Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2015

RIÊNG MỘT GÓC TRỜI


Buổi sáng hôm nay tôi thức sớm, nằm lim dim mơ màng nghe tin tức đài phát thanh Á Châu Tự Do (RFA), phát đi từ Hoa Thịnh Đốn. Gần cuối chương trình, cô xướng ngôn Hòa Ái giới thiệu một giọng nam trẻ, thật ấm áp, truyền cảm trong bản nhạc nổi tiếng của Ngô Thụy Miên - Riêng Một Góc Trời :
 
Tình yêu như nắng, nắng đưa em về, bên giòng suối mơ 
Nhẹ vương theo gió, gió mang câu thề, xa rời chốn xưa 
Tình như lá úa, rơi buồn, trong nỗi nhớ 
Mưa vẫn mưa rơi, mây vẫn mây trôi, hắt hiu tình tôi….

Tiếng hát dìu dặt vang vang trong buổi sớm tĩnh mịch mùa thu. Ngoài kia sương vẫn chưa tan, không gian còn mờ ảo. Tôi bỗng nhớ đến những ngày sống ở miền thần kinh xứ Huế bên quê nhà. Đã hơn năm mươi năm rồi, những kỷ niệm năm xưa tưởng đã phai mờ theo năm tháng. Nhưng mới hôm qua, bức thư của cô bạn thuở học trò từ nơi xa xôi ấy, đã gợi lại trong tôi những cảm xúc tưởng chừng đã đi vào quên lãng… 

* * *
Cho đến năm Đệ Tứ, khi những nam, nữ sinh chuẩn bị cuộc đua lấy mảnh bằng Trung Học, tôi tình cờ gặp một cô Đồng Khánh trong lớp luyện thi năm ấy. May mắn hơn, chúng tôi cùng ngồi cạnh nhau. Hàng tuần, ngoài giờ học ở mỗi trường riêng biệt, chúng tôi cùng đến lớp luyện thi để trau dồi thêm hai môn có hệ số điểm cao trong kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp : Toán và Pháp Văn. 

Vào hai ngày cuối tuần, chúng tôi lại họp nhau để cùng ôn bài thi. Nhóm chúng tôi có bốn người, hai nam sinh và hai nữ sinh - kể cả cô bạn tôi mới quen có hảo ý cho mượn căn nhà hóng mát ngoài vườn để cùng nhau ôn bài vở… Thuở ấy tôi chỉ là cậu học sinh chân quê, theo cha mẹ từ miền  Nam  Trung bộ “dinh tê” về thành phố Huế. Đối với tôi, đất thần kinh là nơi quyền quý của vua chúa ngự trị một thời; và người dân xứ Huế - nhất là các cô gái áo trắng thướt tha - là những kẻ cao sang thanh lịch. Đã hơn một lần, tôi bắt gặp mình đứng nhìn những cô nữ sinh Đồng Khánh, với dáng dấp thanh tao, với áo trắng bay bay, với chiếc nón bài thơ e ấp. Vào mỗi buổi chiều tan học, họ như đàn bướm trắng bay qua cầu Trường Tiền; hoặc đáp xuống chuyến đò Thừa Phủ để sang sông… Trong ba năm theo Trung Học Đệ Nhất Cấp ở một trường công lập thành phố, tôi chỉ biết lo dùi mài kinh sử kể bắt kịp những năm học chậm trễ trong vùng Việt Minh. Cho nên việc kết bạn với các cô gái, nhất là với các nàng áo trắng tóc dài trường Đồng Khánh, đối với tôi thuở ấy chỉ là giấc mộng…

Đến nay, tôi vẫn chưa quên hình ảnh cậu học sinh cao gầy, hằng cuối tuần “diện” cho mình chiếc nón cối trắng, đôi dép da trắng, vội vã đạp xe đến nhà cô bạn mới quen để cùng “học nhóm” với các bạn. Chúng tôi nêu ra những câu hỏi trong bài, cùng nhau tìm câu giải đáp; hoặc giúp nhau làm những bài tập khó… Cho nên không khí chuẩn bị thi cử đối với chúng tôi không còn căng thẳng, đến nỗi phải than Thi ơi là thi, sinh mi làm chi?” như trong bài hát của Đỗ Kim Bảng rất phổ thông lúc bấy giờ !  

Người ta thường nói : “Học tài thi phận !”. Sau những ngày thi trung học cam go năm ấy, tôi đến xem bảng kết quả và chỉ thấy hai nam sinh trong toán “học nhóm” có tên trên “bảng vàng” mà thôi ! Tôi về nhà thông báo niềm vui với Mẹ, nhưng không dám để lộ nỗi buồn bởi cô bạn học bị hỏng thi. Tôi muốn đạp xe đến nhà nàng để an ủi nàng, nhưng còn ngập ngừng e ngại ! Vài hôm sau, nàng đến nhà tôi để “Chúc mừng anh thi đậu”, nhưng cố không để lộ nét buồn rầu vì thi hỏng như tôi tưởng. Nàng còn nói đùa với nụ cười cay đắng :
- Ánh quen ăn ớt từ nhỏ. Vậy mà kỳ thi này Ánh thấy cay hơn cả ăn ớt ! Thôi đành phải ráng ôn bài cho kỹ để thi kỳ sau, kẻo rớt nữa anh chê học dốt !
Ngưng lại giây lát, nàng nhìn tôi nói tiếp :
- Hôm trước Ánh nghe anh nói sắp theo gia đình vô Sài gòn. Vậy khi nào anh đi ?
Tôi quay mặt đi để dấu nỗi buồn sắp xa Huế, xa nàng… rồi đáp :
- Có lẽ cuối tuần này ba tôi mướn xe đưa cả nhà vào Sài gòn… Hôm nào đi, tôi sẽ đến chào từ giã Ánh. Bằng lòng chứ ?

Nàng gật đầu, buồn bã nhìn tôi, đoạn dắt xe ra cổng… Khi đi ngang cây ngọc lan, nàng nhìn lên, khen hoa lan thơm quá ! Hôm ấy không có mẹ ở nhà nên tôi vội leo lên cây, hái một bông hoa đẹp nhất trao cho nàng. Nàng nhìn tôi mỉm cười, cài cánh hoa lan lên mái tóc, đoạn đạp xe ra về.
Buổi tối trước khi xa Huế, sau khi xin phép Mẹ đi gặp bạn bè để chào từ biệt, tôi đạp xe đến nhà Ánh. Đó là một đêm mùa hạ, trăng lên cao, thật sáng, thật đẹp nhưng trong lòng tôi thật buồn bã. Ngày mai tôi sẽ rời xa đất thần kinh nhiều kỷ niệm này, xa người bạn gái mà  tôi đã bắt đầu cảm mến. Tôi tự hỏi : “Biết bao giờ mới gặp lại nhau ?”. Khi đến trước cổng, tôi nhìn vào thấy nàng đang ngồi học bài, đầu cúi thấp, mái tóc thề buông phủ bờ vai. Có lẽ nàng nghe tiếng động, ngẩn lên trông thấy tôi, vội bước ra nói nhỏ : 
- Sao anh lại đến giờ này, tối rồi ! Không chờ đến ngày mai được sao ?
Tôi im lặng, cùng nàng ngồi xuống chiếc ghế đá trong vườn, dưới cây bông sứ đang đơm hoa thơm ngát. Nàng nói tiếp, giọng như thì thầm :        
- Anh ngồi xuống đây nói chuyện... Vào nhà ba me thấy, la Ánh lắm đó. Sao thi xong, anh không đến chơi ?
Tôi cảm thấy bối bối trước mặt cô bạn đang niềm nỡ hỏi chuyện, vội giải thích :
-  Ngày mai tôi với gia đình đi Sài gòn sớm, nên chỉ còn đêm nay đến thăm Ánh thôi...
Cô bạn gái nhìn tôi sững sờ :
- Mai anh đi à ? Vậy bao giờ anh trở lại ?
Tôi ngập ngừng trả lời, giọng bối rối :
- Tôi theo ba me vào ở hẳn trong Sài gòn... Đi xa, chắc sẽ nhớ Huế, nhớ các bạn lắm...

Bỗng dưng nàng im lặng, đầu cúi thấp, kín đáo lau nước mắt, giọng nghẹn ngào :

- Ánh khổ lắm anh biết không ? Vừa mới đau buồn vì hỏng thi, bây giờ lại nghe tin anh đi xa. Vào Sài gòn nhớ viết thư cho Ánh. Đừng quên bạn cũ... anh hỉ ?

Tôi chợt thấy tim mình se thắt lại. Tôi nhẹ nhàng nắm lấy bàn tay mềm mại, ấm áp của nàng. Chúng tôi ngồi im lặng bên nhau thật lâu. Ðâu đó trong vườn, có tiếng giun dế rỉ rả, và xa xa tiếng chó sủa vu vơ dưới ánh trăng khuya… Bỗng từ trong phòng khách có tiếng chuông đồng hồ thong thả gõ nhịp. Từng tiếng ngân nga, vang vọng, như muốn phá tan không khí tĩnh mịch trong đêm vắng ở khu thành nội cổ kính này. Tôi luyến tiếc buông bàn tay bé nhỏ và lạnh lẽo của nàng, đứng lên an ủi : 

- Thôi tôi về nhé. Nhớ ôn bài cẩn thận cho kỳ thi sắp tới ! Thế nào Ánh cũng thi đậu kia mà. Khi đó, đừng quên viết thư báo tin vui nhé !

Nàng tiễn tôi ra cổng, giọng buồn buồn :

- Ánh có linh cảm sẽ không còn gặp lại anh nữa… Thôi anh về đi. Mong anh đừng quên Ánh.

Thế nhưng, cuộc sống tấp nập ở Sài gòn đã khiến tôi quên hẳn việc viết thư liên lạc với cô bạn đất thần kinh. Độ một tháng sau, tôi nhận được thư nàng, thăm hỏi và báo tin nàng… lại thi hỏng. Bố mẹ khuyên nàng hãy gác lại chuyện thi cử để đi tìm việc làm, và còn sửa soạn chuyện lấy chồng vào năm tới... Tôi trả lời ngay cho nàng, khuyên đừng buồn, và cứ lo đi tìm việc làm để khỏi trái ý cha mẹ... Còn chuyện tương lai của nàng, tôi không dám có ý kiến, dù cảm thấy xót xa trong lòng... 

* * *
Một thời gian sau đó, chốn phồn hoa đã khiến tâm hồn chàng thanh niên là tôi từ một tỉnh miền Trung đã di chuyển vào đô thành dần dần thay đổi. Trái tim tôi bỗng nhiên rung động với những cảm xúc mới, từ những tà áo màu thướt tha, những mái tóc uốn cong xinh đẹp, những thân hình quyến rũ... Tuy nhiên những lá thư của người bạn gái từ xứ Huế xa xôi vẫn đều đặn đến với tôi; và thỉnh thoảng tôi cũng hồi đáp thư nàng. Hai năm sau, một người bạn cũ từ Huế vào thấy tôi vẫn tiếp tục viết thư cho Ánh, bèn cười chế nhạo :

- Nàng đã lấy chồng rồi ông ơi ! Chớ có lãng mạn quá... Ðừng viết thư cho bà ấy nữa kẻo thằng chồng biết được, nó sẽ vào đây thanh toán ông đó nhé !
    
Tôi nghe lời người bạn, và từ đó ngưng viết cho nàng. Một hôm tôi nhận được thư của Ánh, dày hơn những thư khác, bên trong chứa đựng những lời ngọt ngào lẫn trách móc, kèm theo đóa ngọc lan mà năm xưa tôi đã hái tặng nàng. Ðóa hoa nay đã khô héo, nhưng chưa tàn lụi theo năm tháng, kể từ ngày tôi hái ở cổng nhà trước khi xa Huế, xa nàng...

Nhưng rồi, cuộc đời tôi di chuyển như cơn lốc. Tôi thi vào học trường Hành Chánh Sài Gòn. Ra trường tôi lập gia đình và một tuần sau vào thụ huấn quân trường Thủ Đức. Biệt phái về lại Bộ Nội Vụ để rồi được bổ nhiệm đi làm việc ở các địa phương. Từ quận Lộc Ninh, tôi về Định Quán, rồi Xuân Lộc… Trong cơn lốc của cuộc đời di chuyển như thế, những lá thư xưa của Ánh với đoá hoa ngày cũ cũng thất lạc, tan biến theo cát bụi thời gian.

Sau biến cố 1975, tôi đi tù “cải tạo” từ  Nam  di chuyển ra Bắc… Sau đó, tôi ra khỏi trại, trở về Sài Gòn sống thêm mười năm nữa… Và rồi, như những cánh chim di thê phải tìm đất sống còn, tôi làm đơn xin đi tỵ nạn và được nước Mỹ mở rộng vòng tay cưu mang. Với tôi, cuộc sống hoàn toàn thay đổi từ đây… Ngày trở về quê hương, trong một lần ra Huế, tôi đến thăm người bạn cũ. Lúc tôi chào từ giã, anh bạn cho biết Ánh vẫn ở nhà cũ của cha mẹ nàng năm xưa… Sau đó tôi thuê taxi để tìm đến nhà nàng… Người tài xế nghe nói địa chỉ của Ánh, nhìn tôi hỏi :

- Chắc sau “giải phóng”chú chưa về lại Huế ? Đâu còn đường Đinh Bộ Lĩnh nữa ! Mà chú nói muốn đến hồ Tịnh Tâm ? Nơi đó có gì đẹp để “tham quan”, hay chú tìm ai ?

Những câu hỏi của người tài xế trẻ có vẻ tò mò, nhưng cách nói của anh ta đầy vẻ quan tâm đến người khách phương xa… Tôi thành thật đáp :

- Tôi muốn đến thăm người bạn gái thuở thiếu thời. Có lẽ cũng đến hơn năm mươi năm tôi chưa gặp lại…

Anh lái xe nhìn khách đầy ngạc nhiên, thành thật “góp ý” :

- Theo cháu nghĩ, chú làm một công việc vô bổ, kết quả chỉ khiến chú đau buồn thôi. Nếu cháu chở chú đến đúng số nhà đó mà không có người bạn gái cũ, thì chú sẽ đau buồn ra về. Còn  nếu nhà có người, một bà tóc bạc bước ra nheo mắt nhìn chú, và chú nhận ra người bạn gái ngày xưa, thì chú cảm thấy đau lòng và thất vọng không ?

Anh ta chờ cho khách có vẻ “thấm” với những lời góp ý thẳng thắn và hợp lý đó, rồi tiếp lời :

- Thôi, chú cho địa chỉ nhà hay khách sạn để cháu chở chú về nơi đó bây giờ ! 

Bỗng dưng, lời nói của anh tài xế trẻ - có lẽ trẻ hơn thời gian tôi xa người bạn thuở học trò năm xưa - đã khiến lòng tôi nguội lạnh ! 

Tôi bước vào xe, ngã người trên băng ghế sau, im lặng và buồn bã. Tâm trạng của tôi lúc ấy cũng giống như chàng Từ Thức ngày xưa khi trở về trần, không còn tìm ra cảnh cũ người xưa! 

* * *
Huế ngày…
Thưa anh,                                                                                                                                
Đã lâu lắm, có lẽ cũng hơn năm mươi năm, tôi mới viết thơ này cho anh. Cũng do một tình cờ tôi mới biết địa chỉ của anh để gởi lá thư cuối cùng sau hơn nửa thế kỷ bặt tin ! 
Năm ngoái, nhân buổi họp mặt bạn học cũ, người bạn thân của anh đã cho tôi địa chỉ này. Anh ấy còn cho biết anh từng có ý định ghé thăm tôi trong một chuyến về du lịch Việt  Nam ! Một năm mong chờ, vô vọng. Một năm suy nghĩ, tủi thân. Và sau một năm dài đủ để cõi lòng lắng dịu, tôi mới can đảm viết cho anh.
Năm ấy, tôi thi hỏng, lòng nặng trĩu đau buồn. Nỗi buồn “thi không ăn ớt thế mà cay”, cọng thêm mối u sầu do chia cách tình bạn thân thiết thuở đầu đời… tất cả đã khiến tôi chán chường vô kể. Để rồi sau đó, vâng lời ba mẹ, tôi đi lấy chồng. Và cũng như Cô Lái Đò của nhà thơ Nguyễn Bính “Chẳng lẽ ôm cầm chờ đợi mãi / Cô đành bội ước với tình quân / Bỏ thuyền bỏ lái bỏ dòng sông…”. Tôi lấy chồng, nhưng vẫn về ở ngôi nhà cũ với ba me, để chồng khỏi bận tâm khi đi hành quân xa ! Cho nên dòng sông Hương êm đềm thuở ấy đã níu kéo tôi nơi chốn cố đô thâm u, suốt cả cuộc đời thanh xuân cũng như lúc tuổi đời xế bóng…
Đã năm mươi năm qua tôi vẫn sống vò võ nơi đây, kể từ khi anh bỏ Huế, không bao giờ trở lại thăm người bạn bạn cũ nơi đất thần kinh ! Rồi khi miền Nam thất thủ, người dân lũ lượt ra đi. Và cũng như họ, anh đã đến đất Mỹ, sống trong bầu không khí tự do như gió thoảng, như chim bay ! Và trong niềm hạnh phúc nơi thiên đàng hạ giới ấy, có bao giờ anh chạnh lòng nghĩ đến những cuộc sống hẩm hiu của người bạn cũ nơi quê nhà ?   


Tôi đọc hết lá thư của Ánh, người bạn gái thuở thiếu thời, thẫn thờ nhìn ra bầu trời qua cửa sổ phòng ngủ. Cơn gió mát từ biển thổi vào làm vơi đi những ưu tư vừa dấy lên trong lòng tôi. Hơn hai mươi năm sống nơi xứ người, tôi hầu như quên đi những khổ đau của chính cuộc đời mình trong quá khứ. Với cuộc sống ổn định hiện tại, tôi bỗng lãng quên bạn bè, đồng môn thân thiết ở quê nhà. Thỉnh thoảng tôi nhận được tin một vài người bạn bị bệnh trầm kha; hoặc có người đã ra đi về miền miên viễn xót xa ! Chúng tôi đón nhận, thăm hỏi, chia buồn với tang gia… Kỳ dư, tôi không biết gì về các bạn khác hiện đang sống trong cảnh nghèo khó hẩm hiu, đi làm thuê làm mướn cực nhọc… Có thể họ đang ở trong một thôn xóm keo cư ở miền Hậu Giang. Có thể họ đang sống vất vả trên một mảnh đất khô cằn sỏi đá ở Trung Việt. Đã lâu không ai biết tin tức gì về họ để có thể thăm viếng, giúp đỡ lúc họ túng quẫn ngặt nghèo! Bây giờ họ đang ở một góc rời nào đó trên quê hương.

Lá thư của Ánh đã đến với tôi thật bất ngờ. Nó như cánh chim không mệt mỏi, đã vượt qua nửa vòng trái đất, đánh thức trong tôi nỗi khắc khoải ưu tư… Trong buổi sáng sớm hôm nay, nghe bản nhạc tình cảm thiết tha của Ngô Thụy Miên, tôi chợt nhớ đến ánh mắt buồn ray rức của cô bạn năm nào, khi tôi từ biệt nàng để vào nơi phồn hoa đô hội đất Sài gòn năm ấy. Và trong lá thư vừa đến tôi mấy hôm trước đây, những lời trách móc của người bạn gái năm xưa phải chăng cũng giống như tâm trạng của tác giả Riêng Một Góc Trời mà tôi đã nghe được buổi sáng sớm hôm nay :  

 
Người vui bên ấy, xót xa nơi này, thương hình dáng ai 
Vòng tay tiếc nuối, bước chân âm thầm, nghe giọt nắng phai 
Đời như sương khói, mơ hồ, trong bóng tối 
Em đã xa xôi, tôi vẫn chơi vơi, riêng một góc trời…



Tam Bách ĐBT

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Sự thật về những người Việt bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị tại Pháp quốc

Như quý độc giả đã biết qua về hai bài báo: Bài thứ nhất của của ký giả Xuân Mai trên báo Áp- phê Paris số 4 tại Paris như sau:
“Ông Nguyễn Văn Tuyền, 59 tuổi đến định cư tại Pháp năm 1980. Với lá đơn thống thiết như sau: “Nếu tôi ở lại, nhà cầm quyền CSVN sẽ bắt giam, đánh đập và bỏ tù không có ngày ra. Vì lý do nhân đạo, tôi trân trọng thỉnh cầu nước Pháp, vui lòng chấp thuận cho tôi được tỵ nạn chính trị, sống tạm dung trên mảnh đất tự do nầy, và tôi chỉ trở về quê cũ khi nào quê hương tôi không còn chế độ độc tài Cộng Sản.

Nhưng ông Tuyền đã phản bội tư cách tỵ nạn của ông đến 7 lần, từ năm 1995 đến năm 2000. (Theo tài liệu của OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn và Vô Tổ quốc)

Ngày 27-6-2000, ông Tuyền và 544 Việt kiều Pháp bị OFPRA gởi thơ thông báo rút lại thẻ tỵ nạn, với lý do trở về quê cũ khi còn chế độ độc tài Cộng Sản. “Chiếu theo điều 1, khoản 2A của Hiệp Định Genève ngày 28-7-1951, chúng tôi thu hồi thẻ tỵ nạn. Đồng thời cũng trình lên Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ, kể từ nay, OFPRA không còn chịu trách nhiệm với ông, về tình trạng cư trú, xin việc làm, hưởng trợ cấp xã hội theo diện người tỵ nạn chính trị”.

Được biết, từ năm 1988 đến năm 2000, tổng số người Việt ở Pháp bị truất bỏ quyền tỵ nạn và quyền lợi, với con số là 22,417. Bài viết ghi như sau: “Chính phủ Việt Cộng qua các đại sứ từ Võ Văn Sung, Mai Văn Bộ, Trịnh Ngọc Thái đến Nguyễn Chiến Thắng đã coi người Việt Nam là thành phần cực kỳ phản động, cần phải triệt hạ, hoặc áp dụng chính sách gậy ông đập lưng ông. Đó là, dễ dãi trong việc cấp chiếu khán cho họ, để họ bị OFPRA cắt quyền tỵ nạn và trợ cấp xã hội.

Sau khi cấp chiếu khán, tòa đại sứ thông báo danh sách cho Bộ Nội vụ Pháp biết tên họ của những người vi phạm luật tỵ nạn. Một khi mất thẻ tỵ nạn, thì mất luôn thẻ thường trú (Carte de Séjour) nên không xin được việc làm.Trường hợp đó, muốn sống ở Pháp trên 3 năm, thì phải có Passport của chính phủ CSVN, để trở thành công dân Việt Cộng cho đến mãn kiếp.”
Cái thâm độc của VC là như thế!”.
Và bài thứ hai là của ông Phan Văn Song. Cả hai bài đã đưa lên Internet từ lâu. Xin trích lại từng đoạn như dưới đây:
“Chúng tôi xin phép quý độc giả trích nguyên văn bài viết của báo Ép-Phê Paris là tờ báo việt ngữ duy nhứt được phát không ở các thương hiệu và chợ Á đông ở Paris và nhở vậy được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt tại Paris và vùng lân cận. Dĩ nhiên với điện thoại, người Việt tỵ nạn phe ta sẽ thông báo cho bà con toàn xứ Pháp biết. Nhưng theo điều tra và hiểu biết của chúng tôi thì cho đến ngày hôm nay bản tin giựt gân nầy của báo Ép-phế hổng có Ép-phê tí nào. Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều, vì từ năm 2000 trở về nay, phe ta vào quốc tịch Pháp đông hơn.
3. Thẻ tạm trú, thẻ đi làm, thông hành

Thẻ tạm trú (carte de séjour temporaire) hạn định một năm, gia hạn ba lần, sau ba lần được thẻ thường trú hạn định ba năm (carte de résident), sau hai lần có thể xin carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt ! Nếu không phải Việt kiều, vì Việt kiều có thông hành (hộ chiếu Việt Cộng) đi về Việt Nam, dân tỵ nạn có một cái nhức đầu là làm sao dzìa Việt Nam chơi đây…”
Xin bỏ qua những từ ngữ do hai tác giả trên đã viết về những trường hợp bị tước quy chế tỵ nạn chính trị tại Pháp. Người viết chỉ nói về những chuyện thật 100% đã xảy ra đối với những người Việt, mà một thời họ đã được hưởng quy chế Tỵ nạn Chính trị, được cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – (Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạn)cấp những giấy tờ theo thứ tự thời gian, đúng như ông Phan văn Song đã viết:
“Thẻ tạm trú (carte de séjour temporaire) hạn định một năm, gia hạn ba lần, sau ba lần được thẻ thường trú hạn định ba năm (carte de résident), sau hai lần có thể xin carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt!”
Tuy nhiên, có một điều ông Phan Săn Song cũng như đa số người Việt tỵ nạn chính trị tại Pháp đã tưởng lầm rằng:
“carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn, thẻ này 10 năm xin lại một lần. Có thẻ nầy rồi, với quy chế nầy rồi, khỏi phải vô dân Tây làm gì cho mệt!”.
Sự thật không phải như vậy, vì “carte de résident permanente  đúng là cứ 10 năm xin lại một lần. Thế nhưng, carte de résident permanente, không phải là“vĩnh viễn”, vì có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào, khi người có thể ấy, vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị của nước Pháp.
Một điều nữa, những người đã được cấp “carte de résident permanente “ đều hưởng tất cả những quyền lợi như những người có quốc tịch Pháp. Nếu không có việc làm, hoặc lợi tức thấp, họ đều dễ dàng thuê nhà ở, chính phủ trả hai phần ba tiền nhà, còn họ chỉ trả một phần ba mà thôi.
Về an sinh xã hội, họ được bảo hiểm y tế của chính phủ, khi bị bệnh, tai nạn, đi Bác sĩ, kể cả các phòng mạch tư và Bệnh viện tư, họ đều được chính phủ trả hết một trăm phần trăm, từ tiền ăn ở trong bệnh viện đến tiền thuốc cho nhà thuốc Tây. Họ không phải trả một đồng bạc nào cả.
Trẻ con được cấp tiền nuôi dưỡng kể từ tháng thứ tư, lúc còn nằm trong bụng mẹ, cho tới lúc ra trường, nếu có sức học, thì chính phủ vẫn trợ cấp, để các sinh viên muốn học tới đâu cũng được, từ Đại học, cho tới khi lấy bằng Tiến sĩ…
Người lớn tuổi, già yếu, bệnh tật, dù không hề đi làm một ngày ở nước Pháp, nhưng họ vẫn được cấp cho mỗi tháng là 800 Euros (tám trăm Âu kim) là tiền già, hoặc tiền dành cho người tàn phế. Ngoài ra,  nếu họ không tự lo cho bản thân, thì Văn Phòng Xã Hội cho người tới tận nhà, để dọn dẹp, lau nhà, bỏ áo quần vào máy giặt, đem phơi, tắm rửa, thay  áo quần, nấu ăn, rửa chén bát, và có thể đút thức ăn tận miệng nữa.
Trở lại, với những trường hợp bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị tại Pháp.
Đúng là khi được cấp “carte de résident permanente”, thì cứ 10 năm xin lại một lần; nếu không vi phạm luật của nước Pháp.
Thế nhưng, tiếc rằng, đã có không ít người sau khi đã được cấp “carte de résident permanente “,  ”thẻ 10 năm”, thì đã trở về Việt Nam, Những người này họ đã bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị. Cách đây hơn 10, chúng tôi đã biết những trường hợp này, khi họ nhờ người thân của chúng tôi đưa đến cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride – (Cơ quan Bảo vệ Người Tỵ nạnđể làm thông dịch tiếng Pháp, để hỏi lý do bị thu hồi quy chế Tỵ nạn Chính trị, thì được cơ quan này trả lời:
“Vì ông/bà đã ký vào một lá thư xin từ chối quy chế Tỵ nạn Chính trị”.Khi hỏi lại người này, thì họ nói: “Tôi không biết tiếng Pháp, nên có ký nhưng không biết ký cái giấy gì”.
Và cơ quan OFPRA = Office Francais de Protection des Réfugiés et Apatride đã trả lời:
“Dù không biết tiếng Pháp, nhưng ông/bà đều biết, chính ông/bà đã tới Tòa Đại sứ Việt Nam để xin giấy tờ nhập cảnh vào Việt Nam, và đã du lịch Việt Nam, là ông/bà đã vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị của nước Pháp; bởi khi xin Tỵ nạn Chính trị, ông/bà đã tuyên thệ là nạn nhân của Cộng sản Việt Nam, và không trở về quê cũ khi chế độ Cộng sản vẫn còn, vì nếu về sẽ bị bắt bỏ tù. Ông/bà có thấy phía sau thẻ tỵ nạn có ghi là không được trở về quê cũ hay không?”
Rất nhiều những trường hợp bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị như trên, đã xảy ra từ lâu rồi, nhưng chính họ lại giấu diếm không cho người khác biết, mà theo người thông dịch là “họ muốn cho những người khác cũng bị như họ vậy”. (Đồng bệnh sẽ tương lân chăng?!)
Riêng tôi, khi biết những chuyện đã xảy ra, tôi đã khuyên những người Việt đừng trở về Việt Nam, nhưng chẳng ai tin, vì họ cứ nói: “mình đâu có đi thẳng từ Pháp về Việt Nam, mà đi qua nước khác, rồi mới vào Việt Nam, thì Pháp đâu có biết”, và mặc dù tôi đã giải thích, là đi bằng cách nào, qua bất cứ nước nào, thì họ cũng biết cả, nhưng bà con mình chẳng tin, nên họ cứ về Việt Nam, cho tới khi bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị, thì tất nhiên họ phải mất hết những quyền lợi mà họ đã được hưởng như trước kia. Họ phải xin giấy tạm trú từ một đến ba tháng, rồi cứ xin gia hạn như một người du lịch, nếu không, họ là người cứ trú bất hợp pháp, phải tự đi tìm việc làm đế sống, mà đi làm thì phải đóng thuế cho Pháp và cả cho Việt Nam Cộng sản nữa! Họ không được trợ cấp tiền bạc, chính phủ không trợ giúp tiền thuê nhà, nên chủ nhà phải đuổi họ, vì họ không trả nổi tiền nhà; họ trở thành người vô gia cư, phải trả tiền cho Bác sĩ và nhà thuốc Tây…
Trên đây, là rất nhiều những trường hợp đã xảy ra khoảng hơn mười năm về trước mà tôi được biết.
Còn hôm nay, tôi muốn kể ra hai trường hợp mới nhất vừa xảy ra như sau:
Trường hợp thứ nhất:
Một cặp vợ chồng vượt biển tới Pháp cùng thời gian với tôi. Sau này,  bà vợ bị tai biến mạch máu não, bị liệt nhẹ một chân; chính phủ cho ông được chăm sóc cho vợ có lãnh lương tối thiểu, bà vợ được hưởng tiền trợ cấp dành cho một người bị tàn phế  là 800 Euros (tám trăm Âu kim). Như vậy, với số triền trợ cấp cho hai vợ chồng, thì hai người sống thảnh thơi, đâu có thiếu thốn, tiền nhà chỉ trả một phần ba, nhưng rồi vì thảnh thơi quá, nên hai người đã dành tiền lại, để về Việt Nam.
Thế là, mọi chuyện đã ập đến. Sau khi về Việt Nam trở lại Pháp, thì Vợ chồng của ông nhận được thư thông báo tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị, nhưng vì lớn tuổi, bà vợ bị liệt nhẹ một chân, nên không thể tìm việc làm, để xin thẻ tạm trú được. Cuối cùng hai vợ chồng phải trở về Việt Nam, nhiều đồng hương cũng thấy tiếc cho họ, vì nếu họ không về Việt Nam, thì dù họ không có quốc tịch Pháp, nhưng với tiền trợ cấp của hai người, thì họ vẫn sống một cuộc sống đầy đủ như những người có quốc tịch Pháp.
Trường hợp thứ hai:
Trường hợp của người này, có lẽ ông ta khổ hơn, vì bất ngờ. Cũng có thể vì hiện nay trong thời gian có dòng người quá đông đảo đang tìm cách nhập cư vào Âu Châu? Đó là trường hợp của Nguyễn Văn Bảy, ông ta cũng đến Pháp cùng thời gian với tôi, gần 30 năm rồi, nhưng không có quốc tịch Pháp giống như hai vợ chồng người kia. Cũng xin nói thêm, hai ông này không xin vào quốc tịch Pháp được, vì khi đi phỏng vấn để xin vào quốc tịch Pháp, họ không thể trả lời những câu hỏi của người phỏng vấn, vì ngoài những câu hỏi, người phỏng vấn còn bảo người Tỵ nạn phải viết theo những câu họ đọc, và đọc những câu họ viết bằng tiếng Pháp. Về điều này, rất khó khăn, nếu không có căn bản tiếng Việt, thì khó có thể đọc và viết tiếng Pháp, vì tiếng Pháp khó hơn tiếng Anh rất nhiều. Trừ những người, dù giỏi tiếng Pháp, nhưng  không muốn nhập tịch Pháp quốc.
Trở lại với trường họp mới nhất, đã xảy ra vào cuối tháng 8 năm 2015:
Ông Nguyễn Văn Bảy, khi đi về Việt Nam, mọi chuyện bình thường; nhưng khi trở về Pháp, thì chỉ mới xuống máy bay tại Phi trường Charles-de-Gaulle, Paris, ông ta liền bị Cảnh sát bắt giữ ngay; đồng thời thu hồi tất cả những giấy tờ do chính phủ Pháp đã cấp cho ông, trong đó, có “carte de résident permanente” (thẻ này có thời hạn 10 năm. Sau đó, được gia hạn cho tới chết) nếu không vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị.
Theo người thông dịch tiếng Pháp cho ông  Nguyễn Văn Bảy, kể với tôi, thì khi ông bị bắt và bị thu hồi tất cả giấy tờ, Cảnh sát Pháp đã nói với ông Bảy:
“Ông thấy đó, hiện nay, đang có rất nhiều người hàng ngày đang đổ về Âu Châu, để xin tỵ nạn, nhưng chính phủ Pháp không dễ dàng chấp nhận cho họ tỵ nạn; còn ông đã được cấp quy chế Tỵ nạn Chính trị rồi, mà ông còn đi về Việt Nam, nơi mà trước kia ông từng nói là ông không chấp nhận chế độ Cộng sản Việt Nam và không bao giờ trở về khi còn chế độ cộng sản, vì trở về ông sẽ bị bắt bỏ tù. Nhưng hôm nay, ông đã trở về Việt Nam, nên chúng tôi phải thu hồi tất cả giấy tờ của ông. Đó là Luật của nước Pháp, đối với những người vi phạm Luật Tỵ nạn Chính trị”
Vì vậy, hiện nay, ông ta phải đi ở nhờ nhiều người, để đi làm tại các vườn nho, hái trái cây, dọn vườn nhà… mà người Việt có quen biết với ông ta, thường hay nói: “cha đó bây giờ chả đang lang thang, nên ít khi mình thấy chả”.
Thật ra, những người Việt ở gần, có quen biết với ông, họ đều thấy tiếc cho ông, vì đang hưởng quy chế Tỵ nạn Chính trị, mà phải mất hết tất cả khi mới vừa đặt chân xuống Phi trường Charles-de-Gaulle. Giờ đây, sau gần 30 năm được hưởng tất cả những quyền lợi của quy chế Tỵ nạn chính trị. Như thế, mà chỉ vì thiếu sự hiểu biết, (mà cũng vì muốn du hí, thưởng thức những “chùm khế ngọt”), nên ông đã trở thành người cư trú bất hợp pháp, phải sống vô gia cư, lang thang trong mùa Đông sắp tới và nhiều năm kế tiếp nữa!
Tạm kết:
Tóm lại, tôi muốn nói rằng:
Những điều do ký giả Xuân Mai đã viết trên báo Áp- phê Paris số 4, là những điều có thật đã xảy ra, mà tôi đã biết cách đây hơn mười năm.
Những điều tác giả Phan Văn Song viết cũng có đúng, chỉ riêng chuyện “ carte de résident permanente – thẻ cư ngụ vĩnh viễn…” là chưa hoàn toàn đúng, vì khi vi phạm Luật, thì sẽ bị thu hồi, chứ không phải là “vĩnh viễn”.
Tác giả Phan Văn Song cũng viết những điều rất tai hại:
“…đến ngày hôm nay bản tin giựt gân nầy của báo Ép-phế hổng có Ép-phê tí nào. Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều…”
Tôi xin trả lời, ông Phan Văn Song viết đúng là “Người Việt tỵ nạn vẫn về Việt Nam đều đều…”. Chính vì vậy, nên họ đã bị tước bỏ quy chế Tỵ nạn Chính trị cũng “đều đều”, và có rất nhiều người, đã bị “đếu đều” như thế, nhưng họ “đều đều” giấu diếm, để cho những người khác cũng bị “đều đều” như họ hết.
Cuối cùng, tôi muốn nói với ông Phan Văn Song:
Ông đừng nên viết như vậy nữa, để cho những ai chưa về Việt Nam họ phải dừng lại ý nghĩ đó, hầu tránh được những chuyện đáng tiếc đã xảy ra như trường hợp mới nhất của ông Nguyễn Văn Bảy đã bị thu hồi tất cả giấy tờ ngay khi vừa đặt chân xuống phi trường Charles-de-Gaulle, Paris, vào cuối tháng 8 năm 2015 vừa qua. Vì thế, hiện giờ, ông ta là người cư trú bất hợp pháp, đang lang thang đâu đó trên những vườn nho, hay tìm những nơi để làm vườn, không nhà, không nơi nương thân; mà ông ta không lường trước được, vì chỉ mới trước tháng 8 năm 2015, ông còn có nhà cửa, có tất cả.
Người cầm bút, cần phải viết thật, nói thật, để cho đồng bào của mình, vì thiếu sự hiểu biết, họ không phải đi vào con đường vi phạm Luật, để rồi đánh mất cả tương lai của cả cuộc đời họ; Mặc dù, họ là những người đáng trách, vì đã trở về để “du lịch”, là để tô son điểm phấn cho chế độ Cộng sản Việt Nam!
Paris, ngày 06/10/2015
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2015

Nhân vật “đối kháng“ truy tố tội ác cộng sản

 
Bài viết này trình bày những suy tư cá nhân về trường hợp các nhân vật được xem hay tự nhận là “đối kháng“ do Hoa Kỳ cấp giấy nhập cảnh nên đã sang Mỹ nói chung. Nói riêng thì nó chú trọng vào khía cạnh các nhân vật “đối kháng“ dự kiến tiến hành thủ tục pháp lý nhằm truy tố các tội ác của cộng sản trước nền công lý nhân loại.
 
Khi người Việt Nam được nước ngoài thu nhận
 
Sau ngày 30.04.75 một số lớn đồng bào chúng ta có cơ may được nhiều quốc gia thuộc “thế giới tự do“ thu nhận. Rất nhiều người nghĩ rằng phen này mình sẽ đem chuông đi đấm nước người. Các chuyên viên kinh tế tài chánh, các kỹ thuật gia v.v..thường nuôi mộng sẽ có dịp thi thố tài năng trong xã hội mới nơi đất khách. Tôi quen một ông giáo sư đại học kinh tế. Trong một buổi hội thảo, ông lớn tiếng tuyên bố sẽ dạy cho người Đức làm kinh tế. Một ông giáo sư dạy Đức ngữ ở cấp trung học thời Việt Nam Cộng Hoà chuẩn bị tâm trạng để sang Đức dạy tiếng Đức. Ngay một bà sinh sống bằng nghề tiểu thương cũng lạc quan bảo rằng ở Việt Nam mà mình còn buôn bán được thì sang Đức mình sẽ kinh doanh qui mô. Vân vân. Tất cả những trường hợp tôi vừa liệt kê đều tỏ ra hết sức tự tin khi minh hoạ khả năng thi thố tài năng nơi quê người để rồi sau đó họ sống rất thoải mái trên vùng đất lạ nhờ trợ cấp xã hội. Cho nên nếu những nhân vật chính trị “đối kháng“ được Mỹ nhân danh điều được gọi là “nhân quyền“ mang sang nước họ trong thời gian gần đây có lớn tiếng tuyên bố hơi hơi đại ngôn thì đó là điều rất hợp thế thái nhân tình.
 
Khi chư vị “đối kháng“ tuyên bố vào thuở ban đầu
 
Tất cả quí Ông quí Bà sang Mỹ theo tư cách “trục xuất“(?) hay không trục xuất đều đồng thanh khẳng định là mình sẽ tiếp tục đấu tranh. Định luật này không có ngoại lệ. Chẳng có ai khi mới chân ướt chân ráo ra khỏi phi cơ mà lại lên tiếng công khai bảo rằng mình sang Mỹ là để sống đời hưu trí hay ít ra thì cũng để sống cảnh an thân. Cư xử như thế thật đáng hoan nghênh. Nhưng ý chí quang phục quê hương dần dà nhạt nhoà đi cùng với cuộc sống kéo dài trên đất lạ và kết quả là những thành phần tạm xem là “đối kháng“ rốt cuộc cũng chỉ sử dụng những biện pháp chống cộng giống y như người tỵ nạn; thậm chí còn thua người tỵ nạn, ví dụ họ không hề hay rất ít tham gia các vụ biểu tình chống đối những lãnh tụ cộng sản công du ngoại quốc. Ngoài ra do chịu ảnh hưởng quá nặng của chính sách tuyên truyền nhồi sọ, họ dễ có những phát biểu, những nhận thức không đúng chân lý lịch sử; và tình trạng này hạn chế không ít tác dụng chống cộng của họ.
 
Đáng nói hơn là những dự tính riêng tư lúc ban sơ của từng người. Không muốn bài viết quá dài, tôi chỉ xin đan cử trường hợp hai Ông Bà Nguyễn Văn Hải và Tạ phong Tần. Ông Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vừa mới qua được Mỹ là đã tuyên bố sẽ canh tân đường lối thông tin trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài và sẽ kết hợp truyền thông giữa quốc nội và hải ngoại. (Tôi chỉ ghi lại nội dung chính, tôi không chủ tâm phải ghi nguyên văn lời phát biểu). Cá nhân tôi chờ mãi vẫn chưa thấy kết quả cụ thể của đường lối này. Ngoài ra, Ông Nguyễn Văn Hải còn cho biết sẽ kiện cộng sản trước các toà án quốc tế. Tôi rất vui khi nghe tin này, dẫu biết rằng nói và làm khác nhau rất rất rất xa. Thế rồi mấy hôm nay niềm vui tưởng đã tắt lịm bỗng nhen nhúm trở lại khi nghe lời tuyên bố của Bà Tạ Phong Tần. Lời tuyên bố của Bà mạnh mẽ hơn so với lời tuyên bố trước đây của Ông Nguyễn Văn Hải. Nhiều lần, Bà Tạ Phong Tần dùng tính từ quen thuộc của ngôn từ cộng sản, tính từ “hoành tráng“. Nói chung, Bà sẽ kiện cộng sản trước các toà quốc tế một cách “hoành tráng“ vì Bà mang được sang Mỹ đầy đủ hồ sơ án lệ. Khác và cũng hơn Ông Nguyễn Văn Hải, Bà Tạ Phong Tần tỏ ra rất tự tin khi trình bày tâm nguyện bản thân.
 
Truy tố tội ác Việt cộng : hết phe quốc gia...
 
Nhiều lần tôi từng nhận định rằng chỉ có biện pháp truy tố tội ác Việt cộng trước các pháp đình quốc tế mới là một biện pháp tấn công, chủ động, xung kích nhắm vào phía địch; còn tất cả các biện pháp khác – biểu tình tuần hành, hội thảo hội luận, dựng lại cờ vàng, đặt tên Saigon Nhỏ, sáng tác chính luận v.v..– đều chỉ là những biện pháp thụ động, bị động, tự vệ nhằm giữ đất giữ người. Cho nên cùng với một vài đồng bào và tổ chức khác, cá nhân tôi đã tìm hiểu và đệ đơn truy tố tội ác giặc cộng, nhưng chúng tôi, cho đến nay, đã không đạt được thành quả nào cả. Xin sơ lược kể ra sau đây : Luật sư Nguyễn Thành ở Florida, Hoa Kỳ; Thiếu tá Liên Thành ở California, Hoa Kỳ; Ông Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc ở Bern, Thụy Sĩ. Nếu kể cả bản thân tôi thì đã có bốn công dân gồm hai công dân Hoa Kỳ, một công dân Thụy Sĩ và một công dân Đức quốc lập thủ tục truy tố tội ác giặc cộng trước các cơ quan bảo vệ công lý quốc tế. Chúng tôi sử dụng tố quyền của những nạn nhân trực tiếp của chính quyền cộng sản; nói cách khác, chúng tôi tố cáo các trọng tội hình sự của cộng sản trước nền công lý nhân loại với tư cách là chứng nhân hay hội đoàn. Nhưng không có toà án quốc tế nào chịu chấp đơn khởi tố của chúng tôi vì những tội danh do chúng tôi nêu ra đều đã mất thời hiệu. (Tôi chỉ nêu các trường hợp tố tụng đứng đắn, đàng hoàng).
 
...đến người cộng sản
 
Thoạt nghe nhị vị Nguyễn Văn Hải-Tạ Phong Tần cho biết sẽ kiện Việt cộng, tôi đã cảm thấy ngỡ ngàng. Cùng chung hoàn cảnh với hai vị, cùng bị cộng sản câu thúc thân thể một cách phi pháp – theo lời tố cáo của cả ba người – còn có luật sư Cù Huy Hà Vũ. Hơn nữa, Bà Cù Huy Hà Vũ cũng là luật sư. Tại sao tiến hành một công việc thuộc phạm vi luật pháp mà lại không do hai chuyên gia về luật, nạn nhân trực tiếp của lạm quyền tư pháp, chủ xướng và chủ trì?
 
Toà án quốc tế có rất nhiều nhưng theo sự hiểu biết của cá nhân tôi thì chỉ có hai cơ cấu thích hợp với việc chúng ta theo đuổi là International Court of Justice (ICJ) thiết lập năm 1945 và International Criminal Court (ICC) thiết lập năm 2002. Nhưng ICJ chỉ thụ lý những vụ tranh chấp (general disputes) do các quốc gia khởi tố, hay nói cách khác, các cá nhân không được phép nộp đơn kiện cáo tại ICJ. ICC nhận đơn truy tố về những trọng tội quốc tế thuộc ba lĩnh vực diệt chủng, tội ác chống nhân loại và tội ác chiến tranh (international crimes of genocide, crimes against humanity, and war crimes). Thuộc loại hình crimes against humanity có imprisonnement or other severe deprivation of physical liberty và outrages upon personal dignity [bỏ tù hay câu thúc thân thể trầm trọng (chẳng hạn “tập trung học tập cải tạo“ đối với “ngụy quân ngụy quyền“) và xúc phạm nhân phẩm]. Hai nhân vật “đối kháng“ Nguyễn Văn Hải-Tạ Phong Tần có thể tự xem là đối tượng của hình thức tội phạm hình sự này vì cả hai đã bị cộng sản giam cầm và ngược đãi. Như thế, đối với ICC và trên nguyên tắc, họ có tố quyền. Nhưng có tố quyền là một chuyện, truy tố được hay không là chuyện hoàn toàn khác.
 
Hai mặt của một vấn đề
 
Công pháp quốc tế sẵn sàng tạo cơ hội cho nạn nhân các chế độ tàn bạo sát nhân giữ một vai trò tích cực, chủ động, trung tâm, trọng yếu trong tiến trình truy tố tội ác của những chế độ liên hệ. Nạn nhân không phải chỉ giữ vai trò nhân chứng mà còn có quyền yêu cầu tiến hành điều tra tội ác để rồi cùng tham gia tiến trình truy tố và đòi hỏi bồi thường. Nhiều quốc gia văn minh dân chủ đã cùng đồng loạt ban bố thủ tục cụ thể nhằm tiến hành truy tố và kết tội những tên sát thủ đồng thời bồi hoàn thiệt hại tinh thần và vật chất cho nạn nhân oan ức. Nhưng đó là lý thuyết.
 
Khi thực hành thì khác. Như đã trình bày, hai Ông Bà Nguyễn Văn Hải-Tạ Phong Tần chỉ có thể truy tố tội ác cộng sản trước ICC. (Thật ra còn có European Court of Human Rights hoạt động từ năm 1959 lận và chuyên xử các vụ vi phạm nhân quyền nhưng nó chỉ thụ lý các án lệ liên quan đến công dân Liên Âu. Egon Krenz, cựu Bí thư Đảng Cộng sản Đông Đức, đã nộp đơn kiện tại pháp đình này vì cho là mình bị luật pháp Đức tuyên án oan ức.) Vì là một international court nên dẫu nhị vị là công dân Hoa Kỳ (hay công dân Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), nhị vị vẫn được phép nộp đơn truy sách. Tuy nhiên, hoạt động của ICC vốn đặt cơ sở trên văn kiện mệnh danh là Pháp chế La mã (Rome Statute) mà quốc gia Việt nam cộng sản lại không chịu ký tên cũng như không chịu phê chuẩn văn kiện lập pháp này. (Đã có 122 quốc gia ký tên rồi phê chuẩn; có quốc gia đã ký tên nhưng chưa phê chuẩn như Do Thái, Thái Lan, Hoa Kỳ; 43 quốc gia không ký tên, không phê chuẩn trong số có Trung Cộng, Ấn Độ, Lào, Bắc Hàn, Việt Nam).
 
Dẫu sao đi nữa, Việt cộng không công nhận thẩm quyền của ICC thì chúng sẽ không chịu trách nhiệm hình sự khi bị kết án; nhưng nếu hai nguyên đơn Nguyễn Văn Hải-Tạ Phong Tần đạt được một kết quả nào đó trước Toà Hình sự Quốc tế International Criminal Court ICC thì cũng ngoạn mục lắm rồi. Cho nên tất cả vấn đề là hai nguyên đơn họ Nguyễn họ Tạ phải chứng minh rằng mình là nạn nhân của tội ác chống nhân loại, crimes against humanity. Lợi thế của hai nguyên đơn : tội ác của giặc đối với hai người chưa mất thời hiệu.
 
Cho đến bây giờ, phe quốc gia không gặt hái được thành công khi truy tố tội ác giặc cộng chỉ vì : a) thảm sát Mậu Thân Huế không mất thời hiệu nếu được nền công lý nhân loại công nhận là genocide, là tội ác diệt chủng nhưng bên nguyên, cho đến nay, đã không làm được việc chứng minh này; b) các tội ác khác [giam cầm không xét xử (học tập cải tạo) chẳng hạn] đã mất thời hiệu vì xảy ra từ 1975; c) vả lại Toà Hình sự Quốc tế được thiết lập từ năm 2002 và chỉ thụ lý những án lệ xảy ra sau niên đại này.
 
Người có gốc nguồn từ phía quốc gia đã không thành công. Giờ đến lượt người xuất thân từ phía cộng sản hành động. Nếu hành động đạt được một chút kết quả nào đó thì những nhân vật “đối kháng“ đáng được xem là hữu ích phần nào. Nếu, nếu,nếu...
24.09.2015
Trần Văn Tích

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Gởi tiền về Việt Nam.

CLAREMONT, California (NV) – Giáo sư Đại Học Pomona, Thái Cẩm Hưng, hoàn tất công trình nghiên cứu về một đề tài ai ai trong chúng ta cũng đã, đang và sẽ làm, nhưng không hề hiểu biết chi tiết về việc ấy: Gởi tiền về Việt Nam.

Cuốn sách có tựa đề 'Insufficient Funds,' tạm dịch là “Không Đủ Tiền.”


 
alt
Cuốn sách mới của Giáo Sư Thái Cẩm Hưng.(Hình do ông Thái Cẩm Hưng cung cấp)

“Không đủ tiền” đã lập tức nhận được giải thưởng Sách Hay Nhất Năm 2015 về Á Châu của Hội Xã Hội Học Hoa Kỳ.

Giáo sư Hưng trả lời nhật báo Người Việt: “Tựa này là do một Việt kiều ở Virginia gặp tôi tại Việt Nam đề nghị.”

“Anh ta kể một hôm ra ATM rút tiền nhưng không được, chỉ thấy biên nhận có dòng chữ: “INSUFFICIENT FUNDS:  SORRY YOU CANNOT WITHDRAW MONEY AT THIS TIME. (Không đủ tiền: Xin cáo lỗi, quí vị không thể rút tiền bây giờ).”
Các nhà phê bình gọi đây là một “cuộc nghiên cứu thành công rực rỡ mang tính bước ngoặt,” một tường thuật về tài chánh của người di dân, một “đóng góp lớn lao cho sự hiểu biết của chúng ta về sinh hoạt kiều hối, theo thông cáo báo chí của Đại Học Pomona.

“Tôi nảy ý định viết cuốn sách này là vì tôi nhìn thấy sự tiêu xài gần như vô độ của Việt kiều khi về nước,” giáo sư Hưng nói.

alt
Giáo Sư Thái Cẩm Hưng trong một buổi thuyết Giảng.  (Hình: Pomona.edu)


“Cho nên tôi muốn tìm hiểu để coi có nguyên nhân gì khiến họ làm như vậy, nguyên nhân sâu xa hơn là khoe khoang, “lấy le””.

Cũng là người Việt di cư, vượt biên đến Mỹ đầu thập niên 1980, nghiên cứu này có ý nghĩa sâu xa cho chính bản thân tác giả.

“Lớn lên trong hoàn cảnh nghèo khó ở tiểu bang Mississippi, tôi từng chứng kiến cảnh cha mẹ tôi gởi tiền về Việt Nam để rồi người nhà trong nước lâm vào cảnh phá sản, mất cả chì lẫn chài,” giáo sư Hưng thuật chuyện.

Một trong những điểm đáng chú ý, ông nhận định rằng rất nhiều mối quan hệ gia đình của người Việt đã bị “tài chánh hóa,” nghĩa là nền tảng tình cảm gia đình được xây dựng dựa trên tiền bạc. 

Gởi tiền về cho thân nhân ở Việt Nam là cách biểu lộ tình thương.

Rất đông gia đình gốc Việt ở nước ngoài gởi tiền cho thân nhân với giá quá đắt, bất chấp sự bấp bênh tài chánh của họ ở ngay tại đây.

Những gia đình này làm chỉ vừa đủ "trên mức nghèo," theo ấn định của chính phủ là $23,000/năm cho gia đình bốn người, hoặc $14,000/năm cho một người.

Thế mà, vì gởi tiền về Việt Nam, họ phải chịu sống cảnh nghèo nàn, túng thiếu. Họ tự đặt mình vào một tầng lớp mà các nhà xã hội học gọi là “the missing class,” một giai cấp bị lãng quên, trong các cuộc thảo luận về an sinh xã hôi hoặc cơ hội tìm việc làm, giáo sư Hưng ghi nhận.

“Họ tiện tặn, không dám tiêu xài để gởi tiền trên mức họ làm ra cho nên trong khi họ có thể trợ giúp cho thân nhân ở Việt Nam có được cuộc sống thoải mái, bao nhiêu người đã mang công, mắc nợ.”

“Đây là một hy sinh lớn.”

“Khổ nỗi, rất hiếm người nhận tiền ở Viêt Nam thấu hiểu được sự hy sinh này bởi vì chả bao giờ người gởi lại nói thật hoàn cảnh tài chính của mình, của những người đã sang đến Mỹ.”

“Họ muốn để người nhà nghĩ rằng họ đã đạt được “giấc mơ Mỹ” và đón nhận sự nể phục và tôn kính của thân nhân.”

Ở chương Sáu, sách bàn về chuyên gởi tiền lâu dần thành một thói quen.

“Đa số, khi đã gởi tiền vài lần thì thân nhân bắt đầu có hy vọng, trông mong, nên người gởi buộc phải tiếp tục gởi vì không muốn người nhà thất vọng.”

Chương Bảy bàn về tình tạng những đòi hỏi của người trong nước bị cám dỗ bởi những nhu cầu vật chất phải xài đồ ngoại một cách thiếu thực tế nên tạo áp lực thân nhân nước ngoài.

Chương Chín đề cập đến những câu chuyện thương tâm: Một ông và một bà coi việc gởi tiền như một bổn phận, vì gởi quá nhiều tiền trong thời gian dài nên lâm vào hoàn cảnh phá sản. 

Xấu hổ và mặc cảm với thân nhân đã khiến họ không dám liên lạc nữa; họ cắt đứt với gia đình. Trong lúc ấy, gia đình ở Việt Nam không hiểu lý do gì.

“Ở góc nhìn khác, khi về nước, những Việt kiều này thường tiêu tiền phung phí khiến thân nhân không thể ngờ rằng Việt kiều người nhà của mình lại có thể lâm vào cảnh túng thiếu ở nước ngoài được.”

alt
Tác giả Thái Cẩm Hưng.  (Hình do ông Thái Cẩm Hưng cung cấp)


“Tôi xin nhấn mạnh, cuốn sách này hoàn toàn không phê bình hay châm biếm những người gởi tiền được đề cập mà là để chúng ta cảm thông cho họ, cho hoàn cảnh của họ.”
“Tôi có hai cảm giác rất trái ngược khi viết cuốn 'Tiền không đủ," một là buồn và một là thích thú. Buồn cho những cảnh sống quá thê thảm và tạm bợ, còn thích thú là vì những tình thương sâu đậm qua sự hy sinh cho thân nhân.”

Giáo sư Hưng nêu rằng, người di cư có những lợi điểm hơn những sắc dân khác như dân da trắng hoặc da đen nghèo vì họ có chỗ để cho và tiêu xài.

Người Việt di cư tìm được giá trị và nhân phẩm mà họ không thể có được nếu không có quê hương nghèo nàn để quay lại.”

“Tôi cảm động vô cùng khi nghe về quyết định của một số người. Có người cố tình lấy hết tiền trong thẻ tín dụng để gởi về Việt Nam bởi vì họ có được sự hài lòng.”

Nhân phẩm, cảm giác thương yêu gia đình, cảm giác thành đạt là những gì chúng ta tìm được khi giúp đỡ thân nhân ở Việt Nam.

Theo thống kê của Ngân Hàng Thế Giới, trong năm 2015, ước tính số tiền Việt kiều ở Mỹ gởi về Việt Nam là $6.8 tỷ trong tổng số $12 tỷ từ các nước khác.
Năm 2008, giáo sư Thái Cẩm Hưng cho phát hành cuốn sách khác mang tựa đề “For Better or for Worse: Vietnamese International Marriages in the New Global Economy,” tạm dịch: “Tốt Hơn hay Tệ Hơn: Những Cuộc Hôn Nhân Quốc Tế của Người Việt Trong Bối Cảnh Kinh Tế Toàn Cầu Mới."

Phụ lục:

Ước Tính Tiền Gởi Về Việt Nam Năm 2015: $12 tỷ

American Samoa: $1 triệu
Úc: $1 tỷ
Áo: $15 triệu
Azerbaijan: $1 triệu
Bangladesh: $80 triệu
Belarus: $1 triệu
Bỉ: $10 triệu
Bulgaria: $2 triệu
Cambodia: $111 triệu
Canada: $843 triệu
Trung Quốc: $124 triệu
Cộng Hòa Czech: $209 triệu
Đan Mạch: $47 triệu
Phần Lan: $25 triệu
Pháp: $53 triệu
Đức: $647 triệu
Guam: $2 triệu
Hong Kong: $53 triệu
Hungary: $14 triệu
Iceland: $3 triệu
Ấn Độ: $2 triệu
Ireland: $7 triệu
Italy: $21 triệu
Nhật: $167 triệu
Bắc Hàn: $2 triệu
Nam Hàn: $522 triệu
Lào: $34 triệu
Malaysia: $109 triệu
Moldova: $1 triệu
Mông Cổ: $1 triệu
Hà Lan: $58 triệu
Tân Caledonia: $4 triệu
Tân Tây Lan: $26 triệu
Na Uy: $72 triệu
Philippines: $1 triệu
Ba Lan: $12 triệu
Nga: $52 triệu
Cộng Hòa Slovak: $6 triệu
Tây Ban Nha: $6 triệu
Thụy Điển: $74 triệu
Thụy Sĩ: $58 triệu
Thái Lan: $62 triệu
Timor-Leste: $1 triệu
Ukraine: $11 triệu
Anh: $124 triệu
Mỹ: $6.8 tỷ
Uzbekistan: $2 triệu