗng hôm nay sao thấy xa lạ thường
Xa gấp đôi còn thêm một con dốc
Con dốc này ai đắp từ bao giờ ?
Chuyến xe buýt hôm nay sao vội vả
Tôi ngẩn ngơ không kịp chuyến xe chờ
Những cầu thang hình như cao hơn trước
Cao rất nhiều so với buổi hôm qua
Mùa đông giá năm nay sao rét quá
Lò sưởi không còn đủ ấm tấm thân
Tờ nhật báo giờ đây sao khó đọc
Hàng chữ nhạt nhoà nhỏ xíu lăng quăng

Những thanh niên bây giờ trông thanh lịch
Họ trẻ hơn tôi so với tuổi cùng thời
Và những người cùng trang lứa với tôi
Trông lẩm cẩm và già hơn số tuổi

Bổng một hôm gặp người yêu dấu cũ
Rất sững sờ khi gặp lại người xưa
Em nhìn tôi như nhìn người xa lạ
- Hai đứa ngỡ ngàng ngơ ngác xót xa

Xung quanh mình ai cũng thầm nói khẻ
Cố lắng nghe không hiểu họ nói gì?
Áo quần bây giờ mỗi ngày mỗi chật
Bệnh béo phì chậm chạp đến thăm tôi

Sáng nay , soi mặt trong gương
Thấy mình không phải là mình năm xưa
40 năm trước xuân thì
Bây giờ ta đã nhạt nhoà như sương
(tôn thất phú sĩ - phỏng dich )

TUỔI ĐỜI CHỒNG CHẤT
Góc đường đó tới lui quen thuộc lắm ,
Sao hôm nay thăm-thẳm gấp mấy lần .
Lại thêm con dốc ác độc nó hành .
Đã lâu lắm , mình bao giờ để ý .
Chuyến xe buýt hụt rồi , chạy chẳng kịp ,
Dường xe nào cũng phóng vội hơn xưa .
Những bậc thang cao nghệu thật khó ưa ,
Nhớ lúc trước làm gì cao qúa vậy !
Mùa đông giá năm nay run lẩy-bẩy ,
Lò sưởi nầy không đủ ấm hay chăng ?
Báo hằng ngày chử nhỏ-rức lăn tăn ,
Thật khó đọc, hình như thay mẫu mới ?
Những người trẻ hôm nay trông phơi-phới ,
Trẻ hơn tôi so với tuổi đồng thời .
Còn những người , xấp-xỉ với tuổi tôi ,
Nôm lụ khụ , già hơn tôi thấy rõ .
Bỗng ngày nọ gặp người em thuở nhỏ ,
Em qúa già , tôi thật khó nhận ra .
Em nhìn tôi xa-lạ chẳng thiết tha .
Buồn man-mác hai tâm hồn tri-kỷ .
Thấy thiên hạ quanh tôi luôn lí-nhí ,
Vểnh lổ tai chẳng hiểu họ nói gì ?
Áo quần tôi chật cứng bởi béo phì ,
Thật bực bội xác to cùng bụng phệ .
Sáng nay sớm soi gương như thường lệ ,
Thấy ai kia sao chẳng giống chút nào .
Bốn mươi năm thân xác đã bèo-nhèo ,
Ta thấm thía đời người sao chóng thế ! !
phỏng dịch


Bài thơ CHỢT THẤY TUỔI GIÀ,
dịch từ nguyên tác "QUAND LES ANS S'ADDITIONNENT

 

KIM THÀNH: SỰ CÔ ĐƠN...
QUAND LES ANS S'ADDITIONNENT

Le coin de la rue est deux fois
plus loin qu’auparavant !
Et ils ont ajouté une montée que
je n’avais jamais remarquée.

J’ai dû cesser de courir après l’autobus,
Parce qu’il démarre bien plus vite qu’avant.
Je crois que l’on fait les marches
d'escaliers bien plus hautes
que dans notre temps !

L’hiver le chauffage est beaucoup
moins efficace qu’autrefois !
Et avez-vous remarqué les petits caractères
que les journaux se sont mis à employer ?

Les jeunes eux-mêmes ont changé !
ils sont bien plus jeunes que
lorsque j’avais leur âge !
Et d’un autre côté les gens de mon âge
sont bien plus vieux que moi.

L’autre jour je suis tombée sur
une vieille connaissance; elle avait
tellement vieilli qu’elle ne
me reconnaissait pas !

Tout le monde parle si bas qu’on
ne comprend quasiment rien !
On vous fait des vêtements si serrés,
surtout à la taille et aux hanches,
que c’est désagréable !

Je réfléchissais à tout ça
en faisant ma toilette ce matin.
Ils ne font plus d’aussi bons miroirs
qu’il y a 40 ans …

(Auteur inconnu)

NATIONALIST IN THE VIETNAM WARS

Mặc Giao điểm sách
Nhà xuất bản Đại Học Indiana Bloomington & Indianapolis đã in và phát hành trong năm 2012 cuốn Nationalist in the Viet Nam Wars (Người Quốc Gia trong những trận chiến tranh Việt Nam) bằng tiếng Anh của tác gỉả Nguyễn Công Luận. Đây là “Hồi ký của một nạn nhân trở thành chiến binh” (Memoirs of a victim turned soldier). Sách dầy 618 trang, kể cả Index, được ấn loát đẹp, sáng sủa, đúng tiêu chuẩn Mỹ.


Về nội dung, sách gồm 6 phần, 30 chương, trong đó tác giả mô tả những sắc thái của chiến tranh bằng những chuyện có thật, bằng những sự kiện thực tế, không viết theo kiểu nghiên cứu gồm những sưu tầm, khảo luận, trích dẫn sách báo và ý kiến các học giả. Tác viết theo trí nhớ (trí nhớ của ông rất sắc bén), rồi đưa ra những suy nghĩ và bình luận “từ vị trí quan sát bên trong nhìn ra và từ dưới ngó lên của một thường dân nạn nhân chiến tranh sau trở thành một người lính quân đội Miền Nam ở cấp thấp và cấp trung với những nhận định và phê phán tự nhiên của một con người tầm thường”. Như vậy tác giả khẳng định là ông không viết hồi ký kiểu mấy ông tướng hay mấy ông lớn nhằm đề cao mình, biện minh cho những lỗi lầm của mình, đổ lỗi cho hoàn cảnh và người khác.

Hồi ký của ông khởi đi từ lúc ông 4 tuổi, năm 1941, trải qua thời Pháp thuộc, Cách Mạng tháng 8, chiến tranh Việt Pháp, chia đôi đất nước, di cư vào Nam, gia nhập quân đội, chiến đấu, làm chiến tranh chính trị, chiêu hồi, theo học khóa huấn luyện quân sự cao cấp ở Mỹ, trở về Sài Gòn đầu tháng 4-1975 để mấy chục ngày sau đi tù cải tạo 6 năm 7 tháng. Cuối cùng chấm dứt gian nan thể xác năm 1990 khi định cư tại Mỹ. Nhưng nỗi đau tinh thần vẫn còn dai dẳng.

Tác giả Nguyễn Công Luận
Mục đích của tác giả khi viết cuốn hồi ký này là để dư luận, nhất là dư luận Hoa Kỳ, được nghe một tiếng nói khác, một sự thật khác về chiến tranh Việt Nam, sau bao nhiêu năm bị đầu độc bằng những thiên kiến chính trị.

Liệu tác giả có làm được việc này không? Chưa thể biết. Nhưng phải nhìn nhận những ưu điểm của cuốn sách: được viết thành thật bằng cả tâm hồn, những chi tiết về sự việc và những suy nghĩ phát xuất từ một người đã trực tiếp tham gia, sách được chính ông viết bằng Anh ngữ, được một trường đại học Hoa Kỳ phát hành. Những ưu điểm đó có thể giúp thực hiện phần nào điều tác giả mong ước. Bằng chứng, theo tin từ nhà xuất bản, giới đại học Mỹ bắt đầu quan tâm tới cuốn sách và số bán gia tăng đáng kể trong thời gian gần đây.
Sự chân thành và lương thiện trong cách kể và cách suy nghĩ của tác giả đã được hai tướng lãnh Hoa Kỳ xác nhận.
Trong bài tựa cuốn sách, Trung Tướng hồi hưu David T. ZABECKI viết: “Một cuốn sách quan trọng. Một trong những bản tổng kết sự việc (accounts) của Quân Lực VNCH có giá trị lớn và đầy suy tư mà tôi đã được đọc… Đó là một bản tổng kết minh bạch, vững vàng… một cuốn sách rất trung thực mà sự lương thiện của tác giả hiện ra ở mỗi trang”.

Thiếu Tướng hồi hưu Lawson W. MAGRUDER III nhận định: “Qua những sách tôi đã đọc về chiến tranh Việt Nam, cuốn sách này bầy tỏ lòng tri ân sâu xa đối với những hy sinh “không thể tin nổi” của các chiến sĩ và nhân dân Nam Việt Nam can trường. Qua cái nhìn của một người yêu nước thực sự, lịch sử và những chiến dịch có tính quyết định về cuộc tranh chấp đã được nhìn lại từ khiá cạnh độc đáo của một nạn nhân trở thành chiến binh… Cuốn sách này là một tác phẩm cần phải được đọc đối với những ai muốn có một hình ảnh đầy đủ và sự thật toàn diện về trận chiến tranh bi thảm đã làm cho thế giới phải quan tâm trong hơn hai thập kỷ”.

Tác giả không phải là cấp chỉ huy lớn nhưng đã kinh qua nhiều hoàn cảnh để có thể biết được chuyện hàng ngày của chiến tranh từ những sự việc thực tế, cụ thể. Thân phụ của ông gia nhập một đảng phái Quốc Gia để chống Pháp dành độc lập đã bị cộng sản bắt và hành hạ đến chết trước khi cuộc kháng chiến bùng nổ. Khi di cư vào Nam, lúc 18 tuổi, ông thi vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt khóa 12 để trờ thành sĩ quan, sau đó còn trở về trường làm huấn luyện viên. Đơn vị quân đội ông ở lâu nhất là Sư đoàn 22 Bộ Binh đóng ở Kontum. Năm 1965, ông về phục vụ tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Năm 1967, ông sang Bộ Chiêu Hồi lãnh trách nhiệm chỉ huy bộ phận Tiếp Nhận gồm có Trung Tâm Quốc Gia Chiêu Hồi, Ban Phân Loại và Ban Chủ Thuyết.

Có thể nói công tác của ông tại Bộ Chiêu Hồi chiếm phần quan trọng nhất trong thành tích phục vụ của ông. Nó cũng chứng tỏ khả năng đặc biệt của ông trong công tác nặng về chính trị, tâm lý và tình báo. Năm 1971, ông đã hoàn thành một tài liệu nghiên cứu về đời sống của dân miền Bắc VN trong chiến tranh dựa vào những lời khai của trên 500 hồi chánh viên. Chiến dịch Chiêu Hồi là một thành công lớn của Chính Phủ VNCH.

Chỉ tính từ 1962 tới 1967, đã có trên 30,000 quân, cán cộng sản trở về với hàng ngũ Quốc Gia. Họ được tiếp đón chu đáo, được giải độc, được sửa soạn để thích ứng với đời sống mới và hội nhập hoàn toàn vào xã hội miền Nam. Đến năm 1973, ông trở về quân ngũ và được cử đi học khóa huấn luyện lục quân cao cấp tại Fort Benning, Hoa Kỳ. Khi khóa học vừa chấm dứt, Miền Nam sắp tan hàng. Nhiều bạn bè Việt, Mỹ khuyên ông ở lại, nhưng ông quyết chí trở về Việt Nam để chia sẻ với anh em đồng đội những cam go, khổ nhục đến giây phút cuối cùng. Người lính Nguyễn Công Luận có lòng và có tài, nhưng vì làm công tác bán quân sự, bán chính trị nhiều thời gian qúa, lại không quen thói cong lưng, cúi đầu, nên chỉ được đeo lon trung tá ở cuối cuộc đời binh nghiệp.

Rút kinh nghiệm về cuộc chiến tranh, Nguyễn Công Luận cho rằng người Mỹ qúa ỷ vào tiền bạc và kỹ thuật để chống lại một đối phương áp dụng chiến thuật du kích với thiên hình vạn trạng. Quân đội Mỹ có kỷ luật nhưng ít giao tiếp với thường dân Việt Nam nên mỗi sai lầm nhỏ đều được khuếch đại để tạo tâm lý chống Mỹ. Quân đội Mỹ đến Việt Nam không đối xử tàn ác với dân Việt như quân đội Pháp thuở trước, dĩ nhiên không kể một vài trường hợp lẻ tẻ do những kẻ có vấn đề tâm thần gây ra, như vụ Mỹ Lai. Ngoài ra, quân đội còn phải tuân lệnh các nhà chính trị từ Washington DC, nên nhiều trường hợp phải bó tay.

Về phiá Quân Đội VNCH, tác giả nhận định lính tráng của ta nghèo, gia cảnh khó khăn nhưng chịu gian khổ, tinh thần chiến đấu cao. Nhiều người đào ngũ vì sợ và không chịu được khổ, nhưng không ai bỏ đi theo cộng sản. Họ trốn tránh sống qua ngày rồi lại tìm cách gia nhập cảnh sát, nghiã quân, địa phương quân ở địa phương. Các tướng lãnh không quan tâm đủ vấn đề huấn luyện và khai triển những tài năng khoa học quân sự. Chúng ta có qúa nhiều tướng như Pattons nhưng thiếu những tướng như Marshall. Thật ra chúng ta cần cả hai loại tướng này, và phải có thêm một Napoléon nữa. Tác gỉả tin rằng với lớp sĩ quan trẻ có học và có kinh nghiệm, chỉ cần 5 năm sau, họ có thể thay thế các đàn anh lớp trước và xây dựng một quân đội hữu hiệu hơn (tr. 549). Ngoài ra, tác giả cũng than phiền về sự yếu kém của mặt trận đấu tranh chính trị trong khi chúng ta nắm chính nghiã.

Nói về chính nghiã của cuộc đấu tranh Quốc Cộng, tác giả không dài dòng lý thuyết, nhưng đưa những kết qủa cụ thể để chứng minh. Trong khi phe cộng sản chỉ có thể làm người dân sợ bằng bạo lực, không ai phục, thì phe Quốc Gia đã tạo được sự tin tưởng và yêu mến. Quân đội Quốc Gia đi tới đâu là dân đi theo tới đấy. Người Quốc Gia càng bị cộng sản bắt tù đầy, cải tạo, càng gia tăng quyết tâm chống cộng. Trái lại, nhiều tù nhân cộng sản trong các trại tù của VNCH đã giác ngộ, nhiều người còn tự ý xin nhập đạo Phật, Công Giáo hay Tin Lành.

Ngay trong nhà tù của cộng sản ngoài Bắc, cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận đã cải hóa được 4 sĩ quan phụ trách việc canh giữ Hồng Y. Bốn người này đã xin theo đạo Công Giáo. Nhiều cai tù tại những trại mà tác giả bị giam ở miền Bắc có cảm tình với tù nhân, đã kín đáo giúp đỡ tù nhân nhiều cách. Nhờ thế tù nhân mới đỡ khổ đôi chút.

Tác giả kể, khi đoàn tù từ trong Nam được đưa đến những vùng xa xôi miền Bắc, dân làng chửi bới đoàn tù là bọn tay sai của đế quốc Mỹ. Nhưng chỉ vài tháng sau, khi họ hiểu hơn, họ đã thay đổi thái độ, kín đáo cho đồ ăn và đứng bên đường tiễn đưa với những giọt lệ khi đoàn tù được di chuyển đi chỗ khác. Khi tác gỉả phải đi lao động ở ngoài trại, một cựu bí thư quận ủy đã mời nhóm bốn người tù trong đó có tác giả về nhà riêng uống trà, bất chấp sư phản đối của sĩ quan trại 4 có nhiệm vụ canh gác. Một lần khác, một cựu chủ tịch xã gần trại 6 đã gặp tác giả và hai bạn tù ở giữa đồng lúa để báo tin họ sẽ được chuyển về Nam trong vòng một tháng. Ông ta nói:

“Các anh hiện là tù nhân, nhưng một ngày nào đó các anh sẽ xây dựng lại đất nước. Chúng tôi chúc các anh may mắn. Hãy giữ gìn sức khỏe cũng như đức tính và nhân cách để trở thành những người xây dựng tiêu biểu một nước Việt Nam mới” (tr. 513).

Về thực tế, miền Nam tuy thua, nhưng đã để lại cho cộng sản một xã hội thịnh vượng không kém các quốc gia lân bang không có chiến tranh, đã đào tạo được một đội ngũ trí thức, chuyên viên đủ các ngành, xử dụng mấy chục năm chưa hết, nếu không có phong trào vượt biên. Vì vậy, tác giả hãnh diện là ông đã đấu tranh cho chính nghiã, dù đứng về bên thua (tr. 557).

Nói về việc hòa giải dân tộc, tác giả có một lập trường cởi mở, khoan dung nhưng rất nghiêm túc. Ông viết:

“Từ đáy sâu của tâm hồn, tôi không mang hận thù với đảng viên và binh lính cộng sản. Nếu có, chỉ là chống lại những người lãnh đạo đảng cộng sản đã đem chủ nghiã cộng sản vào Việt Nam, đã gây ra cuộc thanh lọc chính trị dẫn đến cuộc chiến tranh đẫm máu 30 năm và làm cho Việt Nam trở thành một trong 10 nước bị xếp vào hạng cuối trong 60 năm qua.
“Dù nhiều người quốc gia không nuôi hận thù và không kiếm cách trả thù, nhưng cũng không hợp lý khi nói họ phải quên đi những gì chế độ cộng sản đã làm cho đất nước và đồng bào. Ai có thể quên được một mối tình đẹp đã tan vỡ? Ai có thể quên được một vết cắn đau trí mạng của một con chó dại?... Những vết thương có thể lành, nhưng những vết thẹo hiếm khi lặn hết…
“Tôi tin rằng việc hòa giải tối ư cần thiết sau một trận chiến tranh. Nhưng nó đòi hỏi thiện chí hỗ tương của cả hai bên. Tôi mong rằng những nạn nhân chiến tranh bên phiá cộng sản cũng có cùng một ý kiến như tôi. Sự hiểu biết hỗ tương phải được xây dựng không có sự can thiệp của bất cứ thế lực nào. Hòa bình trong tâm tưởng mỗi người chúng ta một ngày nào đó sẽ đến trong tương lai tươi sáng của Việt Nam” (các tr.557, 558).

Với quan niệm như thế, trước câu hỏi của một số bạn miền Bắc “ Nếu bên các anh thắng, các anh sẽ đối xử với đảng viên, cán bộ và sĩ quan cộng sản như thế nào? Các anh có xử giống như chúng tôi đối xử với các anh không?”, tác giả đã trả lời:

“Trong trường hợp đó, chúng tôi sẽ không gửi tất cả sĩ quan và cán bộ cao cấp cộng sản vào trại tập trung, ngoại trừ những lãnh tụ hàng đầu ở trung ương. Có thể xảy ra vài vụ trả thù cá nhân, kể cả giết chóc, vượt ngoài sự kiểm soát của chính quyền trung ương, nhưng không có trả thù lan rộng và quyết liệt như cộng sản đã xử với chúng tôi năm 1975. Chắc chắn cũng không có sự kỳ thị đối với con cái của người thua. Những gì chúng tôi đã làm trước 1975 trong chương trình Chiêu Hồi đã chứng minh những điều tôi nói.

“Chúng tôi sẽ duy trì tất cả mọi nghiã trang chôn cất những người lính cộng sản đã ngã xuống, và tiếp tục trả tiền trợ cấp cho các chiến binh cộng sản tàn phế và các qủa phụ…

“Các cựu viên chức chính phủ và quân đội cộng sản sẽ được giữ lại làm việc. Những huy chương cộng sản và những biểu hiệu tuyên dương sẽ được bảo tồn và nhìn nhận. Những người cộng sản đã bỏ mình trong cuộc đấu tranh dành độc lập cho Việt nam sẽ được ghi nhớ, trừ Hồ Chí Minh và những lãnh đạo cộng sản cao cấp, họ là những người chịu trách nhiệm việc phổ biến chủ thuyết cộng sản tại Việt Nam và gây ra cuộc chiến tranh tàn phá. Nhưng tất cả mọi kế sách nhằm phục hồi đảng cộng sản sẽ bị cương quyết dẹp tan”.

“Tôi cũng kể lại chuyện cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ khi quân đội miền Nam phải đầu hàng quân đội Liên Bang. Tướng Grant đã nhận sự đầu hàng của tướng Lee với tất cả sự kính trọng. Lính miền Nam được tự do trở về nhà với đồ đạc cá nhân gồm cả ngựa và họ có thể sống như bất cứ công dân Mỹ nào, không bị làm nhục, không bị trả thù hoặc bị đối xử tàn tệ” (các tr. 513, 514).

Tuy nhiên, theo tác giả, viễn ảnh xây dựng miền Nam sau khi dẹp được cộng sản cũng không mấy sáng sủa. Giả dụ cộng sản thất bại trong cuộc chiến do họ gây ra tại miền Nam, họ vẫn không từ bỏ tham vọng thôn tính miền Nam. Như vậy hòa bình thực sự cũng không có ở Việt Nam và Đông Dương. Đảng cộng sản sẽ vẫn còn mai phục những phần tử du kích ở miền Nam để hoạt động âm thầm hay phá hoại khi có thời cơ, ít ra cho tới 1991, năm chế độ Liên Xô xụp đổ. Trong trường hợp đó, an ninh tại những vùng nông thôn xa xôi vẫn bị đe dọa và việc phát triển kinh tế của miền Nam cũng bị cản trở (tr. 554).

Ngày nào còn đảng cộng sản cai trị một nửa đất nước miền Bắc thì miền Nam vẫn chưa yên dù tạm thời bình định được cuộc chiến tranh xâm lấn. Người cộng sản không bao giờ từ bỏ tham vọng bành trướng dù có phải hy sinh xương máu của nhân nhân và tài nguyên quốc gia. Trận chiến vừa qua đã gây tử vong cho 1.4 triệu binh sĩ cộng sản, 260,000 binh sĩ Quốc Gia, 500,000 thường dân (đa số trong Nam), chưa kể những người chết trong các trại tập trung và những nạn nhân trên đường vượt biển tìm tự do.

Tất cả những hy sinh đó đã đổi được những gì ngoài quyền hành tuyệt đối và độc đoán của đảng cộng sản, trong khi dân mất hết mọi quyền căn bản, kinh tế suy kém, xã hội suy đồi, luân thường đảo ngược, lãnh thổ và lãnh hải bị xâm chiếm. Kết luận hiển nhiên: chỉ khi nào đảng cộng sản không còn cả nanh lẫn nọc trên đất nước Việt Nam thì quê hương mới thật sự thanh bình và người Việt Nam mới có thể thực sự bắt tay xây dựng lại đất nước.

Cuốn Nationalist in the Viet Nam Wars của Nguyễn Công Luận đã trình bầy rất rõ chủ đề đó. Một chủ đề, không phải một giả định, phản ảnh thực tế một cách chính xác. Chuyện của một người Quốc Gia yêu nước cũng là chuyện của tất cả mọi người Quốc Gia yêu nước. Chúng ta nhìn thấy hình ảnh của mình trong hình ảnh của Nguyễn Công Luận, bắt gặp hoàn cảnh mình đã sống trong hoàn cảnh Nguyễn Công Luận tả trong sách. “Người Quốc Gia trong những trận chiến Tranh Việt Nam” là một cuốn sách rất đáng đọc, đáng được giới thiệu cho bạn bè ngoại quốc, nhất là cho những người trẻ Việt Nam để họ hiểu được, thấy được những lầm than, nỗ lực và hy sinh của thế hệ cha anh cho đất nước và cho chính họ.
Mặc Giao